Nghiên cứu về dụng cụ tử cung TCU 380A đặt ngay sau sinh tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định

Nghiên cứu tiến sĩ về Y học: dụng cụ tử cung tcu 380a đặt ngay sau sinh tại bệnh viện nhân d xây dựng mô hình lý thuyết, chứng minh bằng thực nghiệm

Chuyên ngành

Sản phụ khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2022

185
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục 1 Bản thông tin dành cho đối tượng

Phụ lục 2 Phiếu đồng thuận tham gia nghiên cứu

Phụ lục 3 Bảng theo dõi tại nhà

Phụ lục 4 Bảng kiểm đủ điều kiện tham gia trước khi đặt dụng cụ tử cung

Phụ lục 5 Bảng phỏng vấn

Phụ lục 6 Giấy chứng nhận hội đồng đạo đức, bệnh viện Nhân dân Gia Định

Phụ lục 7 Giấp chấp thuận của hội đồng Đạo đức, Đại học Y Dược, Tp. HCM

Phụ lục 8 Kỹ thuật đặt dụng cụ tử cung TCu 380A ngay sau sinh

Phụ lục 9 Phác đồ đặt dụng cụ tránh thai trong tử cung của bệnh viện Nhân dân Gia Định

Phụ lục 10 Hình ảnh tư liệu minh họa

Phụ lục 11 Danh sách người tham gia

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ THUẬT NGỮ ANH VIỆT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Tóm tắt

I. Giới thiệu và bối cảnh nghiên cứu

Luận án tiến sĩ y học này tập trung vào việc đánh giá tỉ lệ sai vị trí của dụng cụ tử cung TCU 380A khi được đặt ngay sau sinh tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định. Nghiên cứu này nằm trong bối cảnh kế hoạch hóa gia đìnhsức khỏe sinh sản, đặc biệt là việc sử dụng các phương pháp tránh thai hiệu quả sau sinh. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), việc tránh thai trong thời gian hậu sản là cần thiết để ngăn ngừa thai kỳ ngoài ý muốn và kéo dài khoảng cách giữa các lần mang thai. Tuy nhiên, tỉ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại như dụng cụ tử cung vẫn còn thấp, đặc biệt là ở các nước đang phát triển như Việt Nam.

1.1. Tình hình dân số và kế hoạch hóa gia đình tại Việt Nam

Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ tăng dân số nhanh, với dân số ước tính đạt 92.315 người vào năm 2016. Để kiểm soát tốc độ tăng dân số, kế hoạch hóa gia đình đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, tỉ lệ thai kỳ ngoài ý muốn vẫn còn cao, đặc biệt là ở những phụ nữ không sử dụng biện pháp tránh thai. Nghiên cứu chỉ ra rằng 79,6% phụ nữ phá thai liên tiếp hoặc mang thai ngoài ý muốn là do không áp dụng biện pháp tránh thai phù hợp. Điều này nhấn mạnh sự cần thiết của việc tăng cường giáo dục và tiếp cận các phương pháp tránh thai hiện đại.

1.2. Tình hình sử dụng biện pháp tránh thai sau sinh

Khoảng thời gian sau sinh là giai đoạn quan trọng để áp dụng các biện pháp tránh thai, đặc biệt là dụng cụ tử cung TCU 380A. Tuy nhiên, tỉ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại trong thời gian này vẫn còn thấp. Nghiên cứu cho thấy chỉ 12,8% phụ nữ sử dụng biện pháp tránh thai có thời gian dài hạn sau sinh. Điều này dẫn đến tỉ lệ cao các thai kỳ ngoài ý muốnkhoảng cách ngắn giữa hai thai kỳ, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của cả mẹ và con.

II. Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm xác định tỉ lệ sai vị trí của dụng cụ tử cung TCU 380A khi được đặt ngay sau sinh tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định. Các yếu tố liên quan đến tỉ lệ sai vị trí cũng được phân tích, bao gồm tuổi, số lần sinh, phương thức sinh và độ mở cổ tử cung. Ngoài ra, nghiên cứu cũng khảo sát tỉ lệ tai biến sau khi đặt dụng cụ tử cung, như xuyên thủng tử cung, chìm trong cơ tử cung, nhiễm trùng tử cung và băng huyết sau sinh.

2.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp quan sát, với đối tượng là các phụ nữ được đặt dụng cụ tử cung TCU 380A ngay sau sinh tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định. Cỡ mẫu được tính toán dựa trên tỉ lệ sai vị trí dự kiến, và các biến số độc lập và phụ thuộc được xác định rõ ràng. Phương pháp thu thập số liệu bao gồm việc sử dụng các bảng kiểm và phỏng vấn trực tiếp.

2.2. Phương pháp phân tích số liệu

Số liệu được phân tích bằng các phương pháp thống kê, bao gồm phân tích đơn biến và đa biến để xác định các yếu tố liên quan đến tỉ lệ sai vị trí của dụng cụ tử cung TCU 380A. Các kết quả được trình bày dưới dạng tỉ lệ phần trăm, tỉ số chênh (OR) và khoảng tin cậy 95%.

III. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ sai vị trí của dụng cụ tử cung TCU 380A sau 6 tuần đặt là 10%, với các yếu tố liên quan bao gồm phương thức sinh và độ mở cổ tử cung. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỉ lệ tai biến sau đặt dụng cụ tử cung là thấp, chứng tỏ tính an toàn của phương pháp này. Tuy nhiên, việc tư vấn và lựa chọn đối tượng phù hợp để đặt dụng cụ tử cung ngay sau sinh vẫn cần được cải thiện để giảm tỉ lệ sai vị trí.

3.1. Tỉ lệ sai vị trí và các yếu tố liên quan

Nghiên cứu xác định tỉ lệ sai vị trí của dụng cụ tử cung TCU 380A là 10%, với các yếu tố liên quan bao gồm phương thức sinh (sinh thường hoặc sinh mổ) và độ mở cổ tử cung. Phụ nữ sinh mổ có tỉ lệ sai vị trí cao hơn so với sinh thường, điều này cần được cân nhắc khi tư vấn cho bệnh nhân.

3.2. Tỉ lệ tai biến và ứng dụng thực tiễn

Tỉ lệ tai biến sau đặt dụng cụ tử cung TCU 380A là thấp, bao gồm xuyên thủng tử cung (0,5%), chìm trong cơ tử cung (1,2%) và nhiễm trùng tử cung (0,8%). Kết quả này chứng tỏ tính an toàn của phương pháp đặt dụng cụ tử cung ngay sau sinh, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết của việc tư vấn kỹ lưỡng và theo dõi sau đặt.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ y học dụng cụ tử cung tcu 380a đặt ngay sau sinh tại bệnh viện nhân dân gia định

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Tổ chức Y tế Thế giới [36, 80] tránh thai trong thời gian hậu sản là sử dụng biện pháp tránh thai trong khoảng 12 tháng đầu sau sinh nhằm mục đích phòng ngừa có thai ngoài ý muốn hoặc kéo dài khoảng cách giữa hai lần mang thai. Theo phân loại của Hoa Kỳ về điều kiện phù hợp sử dụng biện pháp tránh thai, biện pháp tránh thai hiện đại có thể áp dụng trong thời gian sau sinh thuộc phân nhóm 1 [26] khá đa dạng, bao gồm: dụng cụ tử cung TCu 380A, thuốc viên chỉ có progestin, que cấy chứa etonogestrel, dụng cụ tử cung chứa Levonorgestrel, Medroxyprogesterone acetate, bao cao su. Tuy nhiên, số phụ nữ áp dụng biện pháp tránh thai hiện đại trong khoảng thời gian 1 - 2 năm đầu sau sinh không cao, có khoảng 96,7% phụ nữ sau sinh không có kế hoạch mang thai trong 1 năm kế tiếp nhưng chỉ có 12,8% có sử dụng biện pháp tránh thai có thời gian dài hạn. Số phụ nữ phá thai khi đang có con nhỏ <12 tháng tuổi chiếm 6,4% và 7,0% phụ nữ có khoảng cách giữa 2 thai kỳ <12 tháng [46].

Trong số các phụ nữ gặp trở ngại đối với việc sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại, 42 - 74% phụ nữ đã sử dụng biện pháp tránh thai kém hiệu quả hơn; 63/89 phụ nữ mang thai trong 24 tháng đầu sau sinh do gặp rào cản đối với việc sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại [84]. Có 67% phụ nữ trong thời gian hậu sản không áp dụng biện pháp tránh thai hiện đại do các trở ngại: điều kiện kinh tế - xã hội, con nhỏ, bà mẹ đơn thân [84]. Việt Nam là nước đang phát triển, kinh tế khó khăn, dành nhiều thời gian chăm sóc trẻ, không có thời gian quay lại cơ sở y tế là các trở ngại có thể có đối với việc tiếp cận biện pháp tránh thai hiện đại trong thời gian sau sinh. Tác giả Tống Kim Long và cs báo cáo gần 2/3 phụ nữ sống tại quận 2, thành phố Hồ Chí Minh không áp dụng biện pháp tránh thai trong 4 tháng đầu sau sinh [3].

2 Trong những năm gần đây, Hiệp hội Sản Phụ khoa Hoa Kỳ cũng như Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo áp dụng rộng rãi việc đặt dụng cụ tử cung TCu 380A ngay sau sinh [26]. Levi [61] cho thấy thời điểm ngay sau sinh là lúc phụ nữ có nhiều quyết tâm mong muốn tránh thai, thời điểm đặt dụng cụ tử cung TCu 380A ngay sau sinh góp phần làm tăng số phụ nữ sử dụng dụng cụ tử cung TCu 380A trong một năm đầu sau sinh. Khoảng 42,8% phụ nữ cho biết họ sẽ chọn dụng cụ tử cung TCu 380A nếu được đặt trước khi xuất viện [46]. Tại thời điểm 6 tháng, số phụ nữ sử dụng dụng cụ tử cung của nhóm đặt dụng cụ tử cung ngay sau sinh cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm sau đặt dụng cụ tử cung sau sinh mổ 6 tuần (83% so với 64%, RR 1,3 khoảng tin cậy 95% 1,02 - 1,66) [61].

Mặc dù các rào cản tiếp cận biện pháp tránh thai hiện đại trong thời gian sau sinh được loại bỏ, tuy nhiên việc tư vấn đặt dụng cụ tử cung TCu 380A ngay sau sinh chưa được áp dụng rộng rãi do tỉ lệ dụng cụ tử cung TCu 380A sai vị trí chưa thống nhất và ở mức cao 10% [42] - 44% [39]. Chúng tôi muốn tìm hiểu về tỉ lệ sai vị trí cũng như các yếu tố liên quan, từ đó giúp đưa ra thông điệp không nên đặt dụng cụ tử cung TCu 380A ngay sau sinh cho một số trường hợp cụ thể. Do đó câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là: “Tại thời điểm 6 tuần sau sinh, tỉ lệ dụng cụ tử cung TCu 380A sai vị trí là bao nhiêu và các yếu tố nào liên quan đến dụng cụ tử cung TCu 380A sai vị trí khi dụng cụ tử cung TCu 380A được đặt ngay sau sinh tại bệnh viện Nhân dân Gia Định?”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.

Xác định tỉ lệ sai vị trí của dụng cụ tử cung (DCTC) TCu 380A được đặt ngay sau sinh tại thời điểm 6 tuần sau sinh. Xác định các yếu tố liên quan đến tỉ lệ sai vị trí của DCTC TCu 380A được đặt ngay sau sinh: tuổi, số lần sinh, phương thức sinh, độ mở cổ tử cung. Khảo sát tỉ lệ tai biến của đặt DCTC TCu 380A được đặt ngay sau sinh: xuyên thủng tử cung, chìm trong cơ tử cung, nhiễm trùng tử cung, băng huyết sau sinh (BHSS). Tình hình dân số và kế hoạch hóa gia đình tại Việt Nam Dân số của Việt Nam đang trên đà phát triển.742 triệu người.

Đến 0 giờ ngày 01/04/2016, dân số Việt Nam ước tính đạt 92.315 người (tăng 981.580 người so với 01/04/2015) (biểu đồ 1. Như vậy, Việt Nam là quốc gia đông dân thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia và Philippines), thứ 8 trong khu vực Châu Á và thứ 15 trên thế giới. So với năm 2009, vị trí xếp hạng về quy mô dân số của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á không thay đổi. Tỷ lệ tăng dân số trung bình năm thời điểm 01/04/2016 so với thời điểm 01/04/2015 là 1,07% [2].

100000 90493 91466 92447 90000 85487 80000 76323 70000 64376 60000 52742 50000 40000 30000 20000 10000 0 1979 1989 1999 2009 2014 2015 2016 Dân số ( Nghìn người) 52742 64376 76323 85487 90493 91466 92447 Biểu đồ 1. Dân số Việt Nam, 1979-2016. “Nguồn: Tổng cục thống kê, 2016” [2]. Để kiểm soát tốc độ phát triển dân số thế giới nói chung và dân số Việt Nam nói riêng, nhiều chiến lược và giải pháp kinh tế - xã hội đã được đề ra; trong đó không thể thiếu vai trò của việc tuyên truyền cho phụ nữ trong độ tuổi sinh sản về kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ).

Ngày 14/11/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2013/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến 5 lược dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020”, trong đó tổng tỉ suất sinh (số con trung bình của một cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản) giảm xuống 1,9 con vào năm 2015 và 1,8 con vào năm 2020, đồng thời giảm tỉ lệ phá thai. Bên cạnh đó, điều đáng lo ngại khác liên quan đến sự gia tăng các trường hợp mang thai ngoài ý muốn, theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hàng năm có hơn 1/3 các thai kỳ ở các nước đang phát triển là ngoài ý muốn. Hầu hết các trường hợp mang thai ngoài ý muốn xảy ra ở những phụ nữ không áp dụng BPTT. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến phá thai liên tiếp và mang thai ngoài ý muốn được khảo sát từ 1.224 phụ nữ trong độ tuổi sinh sản tại 3 tỉnh thành Hà Nội, Khánh Hòa, Hồ Chí Minh là đa sản, trên 35 tuổi, có từ 2 con gái trở lên [76].

Nghiên cứu này nêu rõ rằng 79,6% số phụ nữ phá thai liên tiếp hoặc mang thai ngoài ý muốn là đã lập gia đình; hơn 50% số phụ nữ trả lời “không áp dụng BPTT vào thời điểm mang thai ngoài ý muốn”; tần suất phá thai liên tiếp là 31,7%. Ngo [76] đưa ra kết luận rằng tỉ lệ phá thai vẫn còn cao tại Việt Nam, nguyên nhân là chưa sử dụng BPTT phù hợp. Như vậy, BPTT phù hợp là giải pháp quan trọng ở lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản - kế hoạch hóa gia đình nhằm “hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng có thai ngoài ý muốn”. Đáp ứng nhu cầu tránh thai của phụ nữ là một vấn đề cấp thiết hiện nay.

Nhu cầu tránh thai không được đáp ứng nghĩa là phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, đang có quan hệ tình dục và chưa muốn có thai, muốn trì hoãn sinh con tiếp theo (kéo giãn khoảng cách sinh) hoặc không muốn mang thai nữa (hạn chế số con) nhưng hiện không sử dụng bất kỳ BPTT nào. Thai kỳ ngoài ý muốn - Các kết cục bất lợi liên quan khoảng cách ngắn giữa 2 thai kỳ Quan niệm “thai kỳ ngoài ý muốn” là người phụ nữ mang thai tại thời điểm chưa dự định có thai (muốn có thai sau đó) hoặc không muốn mang thai tại thời điểm hiện tại cũng như trong tương lai (không muốn có thai). Trước đó, “thai kỳ ngoài ý muốn” còn được gọi là “mang thai ngoài kế hoạch”. Theo WHO, thai kỳ ngoài ý muốn là không mong muốn lần mang thai này, có nghĩa là việc mang thai xảy ra khi không muốn có con, hoặc không muốn có thêm con, hoặc mang thai không đúng thời điểm, tức là mang thai xảy ra sớm hơn thời điểm mong muốn.

Một thai kỳ ngoài ý muốn có thể đưa đến một trong hai kết cục: giữ thai kỳ này và sinh ra trẻ ngoài ý muốn hoặc phá thai. Bên cạnh đó, hầu hết các trường hợp mang thai ngoài ý muốn có khoảng cách giữa hai thai kỳ ngắn. Tại Hoa Kỳ, tác giả Alison Gemmill và cộng sự (cs) [32] cho thấy 74% thai kỳ có sớm sau lần sinh trước là các thai kỳ không mong muốn. Như vậy, ảnh hưởng bất lợi của thai kỳ ngoài ý muốn được biểu hiện một cách gián tiếp thông qua khoảng cách giữa 2 thai kỳ ngắn hoặc phá thai.

Cho đến nay, định nghĩa về khoảng cách lý tưởng giữa 2 thai kỳ chưa được chuẩn hóa. Vào tháng 06 năm 2005, hội thảo của WHO gồm 30 chuyên gia đầu ngành để đánh giá 06 nghiên cứu được tài trợ từ Cơ quan Phát triển Quốc tế của Hoa Kỳ, về khoảng cách giữa 2 thai kỳ tác động như thế nào đến sức khỏe của mẹ, thai, trẻ sơ sinh và trẻ em. Dựa vào phần đánh giá này, WHO đưa ra hai khuyến cáo về khoảng cách giữa lần sinh này đến lần mang thai tiếp theo để giảm nguy cơ các kết cục bất lợi cho mẹ, trẻ sơ sinh đồng thời đảm bảo kết cục tốt cho thai kỳ kế tiếp [79], [100]: khoảng thời gian tối thiểu từ lúc sinh trẻ sống cho đến lần mang thai kế tiếp là 24 tháng; khoảng 7 thời gian tối thiểu từ lúc sẩy thai hoặc sinh non cho đến lần mang thai kế tiếp là 6 tháng. Song hành, trong những năm gần đây, hầu hết dữ liệu từ các nghiên cứu quan sát cho thấy khoảng cách giữa 2 thai kỳ từ 6 - 18 tháng có liên quan đến tăng nhẹ nguy cơ kết cục bất lợi và khoảng cách giữa 2 thai kỳ dưới 6 tháng có liên quan rõ ràng đến tăng nguy cơ kết cục bất lợi [106].

Do đó, các lợi ích cũng như nguy cơ nếu khoảng cách giữa 2 thai kỳ < 18 tháng cần được tư vấn kỹ. Nghiên cứu của tác giả Keely Cheslack Postava và cs [21] dựa trên 10.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ y học mang tiêu đề "Dụng cụ tử cung TCU 380A đặt ngay sau sinh tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định" tập trung vào việc nghiên cứu hiệu quả của dụng cụ tử cung TCU 380A trong việc kiểm soát sinh sản ngay sau khi sinh. Tài liệu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình và lợi ích của việc sử dụng dụng cụ này, mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các biện pháp tránh thai hiệu quả trong giai đoạn hậu sản. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách thức dụng cụ này có thể giúp giảm thiểu tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn và cải thiện sức khỏe sinh sản cho phụ nữ.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản và các nghiên cứu y học khác, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Nghiên cứu tình hình thai to và các yếu tố liên quan ở các sản phụ tại BV Phụ sản TP Cần Thơ năm 2014-2015, nơi cung cấp thông tin về các yếu tố ảnh hưởng đến thai kỳ. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu mật độ xương, tình trạng vitamin D và một số markers chu chuyển xương ở trẻ từ 6 đến 14 tuổi tại thành phố Cần Thơ cũng là một tài liệu thú vị, giúp bạn hiểu rõ hơn về sức khỏe trẻ em. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ nghiên cứu lâm sàng X-quang đánh giá hiệu quả điều trị hẹp chiều ngang xương hàm trên bằng hàm nong nhanh kết hợp với minivis sẽ cung cấp thêm thông tin về các phương pháp điều trị trong lĩnh vực y học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề sức khỏe liên quan.