CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1. Các khái niệm và những hướng tiếp cận về lý thuyết của đề tài 1. Các khái niệm liên quan đến đề tài Các khái niệm được đưa ra trong đề tài dựa trên nền tảng của phạm trù sinh học và văn hóa tộc người – hai phạm trù chủ yếu của ngành nhân học. Trong đó, phạm trù sinh học là nhằm đề cập tới những mối quan hệ giữa các quần thể cư dân, sinh thái và sự biến đổi qua thời gian.
Và phạm trù văn hóa được xem xét thông qua hệ thống các quan niệm, tín ngưỡng và giá trị trong việc định dạng các hệ thống phân loại ốm đau, bệnh tật, các hệ thống y tế để điều trị các loại bệnh tật. Theo đó, ốm đau và chữa trị là những kinh nghiệm từng trải của con người - những kinh nghiệm cần phải được hiểu một cách tổng hợp trong các mối quan hệ tương tác phức hợp và đa dạng giữa sinh học và văn hóa. Khái niệm bệnh tật - một khía cạnh của các môi trường nhân văn bị tác động bới những ứng xử riêng về mặt văn hóa của con người và môi trường chính trị - xã hội. Ở đề tài, cơ thể con người và các triệu chứng bệnh tật được giải thích thông qua những bộ lọc của các tín ngưỡng văn hóa và các giả thiết mang tính khoa học luận.
Trong đó, các khía cạnh văn hóa của các hệ thống điều trị có những ảnh hưởng thực tế quan trọng tới khả năng tiếp nhận, tính hiệu quả và việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe trong các xã hội của con người. - “Sinh thái” (ecology): một khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ giữa các sinh vật tổng thể với môi trường tổng thể tại một không gian nhất định. Cụ thể, nói đến sinh thái tức là nói đến các mối quan hệ của con người với môi trường vật chất, xã hội và văn hóa. Trong phạm vi đề tài, sinh thái được xem xét qua các mối quan hệ đan xen giữa văn hóa, bệnh tật trong quá trình sinh đẻ của phụ nữ S’tiêng.
- Y học tộc người (Ethnomedical) có ở tất cả các xã hội người mà theo quan điểm của các nhà nhân học, đó là hệ thống y tế được định dạng bởi văn hóa. Hệ thống y tế đó bao gồm những tín ngưỡng về nguồn gốc hay nguyên nhân của ốm đau, bệnh tật, các chuẩn mực ảnh hưởng tới việc lựa chọn cách điều trị và những thầy thuốc/những thiết chế tham gia vào các cơ sở y tế của một xã hội. Trước đây, y học tộc 13 người thường được quan niệm là những hệ thống chữa bệnh của các cư dân bản địa ngoài phương Tây. Nhưng đến nay, quan điểm đó đã có sự thay đổi và nhìn nhận rằng các tập quán y học mang tính khoa học ở phương Tây cũng là những sản phẩm của văn hóa cụ thể.
Vì vậy, các hệ thống y học phương Tây mà các nhà nhân học gọi là “y học sinh vật học” (Biomedicine) chỉ là một dạng của y học tộc người. Theo Fabrega, y học tộc người “nghiên cứu những thành viên thuộc các văn hóa khác nhau nghĩ về bệnh tật và tự tổ chức điều trị và bản thân hệ thống điều trị như thế nào” (Fabrega, 1975). Y học tộc người quan tâm tới 5 vấn đề cơ bản: 1. Mô tả dân tộc học các tập quán chữa trị; 2.
So sánh các hệ thống y tế tộc người; 3. Các mô hình giải thích sức khỏe và ốm đau bệnh tật; 4. Cách ứng xử đối với sức khỏe; 5. Tính hiệu quả của các hệ thống y tế tộc người.
Trong bối cảnh đa nguyên y tế (medical pluralism) tức nhiều hệ thống y tế cùng được sử dụng, việc nghiên cứu các mô hình giải thích sức khỏe và bệnh tật của cá nhân và nhóm xã hội như trường hợp ở người S’tiêng tại Bình Phước là hết sức quan trọng. Mô hình giải thích cá nhân là cách giải thích của cá nhân về nguồn gốc hay nguyên nhân của ốm đau bệnh tật, cách điều trị và kết quả điều trị thông qua đó người ta xác định tình trạng của mình. Mặc dù, các mô hình giải thích mang tính cá nhân nhưng cũng là những mô hình văn hóa tích lũy từ cộng đồng mà có. Một mô hình giải thích được chia sẻ chung bởi một nhóm xã hội được gọi là mô hình bệnh tật dân gian.
Các mô hình này tạo nên các hệ thống tín ngưỡng về sức khỏe thuộc hai loại: + Các hệ thống tín ngưỡng siêu nhiên giải thích ốm đau như là ảnh hưởng của những sức mạnh siêu nhiên do một vị thần đang tức giận hay một thầy phù thủy gây ra cho người bệnh. + Các hệ thống tín ngưỡng giải thích ốm đau, bệnh tật trong khuôn khổ của những tác động tự nhiên. Các mô hình giải thích của người bệnh và của thầy thuốc thường không giống nhau và vì vậy có thể có những ảnh hưởng tiêu cực tới giao tiếp và sự tuân thủ các phương pháp điều trị v. 14 - Nhân học y tế - một phân ngành của nhân học, chủ yếu áp dụng các phương pháp nghiên cứu của nhân học để tìm hiểu và giải quyết các vấn đề sức khỏe, bệnh tật và cách thức điều trị.
- Sức khỏe sinh sản: Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) về sức khỏe sinh sản là: “Sức khỏe sinh sản (SKSS) là trạng thái khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và hòa hợp xã hội về tất cả các phương diện liên quan đến hệ thống sinh sản trong suốt các giai đoạn của cuộc đời. Chăm sóc SKSS là một tập hợp các phương pháp, kỹ thuật và dịch vụ nhằm giúp cho con người có tình trạng SKSS khỏe mạnh thông qua việc phòng chống và giải quyết những vấn đề liên quan đến SKSS. Điều này cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục với mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống và mối quan hệ giữa con người với con người mà không chỉ dừng lại ở chăm sóc y tế và tư vấn một cách đơn thuần cho việc sinh sản và những nhiễm trùng qua đường tình dục.” Sức khoẻ sinh sản là một phần rất quan trọng của sức khỏe. Sức khỏe sinh sản gắn với toàn bộ cuộc đời của con người, từ lúc bào thai đến khi tuổi già.
Sức khoẻ sinh sản quan tâm đến các vấn đề của bộ máy sinh sản nam nữ ở mọi lứa tuổi, đặc biệt chú trọng đến tuổi vị thành niên và độ tuổi sinh sản (15-49). Hội nghị quốc tế về Dân số và phát triển họp tại Cai rô - Ai Cập năm 1994 đã đưa ra định nghĩa về sức khỏe sinh sản: “Sức khoẻ sinh sản là một trạng thỏi khỏe mạnh, hài hòa về thể chất, tinh thần và xã hội trong tất cả mọi khớa cạnh liên quan đến hệ thống, chức năng và quá trình sinh sản chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hay tổn thương hệ thống sinh sản”. - Hệ thống y tế: Hệ thống y tế được miêu tả gồm nhiều dịch vụ, cơ quan và nhân viên trong mọi lĩnh vực chăm sóc y tế. Hệ thống này bao gồm bác sĩ gia đình, y tá, bác sĩ chuyên khoa, bệnh viện, nhân viên xã hội, thông dịch viên và các dịch vụ y tế khác.
Những hướng tiếp cận của đề tài Nhằm nghiên cứu và giải quyết các vấn đề của đề tài, chúng tôi vận dụng 3 lý thuyết Nhân học: 1. Thuyết hành xử (theory of practice) của Pierre Bourdieu mà habitus là một khái niệm quan trọng. “Habitus là toàn thể các tâm thế hành vi được học hoặc thẩm thấu vào cá nhân. Cá nhân có khuynh hướng tái tạo các tâm thế hành vi ấy bằng cách 15 kích hoạt các khung hành vi và thích ứng chúng với các điều kiện hay hoàn cảnh mà họ sống trong đó.
Habitus thường là vô thức”4. Lý thuyết hành xử quản niệm hành vi của con người “chịu tác động của môi trường mà họ trưởng thành (yếu tố khách quan), nhưng vì được nhập tâm, nên lại là một yếu tố chủ quan, tác động đến hành vi của con người”5. Thuyết hành xử nhấn mạnh vai trò và sự tương tác giữa các loại vốn: vốn kinh tế, vốn văn hoá, vốn xã hội, vốn biểu tượng (symbolic capital) đến hành vi cá nhân (habitus). “Cái habitus cụ thể có tính giai tầng xã hội này lại là một phần của vốn văn hoá - kiến thức và tri thức của cá nhân, được hấp thụ qua giáo dục trong học đường cũng như trong gia đình và xã hội”6.
Vốn xã hội là “tổng thể những nguồn lực thực tế hay tiềm năng mà người ta có được từ việc người ta có một mạng lưới lâu bền những quan hệ ít nhiều được thế chế hóa (Bourdieu 1986: 249)”7. Nguồn vốn về con người (học vấn, kinh nghiệm), nguồn gốc xuất thân và các mối quan hệ xã hội của cá nhân đều được giả định là có tác động đến phạm vi các nguồn lực mà cá nhân có thể tích lũy được thông qua các mối giao tiếp (mạng lưới xã hội). Vốn xã hội có liên quan trước hết đến các nguồn lực có được từ trong mạng lưới xã hội8. Trong đề tài, chúng tôi tìm hiểu mối tương quan giữa các yếu tố văn hóa - xã hội (tác động đến hành vi) với quá trình tìm kiếm, tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho trẻ, cụ thể như: - Vốn văn hóa: trình độ học vấn, kiến thức của người chăm sóc trẻ sinh sản ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng sức khỏe của bà mẹ và trẻ qua các thời kỳ trước và sau khi sinh.
Quyết định các phương thức điều trị như tự mua thuốc, đến bệnh viện hay điều trị tại nhà bằng phương pháp cổ truyền. Đồng thời, các yếu tố văn hóa - xã hội khác như trình độ học vấn, tập quán và mức độ hiểu biết, quan niệm và cách chọn các 4 GS.TS Lương Văn Hy. Bài giảng môn Lý thuyết nhân học cho lớp cao học Dân tộc học khóa 2010-2012, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chí Minh.
5 Dẫn theo GS.TS Lương Văn Hy. 6 Dẫn theo GS.TS Lương Văn Hy. 7 Dẫn theo GS.TS Lương Văn Hy. 8 Văn Ngọc Lan và Trần Đan Tâm.
“Mạng lưới xã hội và cơ hội thăng tiến trong đời sống dân cư đô thị”. In trong Đô thị hóa và vấn đề giảm nghèo ở TPHCM – Lý luận và thực tiễn, do Nguyễn Thế Nghĩa, Mạc Đường, Nguyễn Quang Vinh đồng chủ biên. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. 16 dịch vụ y tế để chăm sóc sức khỏe.
Liệu vốn văn hóa của phụ nữ mang thai ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn mô hình chăm sóc/nuôi dưỡng trẻ.