Tổng quan luận án
Công trình khoa học được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Vũ Thị Thủy với đề tài "Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc và vận dụng trong giải quyết vấn đề dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay", bảo vệ năm 2017 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, chuyên ngành Hồ Chí Minh học (mã số: 62 31 02 04), thuộc ngành Chính trị học. Nghiên cứu được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Lại Quốc Khánh.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ đặc điểm địa - chính trị của Việt Nam - một quốc gia đa dân tộc với lịch sử dựng nước và giữ nước luôn gắn liền với yêu cầu tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "cách mệnh đã do Việt Bắc mà thành công, thì kháng chiến sẽ do Việt Bắc mà thắng lợi"; đồng thời Người xác định ba nguyên tắc đoàn kết, bình đẳng, tương trợ có mối quan hệ thống nhất hữu cơ, trong đó bình đẳng là cơ sở của đoàn kết, và tương trợ là con đường để hiện thực hóa sự bình đẳng. Bước sang thế kỷ XXI, bối cảnh thế giới xuất hiện nhiều xung đột sắc tộc, phong trào ly khai phức tạp; trong khi đó, tại Việt Nam, bên cạnh các thành tựu về củng cố khối đại đoàn kết, quan hệ dân tộc cũng đối mặt với nhiều vấn đề nảy sinh. Thái Nguyên là địa bàn chiến lược thuộc vùng Đông Bắc và cửa ngõ Thủ đô Hà Nội, nơi có 8 dân tộc cùng cư trú xen kẽ gồm: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, Sán Chay, Mông, Hoa. Kể từ khi tái lập tỉnh vào năm 1997, Đảng bộ và chính quyền địa phương đã triển khai nhiều chính sách dân tộc gắn với xóa đói giảm nghèo, định canh định cư, củng cố hệ thống chính trị cơ sở. Dẫu vậy, thực tiễn địa phương vẫn bộc lộ những hạn chế: khoảng cách phân hóa giàu - nghèo giữa các vùng và nhóm tộc người có chiều hướng gia tăng; tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn cao; kết cấu hạ tầng giao thông, y tế, giáo dục, thiết chế văn hóa còn bất cập; nguy cơ phai nhạt bản sắc văn hóa tộc người; đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số còn hạn chế về năng lực và cơ cấu chưa hợp lý; môi trường sinh thái chịu áp lực lớn; hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng diễn biến phức tạp. Cho đến thời điểm tác giả triển khai nghiên cứu, chưa có công trình nào trực tiếp phân tích một cách hệ thống việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bộ ba nguyên tắc đoàn kết, bình đẳng, tương trợ vào việc giải quyết vấn đề dân tộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc và vận dụng tư tưởng đó để nhận diện thực trạng, từ đó đề ra phương hướng, giải pháp giải quyết vấn đề dân tộc đang đặt ra trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Đi sâu luận giải nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc; làm rõ giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng đó.
- Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để phân tích thực trạng giải quyết vấn đề dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên, xác định những vấn đề dân tộc đang đặt ra, cần tiếp tục giải quyết.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm giải quyết vấn đề dân tộc đang đặt ra ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc và sự vận dụng tư tưởng này trong giải quyết vấn đề dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Về nội dung: Luận án tập trung vào các nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc theo nghĩa tộc người (ethnie/ethnic group).
- Về không gian: Toàn bộ địa bàn tỉnh Thái Nguyên gồm 9 đơn vị hành chính cấp huyện.
- Về thời gian: Khảo sát thực trạng giải quyết vấn đề dân tộc từ năm 1997 (thời điểm tái lập tỉnh Thái Nguyên từ tỉnh Bắc Thái cũ) đến thời điểm bảo vệ (năm 2017), chú trọng dữ liệu thu thập qua điều tra xã hội học thực tế tại địa phương.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án được tác giả phân chia thành ba nhóm công trình chính:
Nhóm thứ nhất bao gồm các công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh đối với vấn đề dân tộc, đoàn kết, bình đẳng và tương trợ giữa các dân tộc:
- Nguyễn Dương Bình (chủ biên, 1990), Chủ tịch Hồ Chí Minh và vấn đề dân tộc, làm rõ quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ và tư tưởng đưa miền núi tiến kịp miền xuôi.
- Phùng Hữu Phú (chủ nhiệm Đề tài cấp Nhà nước KX 02-07, 1991 - 1995), Tư tưởng, chiến lược đoàn kết Hồ Chí Minh, phân tích cơ sở hình thành, nội dung và sự vận dụng chiến lược đại đoàn kết trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Kỷ yếu hội thảo Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc ở Việt Nam (Ủy ban Dân tộc và Miền núi phối hợp Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1996), phác họa di sản lý luận và giá trị phương pháp luận về chính sách dân tộc.
- Hoàng Trang và Phạm Ngọc Anh (1996), Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giải quyết vấn đề dân tộc ở cấp độ quốc gia trong quan hệ quốc tế.
- Nguyễn Bích Hạnh và Nguyễn Văn Khoan (2001), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết và mặt trận đoàn kết dân tộc, phân tích mối quan hệ giữa đại đoàn kết và đấu tranh giai cấp.
- Trần Kim Bình (2004), chuyên đề "Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công bằng, bình đẳng xã hội trong quan hệ dân tộc ở Việt Nam", tập trung vào công bằng giữa miền núi và miền xuôi.
- Lê Ngọc Thắng (2005), Hồ Chí Minh với vấn đề đoàn kết các dân tộc, luận giải cơ sở, nội dung và yêu cầu vận dụng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Võ Thanh Thảo (2005), bài viết "Đại đoàn kết dân tộc, trong nhận thức của Hồ Chí Minh", nhấn mạnh khối đoàn kết là sức mạnh tinh thần và vật chất.
- Nguyễn Đức Ngọc (chủ biên, 2007), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc và sự vận dụng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay, làm rõ sự kế thừa các giá trị truyền thống dân tộc.
- Phan Hữu Dật (2007), bài viết "Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta", xác định yêu cầu xây dựng chiến lược con người dân tộc thiểu số.
- Nguyễn Huy Oánh (2007), bài viết "Hồ Chí Minh với sự nghiệp phát triển kinh tế miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số", nêu các giải pháp hướng dẫn sản xuất hàng hóa nông, lâm, công nghiệp.
- Lê Mậu Hãn (2009), bài viết "Tư tưởng độc lập tự do với chiến lược đại đoàn kết dân tộc".
- Văn Thị Thanh Mai (2009), bài viết "Hồ Chí Minh với vấn đề đoàn kết đồng bào các dân tộc thiểu số", phân tích quyền bình đẳng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục.
- Phạm Ngọc Anh và Bùi Đình Phong (2012) trong cuốn sách Hồ Chí Minh về đại đoàn kết xây dựng mặt trận và các đoàn thể quần chúng.
- Trịnh Xuân Thắng (2014), bài viết "Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề các dân tộc bình đẳng, đoàn kết giúp đỡ nhau".
- Hoàng Xuân Lương (2015), bài viết "Suy ngẫm tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân tộc", nêu vấn đề giãn cách mức độ thụ hưởng dịch vụ công của đồng bào thiểu số và yêu cầu luật hóa chính sách dân tộc.
Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu thực trạng giải quyết vấn đề dân tộc trên phạm vi cả nước và địa bàn tỉnh Thái Nguyên:
- Bế Viết Đẳng (chủ biên, 1996), Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế xã hội ở miền núi, xác định phát triển kinh tế - xã hội là cơ sở thực hiện chính sách dân tộc.
- Ủy ban Dân tộc và Miền núi (2001), Về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta, hệ thống hóa đường lối công tác dân tộc của Đảng.
- Viện Nghiên cứu chính sách dân tộc và miền núi (2002), Vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Hoàng Nam (2004), Văn hoá các dân tộc vùng Đông Bắc Việt Nam, phân tích biến đổi văn hóa do chuyển đổi sang cơ chế thị trường.
- Phan Xuân Sơn và Lưu Văn Quảng (đồng chủ biên, 2005), Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay, phân biệt rõ khái niệm dân tộc - quốc gia và tộc người.
- Hoàng Chí Bảo (chủ biên, 2009), Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay.
- Lâm Bá Nam (2010), Nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc của Đảng thời kỳ đổi mới, chỉ rõ bình đẳng là cơ sở để đoàn kết, đoàn kết là biểu hiện thực hiện bình đẳng, và tương trợ là điều kiện của bình đẳng và đoàn kết.
- Nguyễn Đăng Thành (2012), Phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam....
- Vương Xuân Tình và Trần Hồng Hạnh (đồng chủ biên, 2012), Phát triển bền vững văn hoá tộc người trong quá trình hội nhập ở vùng Đông Bắc.
- Bùi Xuân Đính và Nguyễn Ngọc Thanh (đồng chủ biên, 2013), Một số vấn đề cơ bản về kinh tế - xã hội các tỉnh Biên giới Việt Nam.
- Nguyễn Sỹ Họa (2015), Thực hiện bình đẳng dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Giàng Seo Phử (chủ biên, 2016), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về công tác dân tộc qua 30 năm đổi mới.
- Các nghiên cứu thực tế tại địa phương: Luận án của Phạm Công Tâm (2001); bài viết của Nguyễn Văn Sơn (2011) về phát triển bền vững tại Thái Nguyên giai đoạn 2000 - 2009; Luận án của Phạm Thị Hoàng Hà (2012) về bình đẳng văn hóa miền núi phía Bắc; Luận án của Hoàng Thị Mỹ Hạnh (2013) về chuyển biến kinh tế - xã hội Thái Nguyên giai đoạn 1997 - 2010; Luận án của Hoàng Thu Thủy (2014) về chính sách dân tộc vùng Đông Bắc giai đoạn 1996 - 2010; bài viết của Trần Lệ Thị Bích Hồng và Đỗ Anh Tài (2015) về giảm nghèo tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Nhóm thứ ba gồm các công trình nghiên cứu về giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh và việc vận dụng vào thực tiễn Việt Nam:
- Trịnh Quốc Tuấn (chủ biên, 1996), Bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay - Vấn đề và giải pháp.
- Nguyễn Quốc Phẩm và Trịnh Quốc Tuấn (1999), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam.
- Phan Hữu Dật (chủ biên, 2001), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay.
- Các bài viết của Trần Văn Hải (2004), Phùng Thu Hiền (2004) trong sách Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết....
- Nguyễn Quốc Phẩm (chủ biên, 2006), Công bằng và bình đẳng xã hội trong quan hệ tộc người ở các quốc gia đa tộc người.
- Nguyễn Thị Phương Thúy (2006), Luận án tiến sĩ nghiên cứu việc thực hiện chính sách dân tộc qua gần 20 năm đổi mới.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Phần lớn các công trình đã công bố tiếp cận vấn đề dân tộc dưới góc độ lý luận chung hoặc nghiên cứu chính sách trên phạm vi cả nước và các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu trực tiếp, hệ thống hóa chỉnh thể ba nguyên tắc cốt lõi "đoàn kết, bình đẳng, tương trợ" trong tư tưởng Hồ Chí Minh để soi chiếu, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp chính trị - xã hội cụ thể cho tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn từ năm 1997 đến nay thông qua dữ liệu điều tra xã hội học thực nghiệm.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc. Khái niệm dân tộc trong luận án được tiếp cận theo nghĩa hẹp là "tộc người" (ethnie), phân biệt với "quốc gia - dân tộc" (nation).
Cơ sở thực tiễn được xây dựng từ các báo cáo tổng kết thực tiễn lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Thái (trước năm 1997) và Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên (từ năm 1997 đến 2017), kết hợp với số liệu thống kê kinh tế - xã hội địa phương và kết quả khảo sát xã hội học thực địa do chính tác giả thực hiện.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc: Phương pháp lịch sử tái hiện quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc qua từng mốc thời gian; phương pháp lôgíc phân tích, khái quát bản chất các thành tựu, hạn chế và dự báo xu thế vận động của quan hệ dân tộc.
- Các phương pháp nghiên cứu liên ngành khoa học xã hội: Phân tích văn bản, phân tích diễn ngôn, phân tích - tổng hợp, so sánh, thống kê, trừu tượng hóa và hệ thống - cấu trúc.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Tác giả xây dựng một bộ phiếu hỏi gồm câu hỏi lựa chọn, câu hỏi có trọng số, câu hỏi mở và câu hỏi phân tích, chia làm 3 phần (Thông tin chung; Nhận thức về chủ trương, chính sách; Nhận thức về kết quả thực hiện chính sách). Tổng số lượng khảo sát là 300 phiếu, phân bổ trên 9 huyện, thành phố, thị xã của tỉnh Thái Nguyên, dành cho 4 nhóm đối tượng: chủ thể hoạch định chính sách, chủ thể thực thi chính sách, đối tượng thụ hưởng chính sách và các nhà khoa học.
Bảng cơ cấu phân bổ mẫu điều tra xã hội học tại tỉnh Thái Nguyên:
| STT |
Địa bàn điều tra (Huyện / Thị xã / Thành phố) |
Số lượng phiếu thu thập |
| 1 |
Thành phố Thái Nguyên |
60 |
| 2 |
Thành phố Sông Công |
30 |
| 3 |
Thị xã Phổ Yên |
32 |
| 4 |
Huyện Phú Bình |
28 |
| 5 |
Huyện Đồng Hỷ |
33 |
| 6 |
Huyện Võ Nhai |
30 |
| 7 |
Huyện Đại Từ |
30 |
| 8 |
Huyện Định Hóa |
30 |
| 9 |
Huyện Phú Lương |
27 |
| Tổng cộng |
Toàn tỉnh Thái Nguyên (9/9 đơn vị cấp huyện) |
300 |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài theo ba trục nội dung: tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc; thực tiễn thực hiện chính sách dân tộc tại Việt Nam và vùng Đông Bắc; giá trị lý luận và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ dân tộc. Tác giả chỉ rõ các thành tựu nghiên cứu đã đạt được của các học giả đi trước về việc khẳng định vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân và nội dung bình đẳng dân tộc. Đồng thời, chương này chỉ ra điểm phân kỳ khoa học: các công trình trước đây chủ yếu xem xét các nguyên tắc một cách riêng rẽ hoặc nghiên cứu chung ở tầm vĩ mô toàn quốc, thiếu vắng công trình phân tích sự liên kết hữu cơ của bộ ba "đoàn kết - bình đẳng - tương trợ" gắn liền với đặc thù kinh tế - xã hội, biến đổi tộc người của tỉnh Thái Nguyên trong 20 năm sau ngày tái lập tỉnh.
Chương 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc: Một số vấn đề lý luận chung
Chương 2 làm rõ hệ thống các khái niệm cơ bản gồm: "dân tộc", "tộc người", "quan hệ dân tộc", "đoàn kết dân tộc", "bình đẳng dân tộc" và "tương trợ dân tộc". Tiếp đó, luận án đi sâu luận giải ba nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh:
-
Quan điểm về đoàn kết dân tộc: Tác giả phân tích việc Nguyễn Ái Quốc từ thập niên 1920 đã vạch trần âm mưu "chia để trị" của thực dân Pháp nhằm phá vỡ truyền thống gắn kết lâu đời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh xác định đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược lâu dài, quyết định thành bại của cách mạng, đúc kết thành chân lý: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công". Đoàn kết dân tộc phải được xây dựng vững chắc trên cơ sở đảm bảo lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc là độc lập, tự do, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân; đoàn kết thực sự đòi hỏi vừa đoàn kết vừa đấu tranh, học hỏi ưu điểm và phê bình sai sót trên tinh thần thân ái.
-
Quan điểm về bình đẳng giữa các dân tộc: Hồ Chí Minh quan niệm bình đẳng giữa các dân tộc là sự đối xử ngang nhau, hợp lý về quyền và nghĩa vụ, cơ hội và điều kiện phát triển trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, không có đặc quyền đặc lợi cho bất kỳ dân tộc nào. Bình đẳng không đồng nhất với cào bằng hay bình quân chủ nghĩa. Về kinh tế, đây là nền tảng vật chất quyết định bình đẳng trên các phương diện khác theo nguyên lý đời sống vật chất quyết định đời sống tinh thần ("có thực mới vực được đạo"), đòi hỏi phải phát triển sản xuất, nâng cao đời sống để miền núi tiến kịp miền xuôi. Về chính trị, khẳng định quyền làm chủ đất nước thuộc về mọi dân tộc, thể hiện qua quyền bầu cử, ứng cử được quy định ngay tại phiên họp Chính phủ ngày 3-9-1945 và yêu cầu bồi dưỡng, bố trí cán bộ người dân tộc thiểu số. Về văn hóa, nhấn mạnh quyền được học tập, nâng cao dân trí, phát triển ngôn ngữ, giữ gìn bản sắc truyền thống và xóa bỏ hủ tục lạc hậu gắn liền với việc diệt "giặc dốt". Về xã hội, tôn trọng các thiết chế truyền thống lành mạnh của từng tộc người kết hợp hài hòa với thiết chế pháp luật hiện đại.
-
Quan điểm về tương trợ giữa các dân tộc: Luận án chỉ ra tương trợ là nguyên tắc có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh, bắt nguồn từ truyền thống đạo lý "lá lành đùm lá rách", "nhiễu điều phủ lấy giá gương". Xuất phát từ sự chênh lệch khách quan về điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển giữa các vùng do lịch sử để lại, Hồ Chí Minh yêu cầu: "Đồng bào miền núi phải đoàn kết giúp đỡ đồng bào miền xuôi. Và đồng bào miền xuôi phải đoàn kết giúp đỡ đồng bào miền núi", trong đó cán bộ và dân tộc đa số phải ra sức giúp đỡ đồng bào vùng cao, vùng sâu, vùng xa để cùng tiến bộ.
Từ các phân tích trên, chương 2 khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh: đóng vai trò là kim chỉ nam cho đường lối, chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng.
Chương 3: Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong giải quyết vấn đề dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Chương 3 khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và cơ cấu cư dân tỉnh Thái Nguyên. Địa bàn tỉnh có địa hình chuyển tiếp giữa trung du và miền núi, giữ vai trò đầu mối giao thông của vùng trung du miền núi Bắc Bộ. Cư dân gồm 8 dân tộc chính (Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, Sán Chay, Mông, Hoa) cùng sinh sống xen kẽ từ lâu đời, hình thành khối cộng cư gắn bó về sinh kế và văn hóa.
Luận án phân tích thực trạng giải quyết vấn đề dân tộc từ năm 1997 đến 2017: Đảng bộ và chính quyền tỉnh Thái Nguyên đã chủ động vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, ban hành và thực hiện nhiều chương trình, nghị quyết chuyên đề về phát triển kinh tế vùng cao, đầu tư hạ tầng nông thôn miền núi, xóa đói giảm nghèo, bảo tồn lễ hội văn hóa dân tộc và xây dựng hệ thống chính trị cơ sở.
Dữ liệu khảo sát xã hội học được đưa vào làm căn cứ thực chứng:
- Bảng 3.1 phản ánh đánh giá của đồng bào các dân tộc tỉnh Thái Nguyên về mối quan hệ đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc trên địa bàn, ghi nhận phần lớn người dân nhận định quan hệ giữa các dân tộc duy trì sự hòa thuận, gắn bó và hỗ trợ lẫn nhau trong đời sống sinh hoạt cũng như sản xuất.
- Bảng 3.2 chỉ ra mức độ nhận thức về chính sách đoàn kết, bình đẳng, tương trợ của đồng bào dân tộc thiểu số, cho thấy người dân cơ bản nắm bắt được các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, y tế, giáo dục của Nhà nước, song tỷ lệ hiểu sâu về nội dung quyền bình đẳng và cơ chế tham gia hoạch định chính sách ở cơ sở còn có sự phân hóa theo trình độ dân trí và vùng cư trú.
Bên cạnh kết quả đạt được, luận án chỉ ra những vấn đề bức thiết đang đặt ra tại Thái Nguyên:
- Phân hóa giàu nghèo và chênh lệch mức sống giữa khu vực đô thị, vùng thấp với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng cao (như các xã vùng cao của huyện Võ Nhai, Định Hóa) còn lớn.
- Hạ tầng kỹ thuật, đường giao thông liên thôn bản, trạm y tế, trường học ở vùng sâu còn thiếu đồng bộ hoặc xuống cấp.
- Nguy cơ mai một tiếng nói, chữ viết, trang phục và phong tục tập quán truyền thống trước sức ép của kinh tế thị trường.
- Đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở cấp cơ sở còn thiếu về số lượng, cơ cấu chưa đồng đều giữa các nhóm dân tộc, năng lực quản lý còn hạn chế.
- Môi trường sinh thái bị xâm hại do khai thác tài nguyên khoáng sản; tình hình hoạt động tôn giáo trái phép và các hiện tượng tôn giáo mới tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định an ninh nông thôn.
Chương 4: Phương hướng và giải pháp nhằm giải quyết vấn đề dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên theo tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ
Trên cơ sở nhận diện thực trạng và dự báo xu thế, chương 4 xác lập các phương hướng và giải pháp cụ thể:
Về phương hướng: Luận án xác định việc giải quyết vấn đề dân tộc phải quán triệt toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương của Đảng; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh; phát huy tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào dân tộc thiểu số gắn liền với sự hỗ trợ hiệu quả của Nhà nước và cộng đồng xã hội; bảo đảm quyền bình đẳng thực tế trên mọi lĩnh vực.
Về giải pháp chủ yếu, luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp:
- Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức, trách nhiệm của hệ thống chính trị và toàn thể nhân dân về vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc, quán triệt sâu sắc các quan điểm của Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ.
- Nhóm giải pháp phát triển kinh tế, đẩy mạnh giảm nghèo bền vững: Hoàn thiện hạ tầng giao thông, thủy lợi, mạng lưới điện; đa dạng hóa sinh kế, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng miền núi; hỗ trợ vốn vay ưu đãi và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho các hộ dân tộc thiểu số.
- Nhóm giải pháp văn hóa - xã hội: Đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục vùng cao, duy trì hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú; củng cố mạng lưới y tế cơ sở; bảo tồn các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của các tộc người (Tày, Nùng, Dao, Sán Chay...) đi đôi với việc vận động nhân dân xóa bỏ các hủ tục ma chay, cưới xin tốn kém.
- Nhóm giải pháp xây dựng hệ thống chính trị và phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số: Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ dân tộc thiểu số; bố trí tỷ lệ cán bộ người dân tộc thiểu số hợp lý trong cấp ủy và cơ quan chính quyền các cấp; phát huy vai trò của người có uy tín, già làng, trưởng bản.
- Nhóm giải pháp củng cố an ninh trật tự và phòng ngừa chia rẽ khối đoàn kết dân tộc: Tăng cường an ninh nông thôn, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch; quản lý nhà nước chặt chẽ đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng và tài nguyên môi trường.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án đã làm rõ một cách có hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa ba nguyên tắc: đoàn kết, bình đẳng và tương trợ giữa các dân tộc theo nghĩa tộc người. Công trình chứng minh rằng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, bình đẳng là nền tảng, đoàn kết là sức mạnh cốt lõi, và tương trợ là phương thức bảo đảm cho bình đẳng và đoàn kết được thực thi trên thực tế, qua đó góp phần bổ sung luận cứ khoa học cho chuyên ngành Hồ Chí Minh học và Chính trị học.
Về mặt thực tiễn, luận án đã:
- Đánh giá khách quan, toàn diện những thành tựu và hạn chế trong công tác dân tộc của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2017.
- Sử dụng kết quả điều tra xã hội học 300 phiếu hỏi để phản ánh thực chứng nhận thức của cán bộ và đồng bào các dân tộc về chính sách dân tộc, mức độ gắn kết cộng đồng và những vướng mắc phát sinh trong đời sống thực tế.
- Đề xuất hệ thống các phương hướng và 5 nhóm giải pháp vừa mang tính cơ bản lâu dài, vừa mang tính cấp bách, có giá trị ứng dụng trực tiếp phục vụ công tác lãnh đạo, quản lý của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Thái Nguyên nhằm củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc trong giai đoạn hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do nguồn lực và thời gian nghiên cứu thực địa, dung lượng mẫu điều tra xã hội học (300 phiếu) phân bổ cho 9 huyện, thành, thị tuy đảm bảo cơ cấu đại diện nhưng số lượng mẫu tại một số địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc Mông, Dao rẻo cao còn ở mức độ khiêm tốn. Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung chuyên biệt vào địa bàn tỉnh Thái Nguyên, do đó các phân tích gắn liền với đặc thù kinh tế - xã hội địa phương và chưa mở rộng so sánh định lượng đối chiếu với các tỉnh lân cận trong vùng Đông Bắc.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát điều tra thực nghiệm với quy mô mẫu lớn hơn tại các thôn, bản đặc biệt khó khăn; tiến hành nghiên cứu so sánh liên tỉnh giữa Thái Nguyên với các địa phương khác thuộc vùng trung du và miền núi Bắc Bộ; đồng thời theo dõi, đánh giá tác động của các chính sách dân tộc trong giai đoạn phát triển mới gắn với quá trình chuyển đổi số và công nghiệp hóa sâu rộng tại địa phương.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị đối với:
- Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cơ quan tham mưu hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Ban Dân tộc tỉnh Thái Nguyên cũng như các tỉnh miền núi phía Bắc. Trong đó, hệ thống giải pháp ở Chương 4 và kết quả phân tích số liệu khảo sát ở Chương 3 cung cấp cơ sở thực chứng hữu ích cho việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Hồ Chí Minh học, Xã hội học, Chính trị học, Dân tộc học và Quản lý công trong việc tham khảo khung lý luận ở Chương 2 về bộ ba nguyên tắc đoàn kết, bình đẳng, tương trợ và mô hình thiết kế bảng hỏi điều tra xã hội học về chính sách dân tộc.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân tích mối quan hệ biện chứng giữa ba nguyên tắc đoàn kết, bình đẳng và tương trợ trong tư tưởng Hồ Chí Minh như thế nào?
Luận án chỉ ra ba nguyên tắc này có mối quan hệ thống nhất hữu cơ, không tách rời: Bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau là cơ sở và tiền đề để xây dựng khối đại đoàn kết giữa các tộc người; ngược lại, muốn hiện thực hóa quyền bình đẳng trên thực tế thì các dân tộc nhất thiết phải đoàn kết, gắn bó và tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. Tương trợ là điều kiện thiết yếu để thu hẹp khoảng cách phát triển, giúp các dân tộc thiểu số tiến kịp trình độ chung, từ đó củng cố vững chắc nền tảng của bình đẳng và đoàn kết.
2. Địa bàn tỉnh Thái Nguyên có đặc điểm dân cư tộc người ra sao và vì sao việc giải quyết vấn đề dân tộc tại đây lại có ý nghĩa chiến lược?
Tỉnh Thái Nguyên có 8 dân tộc cùng sinh sống xen kẽ gồm: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, Sán Chay, Mông, Hoa, tạo nên cộng đồng gắn kết lâu đời theo mô hình "cộng cư, cộng lợi, cộng cảm và cộng mệnh". Do tỉnh giữ vị trí địa - chính trị trọng yếu, là cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội và trung tâm của toàn vùng Đông Bắc, nên việc giải quyết tốt vấn đề dân tộc tại Thái Nguyên không chỉ bảo đảm ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội nội tỉnh mà còn tác động trực tiếp đến an ninh, quốc phòng và sự phát triển chung của toàn vùng và cả nước.
3. Phương pháp điều tra xã hội học được tác giả triển khai với quy mô mẫu và địa bàn cụ thể như thế nào?
Tác giả đã triển khai một bộ phiếu hỏi gồm 300 phiếu khảo sát trên toàn bộ 9 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Thái Nguyên, cụ thể: Thành phố Thái Nguyên 60 phiếu, Thành phố Sông Công 30 phiếu, Thị xã Phổ Yên 32 phiếu, huyện Phú Bình 28 phiếu, huyện Đồng Hỷ 33 phiếu, huyện Võ Nhai 30 phiếu, huyện Đại Từ 30 phiếu, huyện Định Hóa 30 phiếu, huyện Phú Lương 27 phiếu. Mẫu điều tra thu thập ý kiến từ 4 nhóm đối tượng: chủ thể hoạch định chính sách, chủ thể thực thi chính sách, đối tượng thụ hưởng chính sách và các nhà khoa học.
4. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh được luận án phân tích, quyền bình đẳng giữa các dân tộc cần được triển khai trên những lĩnh vực nào và lĩnh vực nào giữ vai trò nền tảng?
Quyền bình đẳng giữa các dân tộc phải được thực hiện đồng bộ trên bốn lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Trong đó, bình đẳng về kinh tế giữ vai trò nền tảng vật chất, có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện bình đẳng trên các lĩnh vực khác, bởi vì theo quan điểm Mác-xít và chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, đời sống vật chất quyết định đời sống tinh thần ("có thực mới vực được đạo"). Do đó, phải ưu tiên phát triển kinh tế, thúc đẩy sản xuất để nâng cao đời sống và từng bước xóa bỏ sự chênh lệch phát triển giữa miền núi và miền xuôi.
5. Những vấn đề bất cập nổi cộm nào trong công tác dân tộc tại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 1997 - 2017 được luận án nhận diện?
Luận án chỉ ra các vấn đề cấp bách gồm: Khoảng cách phân hóa giàu - nghèo giữa các vùng và nhóm dân tộc ngày càng doãng xa; tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào thiểu số còn cao; kết cấu hạ tầng giao thông, trường học, trạm y tế nông thôn miền núi còn thiếu đồng bộ; văn hóa tộc người đứng trước nguy cơ phai nhạt; đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số vừa yếu về năng lực chuyên môn vừa chưa hợp lý về cơ cấu; áp lực suy thoái môi trường sinh thái và sự xuất hiện của các hiện tượng tôn giáo mới tiềm ẩn phức tạp về an ninh nông thôn.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thị Thủy đã nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện nội dung và giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc theo nghĩa tộc người. Trên cơ sở kết hợp giữa phương pháp lịch sử - lôgíc với phương pháp điều tra xã hội học thực địa gồm 300 phiếu hỏi, tác giả đã đánh giá khách quan thành tựu, hạn chế và nhận diện các vấn đề thực tiễn đang đặt ra trong công tác dân tộc tại tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2017. Các phương hướng và 5 nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án vừa bám sát quan điểm của Hồ Chí Minh, vừa phù hợp với điều kiện thực tế địa phương, cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác hoạch định và thực thi chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.