Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trong bối cảnh các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên còn đối mặt với nhiều rào cản trong phát triển kinh tế - xã hội. Theo khảo sát được tác giả trích dẫn từ công trình nghiên cứu của Bùi Minh Đạo và Bùi Thị Bích Lan, khoảng cách kinh tế giữa người dân tộc bản địa và người Kinh di cư thể hiện rõ qua các chỉ số: tỷ lệ thiếu vốn sản xuất ở các dân tộc tại chỗ chiếm 81,6% (cao gấp 2 lần người Kinh), thiếu kiến thức làm ăn chiếm 49,76% (cao gấp 3 lần), và tỷ lệ mù chữ của chủ hộ là 25% (cao gấp 4 lần). Tại huyện Kbang, tỉnh Gia Lai, thành phần dân cư có sự biến động lớn với 34 dân tộc mới chuyển đến định cư (tính đến năm 1999). Tại xã Đông, người dân tộc Bana sống tập trung thành từng làng, sinh kế phụ thuộc chủ yếu vào canh tác nương rẫy, tỷ lệ hộ nghèo cao, khả năng tiếp cận khoa học kỹ thuật và thị trường còn hạn chế. Thôn 1 (làng Tờ Mật) là địa bàn thuần đồng bào Bana, vừa được chọn làm điểm xây dựng làng văn hóa kiểu mẫu năm 2006, đặt ra yêu cầu đánh giá thực trạng đời sống kinh tế - xã hội để tìm kiếm giải pháp phát triển bền vững.
Khóa luận xác định các mục tiêu nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Tìm hiểu và phản ánh thực trạng kinh tế, văn hóa, xã hội của thôn, chú trọng nhất về mặt kinh tế.
- Tìm ra những khó khăn của thôn, nhận ra nguyên nhân của những khó khăn và tìm ra giải pháp giúp cộng đồng địa phương giải quyết các vấn đề khó khăn về kinh tế, xã hội.
- Có kết luận đúng đắn về thực trạng kinh tế, xã hội của cộng đồng dân tộc Bana thôn 1.
- Đưa ra một số kiến nghị để chính quyền xã xem xét và có những biện pháp thiết thực, hiệu quả để giải quyết những khó khăn về kinh tế, xã hội cho người Bana trong thôn.
- So sánh kinh tế của người Bana và người Kinh để tìm ra sự khác biệt.
- Đưa ra các giải pháp cụ thể giúp đỡ chính quyền địa phương trong công tác ổn định và phát triển kinh tế cho người dân tộc Bana trong thôn và trong toàn xã.
- Dần tạo ra sự phát triển cân bằng, ổn định kinh tế giữa người Bana và người Kinh, giữa các làng trong xã.
- Góp phần đưa cộng đồng dân tộc từng bước tiếp cận với lối sống văn minh hiện đại và phát triển kinh tế một cách bền vững.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng dân tộc Bana tại thôn 1, xã Đông, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
- Đối tượng khảo sát trực tiếp: Người dân tộc Bana tại thôn 1 (làng Tờ Mật).
- Không gian nghiên cứu: Làng Tờ Mật (thôn 1), xã Đông, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai; có đối chứng thông tin với làng Plei Thung Dôr (xã Chư Á, thành phố Pleiku).
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 20 tháng 3 năm 2007 đến ngày 05 tháng 7 năm 2007.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận sử dụng hệ thống khái niệm và khung lý thuyết thuộc chuyên ngành Phát triển nông thôn và Xã hội học nông thôn:
- Khái niệm nghèo đói: Dẫn chiếu định nghĩa của ESCAP (1993) về nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối; các thước đo nghèo dựa trên mức thu nhập bình quân quy đổi USD theo phân loại của Nguyễn Hữu Nhân (2004); chuẩn nghèo của Việt Nam áp dụng từ ngày 01/01/2006 theo quy định mới là 200.000 đồng/người/tháng đối với khu vực nông thôn miền núi và 260.000 đồng/người/tháng đối với khu vực thành thị.
- Cơ cấu xã hội và cơ cấu xã hội nông thôn: Phân tích hệ thống quan hệ xã hội, vị trí, vai trò của các chủ thể hành động trong không gian nông thôn.
- Gia đình và Hộ gia đình nông thôn: Phân loại hộ thuần nông, hộ hỗn hợp (nông - phi nông) và hộ phi nông nghiệp.
- Khái niệm Làng và Buôn làng Tây Nguyên: Đơn vị cư trú, tổ chức xã hội truyền thống gắn liền với đất đai canh tác, nguồn nước và thiết chế tự quản (già làng, trưởng thôn, nhà rông).
- Khái niệm Nương rẫy: Trích dẫn định nghĩa của Bùi Minh Đạo (2004) về phương thức canh tác dựa trên nền tảng đao canh hỏa chủng, sử dụng đất không liên tục, có chu kỳ bỏ hóa và nguy cơ dẫn đến du canh du cư.
- Khái niệm Phát triển bền vững: Áp dụng định nghĩa của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) về phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với bảo tồn đất, nước, nguồn gen, đảm bảo hiệu quả kỹ thuật, kinh tế và chấp nhận về mặt xã hội.
- Chính sách liên quan: Quyết định 290, Chương trình 134 (hỗ trợ đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt), Chương trình 135 (đầu tư cơ sở hạ tầng vùng khó khăn).
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Phương pháp Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA): Thực hiện 2 nhóm thảo luận tại Nhà rông cộng đồng làng Tờ Mật (10 người/nhóm). Nhóm 1 gồm Già làng, Trưởng thôn và 8 người dân chọn ngẫu nhiên thực hiện tối 15/05/2007; Nhóm 2 gồm Trưởng thôn và các hộ thuộc diện hộ nghèo. Các công cụ PRA được triển khai:
- Lược sử cộng đồng: Tái hiện các mốc hình thành và phát triển của làng.
- Lịch thời vụ: Xác định chu kỳ canh tác, lượng mưa, sâu bệnh, nhu cầu lao động trong năm.
- Giản đồ Venn: Phân tích mức độ quan hệ và tương tác giữa cộng đồng với chính quyền, đoàn thể, trạm khuyến nông, ngân hàng, thương lái.
- Xếp hạng ưu tiên: Đánh giá tầm quan trọng của các loại cây trồng, vật nuôi và các khó khăn sản xuất.
- Lát cắt sinh thái: Khảo sát địa hình, loại đất, cơ cấu cây trồng từ vùng cao đến vùng thấp.
- Phương pháp quan sát: Thực hiện quan sát có tham gia và quan sát không tham gia đối với cảnh quan, điều kiện nhà ở, phương thức chăn nuôi, hoạt động sinh hoạt và canh tác thực tế của người dân.
- Phương pháp phỏng vấn:
- Phỏng vấn sâu không cấu trúc: Tiến hành với lãnh đạo UBND xã Đông, Ban lãnh đạo làng Tờ Mật (Già làng, Trưởng thôn).
- Phỏng vấn có cấu trúc bằng bảng hỏi: Khảo sát mẫu $n = 40$ hộ gia đình được chọn ngẫu nhiên dọc theo các trục đường trong làng Tờ Mật, có sự tham gia hỗ trợ ngôn ngữ của cán bộ thôn.
- Nguồn dữ liệu và thu thập thông tin thứ cấp: Số liệu thống kê, báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội năm 2006 của UBND xã Đông; Niên giám thống kê huyện Kbang năm 2006; tư liệu báo chí đối chứng về làng văn hóa Plei Thung Dôr của tác giả Nguyễn Xuân Phước (báo Gia Lai, ngày 11/04/2007).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Mở đầu
Chương này trình bày tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu về đời sống dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên. Tác giả chỉ ra sự chênh lệch kinh tế giữa người Bana bản địa và người Kinh mới đến, đồng thời tổng hợp số lượng các dân tộc mới chuyển cư đến 4 tỉnh Tây Nguyên đến tháng 4/1999 (Gia Lai: 29 dân tộc; Đắk Lắk: 34 dân tộc; Lâm Đồng: 31 dân tộc; Kon Tum: 25 dân tộc). Chương 1 xác định mục tiêu nghiên cứu, phạm vi không gian tại làng Tờ Mật, thời gian thực hiện (tháng 3 đến tháng 7/2007) và bố cục gồm 5 chương của khóa luận.
Chương 2. Tổng quan
Nội dung chương 2 khái quát về địa bàn nghiên cứu:
- Xã Đông có diện tích 35,98 km², được chia tách từ xã Đông cũ và xã Đắk Smar năm 2005. Toàn xã có diện tích cây ăn quả là 126,3 ha (lớn nhất huyện Kbang, chiếm 14,96% diện tích toàn huyện). Dân số toàn xã gồm 70,3% người Kinh (3.409 người), 29,4% người Bana (1.485 người) và 0,3% dân tộc khác (Tày, Nùng).
- Phân tích tình hình nghèo đói toàn xã Đông chia theo 10 thôn (tính đến tháng 10/2006) cho thấy khoảng cách lớn giữa các nhóm dân cư:
| Thôn |
Tổng số hộ |
Số hộ Kinh |
Số hộ DTTS |
Tổng số hộ nghèo |
Số hộ nghèo DTTS |
Tỷ lệ hộ nghèo chung (%) |
Tỷ lệ hộ nghèo DTTS (%) |
| Thôn 1 |
114 |
0 |
114 |
44 |
44 |
38,60 |
38,60 |
| Thôn 2 |
69 |
0 |
69 |
51 |
51 |
73,91 |
73,91 |
| Thôn 3 |
197 |
197 |
0 |
13 |
0 |
6,60 |
0,00 |
| Thôn 4 |
72 |
72 |
0 |
6 |
0 |
8,33 |
0,00 |
| Thôn 5 |
104 |
104 |
0 |
7 |
0 |
6,73 |
0,00 |
| Thôn 6 |
72 |
71 |
1 |
3 |
0 |
4,17 |
0,00 |
| Thôn 7 |
137 |
129 |
8 |
8 |
1 |
5,84 |
12,50 |
| Thôn 8 |
142 |
140 |
2 |
20 |
0 |
14,08 |
0,00 |
| Thôn 9 |
73 |
0 |
73 |
55 |
55 |
75,34 |
75,34 |
| Thôn 10 |
83 |
44 |
39 |
30 |
29 |
36,14 |
74,36 |
- Thôn 1 (làng Tờ Mật) có 100% người Bana nhưng có tỷ lệ nghèo thấp hơn đáng kể so với thôn 2 (73,91%) và thôn 9 (75,34%). Tỷ lệ hộ nghèo tại thôn 1 giảm nhanh từ 50% (10/2005) xuống 39% (10/2006) và còn 34,51% (05/2007).
- Đưa ra các chỉ số đối chứng từ làng Plei Thung Dôr (thành phố Pleiku): 133 hộ, 650 khẩu, tỷ lệ hộ khá giàu đạt 70%, hộ trung bình 25%, hộ nghèo chỉ 5%; 63,9% nhà xây kiên cố; 100% hộ dùng điện và nước sạch; có 24 xe công nông phục vụ sản xuất.
Chương 3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày cơ sở lý luận về đói nghèo, cơ cấu xã hội nông thôn, hộ gia đình, thiết chế buôn làng, phương thức canh tác nương rẫy và phát triển bền vững. Mô tả chi tiết kỹ thuật triển khai phương pháp PRA với 5 công cụ (lược sử, lịch mùa vụ, sơ đồ Venn, xếp hạng, lát cắt), quy trình phỏng vấn sâu cán bộ địa phương, quy trình khảo sát 40 hộ dân qua bảng câu hỏi in sẵn, và kỹ thuật thu thập số liệu thứ cấp.
Chương 4. Kết quả và thảo luận
Chương 4 phân tích dữ liệu thực nghiệm thu thập tại làng Tờ Mật:
- Lược sử hình thành và phát triển: Làng lập năm 1975 sau giải phóng; năm 1980 bắt đầu khai hoang đất rẫy; giai đoạn 1985 - 1986 thực hiện định canh định cư; năm 1988 - 1989 tiếp nhận chương trình xóa đói giảm nghèo; năm 1990 chuyển đổi sử dụng giống cây trồng mới; năm 1994 hòa mạng điện lưới quốc gia; năm 2002 nuôi thử nghiệm bò giống; năm 2003 nâng cấp đường vào làng; năm 2005 triển khai Chương trình 134 và 135; năm 2006 được phê duyệt xây dựng làng văn hóa kiểu mẫu.
- Cơ sở hạ tầng và nhà ở: Trục đường chính vào làng đã được bê tông hóa (tổng chiều dài 1.340 m nghiệm thu chung cùng làng Muôn, làng Rõ); 100% hộ dân sử dụng điện lưới. Diện tích đất ở bình quân đạt 744 m²/hộ. Nhà ở được kiên cố hóa từng bước nhờ hỗ trợ của Chương trình 134.
- Cơ cấu dân số và lao động: Tính đến ngày 01/05/2007, dân số làng Tờ Mật có 535 người. Cơ cấu độ tuổi gồm: người trong độ tuổi lao động chiếm 54%, trẻ em (dưới và bằng 16 tuổi) chiếm 38%, người già chiếm 8%. Điều tra 40 hộ về số con của các cặp vợ chồng dưới 35 tuổi cho thấy: 55% hộ có 1 - 2 con, 30% hộ có trên 2 con; tâm lý muốn sinh đông con và cần con trai vẫn còn tồn tại.
- Sản xuất nông nghiệp và sinh kế: 100% lao động làm nương rẫy. Cây trồng chính là hoa màu ngắn ngày: bắp, đậu xanh, khoai mì, bí đỏ. Chăn nuôi gia súc (bò, dê) và gia cầm (heo, gà thả vườn) giữ vai trò nguồn thu phụ và tích lũy tài sản. Toàn bộ hộ dân đã từ bỏ tập quán du canh du cư và phá rừng làm rẫy.
- Các hạn chế kinh tế: Đất canh tác đồi dốc bị xói mòn, nhiều diện tích đất xấu lẫn đá bị bỏ hoang; sản xuất phụ thuộc vào thời tiết; kỹ thuật thâm canh hạn chế; người dân gặp khó khăn về đầu ra, thiếu vốn sản xuất và thường phải mua chịu giống, phân bón với giá cao từ các đại lý tư nhân.
Chương 5. Kết luận và đề nghị
Tổng kết các thành tựu về định canh định cư, cải thiện hạ tầng và giảm nghèo tại làng Tờ Mật; đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn về trình độ kỹ thuật, cơ cấu sản xuất đơn điệu và áp lực trả nợ vốn vay. Đưa ra hệ thống kiến nghị cụ thể đối với UBND xã Đông và các cơ quan cấp trên.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính kèm số liệu thực chứng
- Chuyển dịch đời sống và giảm nghèo: Làng Tờ Mật đã hoàn thành định canh định cư, không còn hộ đói từ tháng 10/2005. Tỷ lệ hộ nghèo giảm liên tục qua các mốc thời gian: từ 50% (54/108 hộ, tháng 10/2005) xuống 38,60% (44/114 hộ, tháng 10/2006) và đạt 34,51% (39/113 hộ, tháng 05/2007).
- Đặc điểm nhân khẩu học và lao động: Tổng dân số làng Tờ Mật đạt 535 người (01/05/2007), trong đó lực lượng lao động chiếm tỷ trọng lớn (54%), tạo nguồn nhân lực dồi dào cho nông nghiệp; trẻ em chiếm 38% và người già chiếm 8%.
- Đặc điểm tư liệu sản xuất: 100% hộ dân tham gia canh tác nương rẫy quanh làng. Diện tích khuôn viên đất ở bình quân đạt 744 m²/hộ, tạo điều kiện thuận lợi để bố trí chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm.
- Duy trì thiết chế văn hóa: Làng duy trì đều đặn hoạt động của đội cồng chiêng, đội văn nghệ, đội thể thao; lưu giữ các nghề thủ công truyền thống gồm dệt thổ cẩm, đan lát, ủ rượu cần; phát huy vai trò điều hành phong tục của Già làng song song với vai trò quản trị hành chính của Trưởng thôn.
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
- Đối với chính quyền xã Đông:
- Đào tạo, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ thôn bản là người dân tộc bản địa.
- Tổ chức tập huấn kỹ thuật nông nghiệp theo hình thức "cầm tay chỉ việc", xây dựng mô hình trình diễn thực tế trên rẫy thay cho lý thuyết thuần túy.
- Cung ứng giống cây trồng, vật tư nông nghiệp trợ giá và hỗ trợ kịp thời vụ để giảm tình trạng người dân nhận đầu tư nợ với giá cao từ thương lái.
- Cung cấp cây giống lâm nghiệp (keo, bạch đàn, xoan) để phủ xanh diện tích đất đồi dốc bạc màu; hỗ trợ cây ăn quả trồng trong vườn hộ.
- Hỗ trợ phát triển nghề thủ công truyền thống (dệt thổ cẩm, đan lát, rượu cần) theo hướng sản xuất hàng hóa và tìm kiếm thị trường tiêu thụ.
- Đề xuất Ngân hàng Chính sách Xã hội gia hạn chu kỳ vay vốn nuôi bò, dê thêm 3 đến 4 năm (kéo dài chu kỳ vay lên 6 - 7 năm thay vì 3 năm) để giúp người dân tránh việc phải bán tháo gia súc trả nợ khi giá thị trường sụt giảm hoặc gặp rủi ro dịch bệnh.
- Thực hiện chính sách mua lại đất từ các hộ người Kinh có nhiều đất để chuyển nhượng trả góp ưu đãi cho các hộ đồng bào thiếu đất sản xuất do tách hộ.
- Đào tạo đội ngũ cộng tác viên y tế thôn bản; tuyên truyền vận động loại bỏ các tập tục ma chay, cưới hỏi kéo dài và lễ cúng tốn kém.
- Đối với chính quyền trung ương:
- Đầu tư xây dựng trạm bơm và hệ thống công trình thủy lợi dọc sông Ba phục vụ nước tưới cho đất sản xuất.
- Ban hành chính sách ưu tiên tuyển dụng, hỗ trợ việc làm cho lao động dân tộc thiểu số tại các nhà máy, xí nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn huyện Kbang.
Đóng góp của khóa luận
Đây là công trình nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên về thực trạng kinh tế - xã hội tại làng Tờ Mật (thôn 1, xã Đông, huyện Kbang). Khóa luận cung cấp bộ dữ liệu thực địa có giá trị khoa học về quá trình chuyển đổi sinh kế của đồng bào Bana, làm cơ sở thực chứng để chính quyền địa phương hoàn thiện mô hình xây dựng "làng văn hóa kiểu mẫu" và nhân rộng sang các buôn làng dân tộc thiểu số khác trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do giới hạn về mặt thời gian thực tập tốt nghiệp (từ ngày 20/03/2007 đến ngày 05/07/2007), nghiên cứu chưa thực hiện được việc thống kê, hạch toán chi tiết toàn diện các chỉ tiêu thu chi nội bộ của từng hộ gia đình; quy mô khảo sát bảng hỏi dừng lại ở mẫu $n = 40$ hộ.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô điều tra định lượng về cán cân thu - chi hộ gia đình nông dân; mở rộng phạm vi khảo sát so sánh sang 6 làng dân tộc Bana còn lại của xã Đông (làng Muôn, làng Rõ, làng Đắc Giang 2, làng Tung, làng Cốp, làng Đắc Gia) và các cộng đồng Bana khác trên địa bàn toàn huyện Kbang.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Khuyến nông, Xã hội học nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Dân tộc học; cán bộ quản lý thuộc Phòng Dân tộc, Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Kbang, UBND xã Đông và cán bộ làm công tác giảm nghèo tại khu vực Tây Nguyên.
- Phần nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Quy trình ứng dụng bộ công cụ PRA (lược sử, lịch mùa vụ, giản đồ Venn, ma trận xếp hạng) trong nghiên cứu thực địa cộng đồng buôn làng Tây Nguyên tại Chương 3.
- Khung bảng hỏi điều tra hộ gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại phần Phụ lục 2.
- Hệ thống dữ liệu kinh tế - xã hội cơ sở, số liệu đối chứng nghèo đói giữa các thôn của xã Đông và huyện Kbang giai đoạn 2005 - 2007 tại Chương 2 và Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ hộ nghèo tại thôn 1 (làng Tờ Mật) biến động như thế nào trong giai đoạn 2005 - 2007?
Theo số liệu từ UBND xã Đông và điều tra của tác giả, tỷ lệ hộ nghèo tại thôn 1 giảm liên tục: tháng 10/2005 là 50% (54/108 hộ), tháng 10/2006 giảm xuống 38,60% (44/114 hộ), và đến tháng 05/2007 chỉ còn 34,51% (39/113 hộ). Từ tháng 10/2005, làng đã hoàn toàn không còn hộ đói.
2. Cơ cấu dân số và độ tuổi lao động của làng Tờ Mật tính đến tháng 5/2007 được ghi nhận ra sao?
Tính đến ngày 01/05/2007, toàn làng có 535 nhân khẩu. Trong đó, nhóm người trong độ tuổi lao động (16 - 60 tuổi đối với nam, 16 - 55 tuổi đối với nữ) chiếm 54%; nhóm trẻ em từ 16 tuổi trở xuống chiếm 38%; nhóm người già chiếm 8%.
3. Tác giả đã triển khai phương pháp PRA tại làng Tờ Mật thông qua những hoạt động cụ thể nào?
Tác giả đã tổ chức 2 nhóm thảo luận tại Nhà rông cộng đồng (10 người/nhóm) vào tối ngày 15/05/2007. Nhóm 1 gồm Già làng, Trưởng thôn và 8 người dân chọn ngẫu nhiên; Nhóm 2 gồm Trưởng thôn và các hộ nghèo. Tiến trình sử dụng 5 công cụ chính: Lược sử làng, Lịch thời vụ cây trồng, Giản đồ Venn phân tích tổ chức, Xếp hạng ưu tiên cây trồng/vật nuôi/khó khăn, và Lát cắt sinh thái.
4. Tác giả đề xuất điều chỉnh cụ thể gì đối với chính sách vay vốn ngân hàng nuôi gia súc của người dân?
Tác giả đề xuất Ngân hàng Chính sách Xã hội cần gia hạn thời gian trả nợ thêm từ 3 đến 4 năm (nâng tổng thời hạn vay lên 6 - 7 năm thay vì mức 3 năm hiện hành). Đề xuất này xuất phát từ thực tế giá bò, dê thương phẩm giảm mạnh và rủi ro vật nuôi chết bệnh, khiến người dân khi đến hạn 3 năm phải bán non gia súc chịu lỗ để trả nợ gốc.
5. Tỷ lệ hộ nghèo giữa các thôn thuần người Bana và các thôn đa số người Kinh tại xã Đông chênh lệch như thế nào vào tháng 10/2006?
Số liệu tháng 10/2006 cho thấy sự chênh lệch rất lớn: các thôn 100% người Bana có tỷ lệ nghèo rất cao (thôn 1 là 38,60%, thôn 2 là 73,91%, thôn 9 là 75,34%), trong khi các thôn có cư dân đa số là người Kinh có tỷ lệ nghèo thấp hơn nhiều lần (thôn 3 là 6,60%, thôn 4 là 8,33%, thôn 5 là 6,73%, thôn 6 là 4,17%, thôn 7 là 5,84%).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lê Văn Quang đã phản ánh bức tranh thực nghiệm toàn diện về đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của cộng đồng dân tộc Bana tại làng Tờ Mật (thôn 1, xã Đông, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai) trong giai đoạn chuyển đổi 2005 - 2007. Bằng việc kết hợp phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) với điều tra mẫu 40 hộ, tác giả đã làm rõ các thành tựu về định canh định cư, giảm nghèo và hiện đại hóa hạ tầng, đồng thời chỉ ra các rào cản nội tại về đất đai bạc màu, thiếu hụt kỹ thuật và phụ thuộc nương rẫy. Hệ thống giải pháp đề xuất gắn chặt với điều kiện thực tế địa phương, từ kéo dài chu kỳ tín dụng chăn nuôi, chuyển giao kỹ thuật thực địa tại rẫy, phát triển làng nghề thủ công đến đầu tư thủy lợi phục vụ phát triển nông thôn bền vững.