Mở đầu Chương 2: Tổng quan Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả và thảo luận Chương 5: Kết luận và đề nghị CHƯƠNG 2 TỎNG QUAN 2. Giới thiệu về van đề nghiên cứu Khảo sát về đời sống của cộng đồng dân tộc Bana thôn 1, tức là khảo sát về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội và chú trọng tìm hiểu những khó khăn và nhu cầu của người dân tộc trong lĩnh vực kinh tế. Nghiên cứu đời sống của người dân tộc Bana tại thôn 1 xã Đông là một việc làm thiết thực, tìm hiểu hiểu điều kiện sống và sinh hoạt của người dân tộc như thế nào? Họ có khó khăn hay không? Thôn 1 xã Đông với 100% dân cư là người dân tộc Bana, lập thành một làng (làng Tờ Mật). Qua khảo sát thôn 1 (làng Tờ Mật) tìm ra van dé khó khăn va đưa ra phương pháp giải quyết các khó khăn đó.
Qua nghiên cứu có thể nhận ra những khác biệt giữa cộng đồng người Bana và người Kinh, giúp cho cộng đồng nhìn nhận ra điểm khác biệt và cùng nhau tìm cách giải quyết. Toàn xã có 7 làng, điều kiện ở mỗi làng là khác nhau, tìm ra được các van dé khó khăn của làng Tờ Mật và qua đánh giá hiện trạng của làng ta có thé liên hệ tới các làng khác trong xã, qua đó phát hiện được những van dé cần giải quyết của cộng đồng người dân tộc Bana tại xã Đông, đưa ra một số kiến nghị và giải pháp cụ thể để chính quyền xã xem xét và có chương trình hành động cụ thể giải quyết nhu cầu cho người dân. Vấn đề nghiên cứu cũng đang được chính quyền xã quan tâm giúp đỡ thực hiện. Qua nghiên cứu có thể đưa ra một số kết luận góp phần cho chính quyển xã nhận ra một số nhu cầu của người Bana chưa được đáp ứng và một số khó khăn mới của họ.
Từ đó, đưa ra các biện pháp thiết thực giúp người Bana giải quyết khó khăn và thỏa mãn những nhu cầu của chính mình. Đây là nghiên cứu dau tiên về người dân tộc Bana tại thôn 1 xã Đông. nếu thu được tính khã thi cao sẽ là tiền đề để tìm hiểu rõ hơn về người Bana sống trên địa bàn xã và hơn nữa có thê hướng tới những giải pháp cho cả cộng đồng người Bana trên vùng đất Tây Nguyên. Vì người dân tộc Bana tại xã Đông nói riêng và trong ca huyện, cả vùng Tây Nguyên nói chung có những đặc điểm văn hóa, kinh tế, xã hội tương tự nhau như sống tập trung thành làng, có đời sống văn hóa phong phú với nhiều lễ hội truyền thống (lễ hội đâm trâu, lễ bỏ mã, lễ hội cồng chiêng,.), đời sống dựa vào nghề nông là chính mà chủ yếu là làm ray.
Dua ra các nhận định chính xác về đời sống của họ, nhận ra các khó khăn và có các biện pháp cụ thể giải quyết khó khăn. Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 2. Tông quan xã Đông Xã Đông là một xã của huyện Kbang, diện tích 35,98 km’, dân số 5. Trong năm 2005, xã Đông vừa được tách ra thành xã Đông và xã Dak Smar.
Xã Đông nằm trên trục đường nối thị xã An Khê và thị trấn Kbang, phía bắc giáp thị tran Kbang, nam giáp xã Kon Long Khong, Kon Pla, Đăk Hlo, đông giáp xã Nghĩa An, tây giáp xã Lơ Ku và Tơ Tung. Địa hình xã Đông chủ yếu là đổi núi, điện tích đất bằng ít, phần đất dốc nhiều nên phù hợp cho trồng cây ăn quả, tính tới năm 2006 diện tích cây ăn quả của xã Đông là 126,3ha lớn nhất trong của huyện với 48 ha đã được thu hoạch. Tổng diện tích cây ăn quả của các xã trong huyện Số TT Xã, thi tran Téng dién tich (ha) Tỷ lệ (%) 1 Thitran 40 4/74 2 XãKonPne 11 1,30 3 Xa Dak Roong 35 4,15 4 Xã Son Lang 45 5,33 5 Xã Kroong 40 4,74 6 XãSơPai 163 19,31 7 XãLơKu 34 4,03 8 XãĐông 126 14,96 9 Xã Dak Smar 40 4,74 10 XãNghĩa An 40 4,74 11 Xa To Tung 165 19,54 12 X&KonLo Khong 40 4,74 13 Xa Kon Pla 29 3,43 14 Xã Dak Hlơ 36 4,26 Tổng 844 100 Nguồn tin: Niên giám thông kê huyện Kbang năm 2006 Xã Đông cũng là một trong 3 xã có thế mạnh về cây ăn quả. Một phần điện tích đất đồi đốc, cần cdi bị xói mòn nên bỏ hóa.
Trên địa bàn xã có con sông Ba chảy qua nên là nguồn nước tưới thuận lợi cho vùng đất bằng phẳng gần sông. Một số núi đá được khai thác để phục vụ cho nhu cầu xâu dựng trong xã và huyện. Trên địa bàn xã chủ yếu là người Kinh (3.409 người) và người dân tộc Bana (1.694 người - Miền giảm thông kê huyện Khang năm 2006) sinh sống. Người Kinh chủ yếu từ nơi khác chuyển đến sinh sống, còn người Bana sống ở đây từ lâu đời, họ còn duy trì được nhiều nét văn hóa đặc sắc như văn hóa Công Chiêng.
Đa phân dân cư trong xã sống nhờ nông nghiệp, một số ít buôn bán nhỏ. Báo cáo của UBND xã Đông về tinh hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2006 a) Về lĩnh vực kinh tế — Sản xuất nông nghiệp Trồng trọt: Mặc dù thời tiết nắng hạn kéo dài làm ảnh hưởng đến tiến độ gieo trồng giảm diện tích và năng suất. Tuy nhiên, nhân dân thực hiện gieo trồng diện tích 2.109 ha cây hoa màu các loại. Chăn nuôi: Tổng dan gia súc 4.998 con đạt 94,07% theo kế hoạch của huyện giao, 92,12% kế hoạch của xã.
Tỷ lệ so với cùng kỳ đạt 82,9%. Giá trị thu nhập cả nam: Tổng số lượng lương thực (quy théc) uớc tính 3.019,6 tan đạt 91,02% kế hoạch. Bình quân lương thực (quy thóc) 624kg/người/năm đạt 100,64% chỉ tiêu. Tổng thu nhập bình quân 3.000 đồng/người/năm đạt 100,7% chỉ tiêu.
— Khuyến nông - thú y Khuyến nông: Toàn xã có 10 khuyến nông viên thôn làng. Trong năm đã phối hợp với trạm khuyến nông và bảo vệ thực vật huyện tổ chức 1 đợt hội thảo giống bắp lai Bioxit, 3 đợt hội thảo bảo vệ thực vật, tổ chức trình dién sử dụng thuốc trừ sâu ở 3 làng có 219 người tham gia, qua triển khai hầu hết các hộ dân đã từng bước áp dụng KHKT vào san xuất nâng cao trình độ, khã năng sản xuất, năng suất cây trồng và nâng cao chất lượng san phẩm. Công tác thú y: Trước tinh hình dịch bệnh LMLM diễn biến phúc tạp trên địa ban tinh Gia Lai nói chung và một số xã trên huyện Kbang nói riêng. Được sự chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy, HĐND, UBND, xã đã thành lập tổ thú y, tổ này có nhiệm vụ đến tận các thôn làng triển khai, khoanh vùng, tiêm phòng tụ huyết trùng cho gia súc.
Chỉ đạo cho tổ thú y tiêm văcxin phòng bệnh LMLM cho trâu, bò, heo được 5. Hướng dẫn bà con vệ sinh chuồng trại sạch sẽ để hạn chế đến mức thấp nhất dịch bệnh lây lan. Cho đến thời điểm hiện nay trên địa bàn xã chưa phát hiện có dịch LMLM xảy ra. — Địa chính - xây dựng Được sự chỉ đạo trực tiếp của UBND trong năm đã xét đề nghị cấp mới 124 hồ sơ với tổng diện tích 775.067m”, đất trồng cây lây năm 566.220m?, đất trồng cây hàng năm 211.
Chuyển quyền sử dụng đất 14 hồ so, cho tặng quyền sử dung dat 4 hồ sơ, thừa kế theo văn bản hop gia đình 1 hồ sơ, chuyển mục đích sử dụng đất 4 hồ sơ, đáp ứng nhu cầu của người dân muốn hoàn thành hồ sơ. — Tình hình giao thông Nông Lâm nghiệp Công tác giao thông, thủy lợi: Đã tiến hành nghiệm thu 3 tuyến đường bê tông xi măng theo chương trình kế hoạch của năm 2005 với tổng chiều dài 1.340m tại làng Muôn, lang Rõ, làng Tờ Mật. Kiểm tra khắc phục lún lầy 2 tuyến đường thuộc thôn 8 và thôn 9 với tổng chiều dài 280m, chiều rộng 4m với tổng kinh phí là 7. Kiểm tra 14 tuyến đường sau mưa lũ, có 3 tuyến sạt lở cần tu sữa, đã hoàn thành và đưa vào sử dụng bến đò tại làng Muôn và thôn 4 với tổng kinh phí dự toán 28.000 đồng thực tế thanh toán 25.
Phối hợp khảo sát và thiết kế công trình trạm bơm Tây sông Ba nhằm cung cấp nước tưới cho hơn 200 ha đất sản xuất hiện đang được các ngành chức năng trình UBND tỉnh phê duyệt, đầu tư vào năm 2007. Về lâm nghiệp: Trong năm triển khai trồng 28,2 ha rừng, trong đó trồng theo kế hoạch của lâm trường là 13,2 ha, trồng theo kế hoạch của huyện là 13 ha, tiếp tục chăm sóc rừng trồng thuộc dự án ADB. Phối hợp với các cơ quan chức năng triển khai nhiều biện pháp bảo vệ rừng như kí hợp đồng 1 bảo vệ rừng. Củng cố BCD, 2 tổ PCCC, phối hợp với lâm trường Knat triển khai xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm lâm luật, phối hợp xử lý 4 vụ phát rẫy lắn chiếm rừng, phạt hành chính và buộc các đối tượng làm cam kết không tái phạm.
10 — Công nghiệp, các ngành tiểu thú công nghiệp và các ngành sản xuất vận tải Giá trị sản xuất các ngành còn nhỏ lẻ, manh mun, chủ yếu phục vụ cho đời sống hộ gia đình, tốc độ phát triển các ngành sản xuất, dịch vụ trên toàn xã chậm chiếm tỷ lệ 7,75% hộ trên toàn xã. — Về triển khai thực hiện các dự án và chương trình mục tiêu Hỗ trợ nhà ở, chương trình 134 chính phủ: căn cứ vào chỉ tiêu huyện giao việc triển khai làm nhà 134 cho các hộ đồng bào thiểu số đặc biệt khó khăn về nhà ở năm 2006 là 56 nhà, đã tiến hành nghiệm thu 56/56 nhà đảm bảo quy cách, chất lượng công trình. Kết hợp với UBMT xã cùng hỗ trợ cho 2 gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là người Kinh không có điều kiện để sữa chữa nhà ở, mỗi gia đình 2. Về hỗ trợ đất sản xuất, đất ở chương trình 134 chính phủ: Tổng diện tích trong năm đã giải quyết được 2,13 ha trong đó đất sản xuất 1,82 ha cho 6 hộ, đất ở 0,31 ha cho 9 hộ thuộc thôn 9, làng Đắc Giang 2 đối tượng là hộ đồng bào Bana thiếu đất sản xuất, đất ở.
Về hỗ trợ nước sinh hoạt chương trình 134 chính phủ: Đã triển khai đào 5 giếng nước để đảm bảo nguồn nước sinh hoạt phục vụ cho bà con, phối hợp khảo sát hệ thống tự chảy làng Đắc Giang 2 hiện nay công trình đã và đang được thi công.