CHƯƠNG I TONG QUAN TÀI LIỆU 1. Lịch sử nghiên cứu về thực vật dân tộc học “Thuật ngữ Thực vật dân tộc học (Ethnobotany) được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1895 trong bài giảng của TS. John Harshberger ở Philadenphia. cho rằng thực vật học dan tộc là nghiên cứu “Các cây được sử dung bởi người thuỷ và các thé dan”, Một năm sau đó (1896), trong bài thuyết trình đầu tiên của mình về Thực vật dân tộc học, Harshberger đã chỉ ra rằng, day là lĩnh vực nghiên cứu làm sáng tỏ *Vị thế văn hoá của các bộ lạc đã sử dụng thực vật để làm thực phẩm, nơi cư trú và quân áo”.
Như vậy, đến lúc này, các nhà thực vật dân tộc học mới chỉ xem xét tới ba nhóm cây có giá trị quan trọng là cây ăn được (làm lương thực - thực phẩm); cây làm nhà, lêu trại và các cây có sợi. Ngoài ra, đối tượng của các nghiên cứu được xác định là "bộ lạc”, "thổ dan” và “người nguyên thuỷ" [9], Sau đó, thuật ngữ *Thực vật dân tộc” được thừa nhận và sử dụng rộng rãi trong nhiều công trình nghiên cứu. Tuy nhiên, vào những năm đầu thế kỷ 20, các công trình nghiên cứu đã tập trung vào việc điều tra, ghỉ chép vé thành phản cây có ích và cách sử dung của chúng, Đến năm 1916, các nhà nghiên cứu Thực vật dan tộc học đã nhận thức được sự cẩn thiết phải bổ sung lý thuyết và phương pháp luận cho lĩnh vực nhiên cứu mới này. Khi đó, Thực vật dan tộc học không chỉ là sự thu thập nhiều hơn nữa các tri thức mà còn phải đánh giá vẻ giá tị khoa học của các phương pháp sử dụng trong điều tra và tính xác thực của kết quả.
Nam 1941, Thực vat dan tộc học đã có một bước tiến mới về nhận thức và mục tiêu nghiên cứu. Lúc này, nó không chỉ bao gồm các nghiên cứu liên quan tới kinh nghiệm sử dụng thực vật của các nhóm người nguyên thuỷ mà còn nghiên cứu mối liên quan giữa người nguyên thuỷ và giới thực vật. Các nhà nghiên cứu đã mô tả sự phụ thuộc của đời sống vat chất, tinh than của các cộng đồng dân cư vào giới thực vật địa phương, đã đưa ra các luận chứng khoa học về bảo tổn, truyền thống văn hoá của các cộng đồng trên cơs cùng tồn tại hài hoà với giới thực vật [9] Năm 1978 là thời kỳ có sự thay đồi lớn nhất vẻ nghiên cứu Thực vật dan tộc học, Rechand Ford đưa ra quan niệm “Sy tổng hợp mới của Thực vật dân tộc học” [47]. Theo quan niệm này, các nhà thực vật dân tộc học cần phải có năng lực để nhận biết các loài cây có ý nghĩa gì làm cơ sở cho sự phân chia chúng trên cơ sở các nén văn hoá khác nhau.
Xác định được dân cư của các. nên văn hoá đã nhận thức chúng, sử dụng chúng và phụ thuộc vào chúng như thế nào. Để thực hiện được các nội dung của mình, Thực vật dân tộc học đã thực sự trở thành một bộ môn khoa học đa ngành, vì thế nó cũng chấp nhận nhiều lý thuyết và phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học khác có liên quan như thực vật học, dược học, hóa học, khảo cổ học. Tình hình nghiên cứu cay có ích trên Thế giới và 1.
Tình hành nghiên cứu về cây có ích trên thế giới 12/11. iy có ích trong đời sống nhân loại. Lịch sử phát triển, tiến hoá của loài người gắn liền với quá trình sử dung tài nguyên thiên nhiên trên trai đất, trong đó, cây cỏ luôn là đối tượng được con người sử dụng đầu tiên và nhiều nhất. Ban đầu ct lẻ đáp ứng các nhu.
cầu vẻ cái ăn và nơi cư trú. Nhưng din dan trong quá trình tiến hoá, con người lại biết gieo trồng, cham sóc, thu hái, cất giữ và chế biến những loại cây mang lại nhiều lợi ích cho đời sống của mình. Để thích nghỉ và tổn tại, con người phải chống chịu với thiên nhiên lúc này xuất hiện nhu cầu vẻ thuốc chữa bệnh và chất độc để săn bắt. Vì vậy, vai trò của cây cỏ gần như bao trùm toàn bộ đời sống con người (lương thực - thực phẩm, nơi cư trú, thuốc, may mặc, săn cả các nghĩ lễ tôn giác).
Xã hội loài người phát triển hơn thì các nhu cầu xã hội khác cũng hình thành theo, lúc này họ không chỉ đời hỏi được an đẩy đủ mà phải được an ngon, họ không còn để cơ thể mình một cách tự nhiên nữa mà phải có cái che thân, rồi mặc đẹp do vậy, cây cỏ không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh học của con người mà còn là nguồn nguyên liệu cho các mục đích khác. Tất cả quá trình đồ cứ xảy ra dân dân, qua đó người dan tích lug lại các kinh nghiệm thực tế. Những kinh nghiệm này được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua việc học hỏi lẫn nhau giữa những người cùng một thế hệ và kinh nghiệm tự tích luỹ được của mỗi cá nhân qua quá trình lao dong [50] Những tài liệu ghi lại việc sử dụng thực vật của người phương Tây là vào khoảng 1770 năm trước công nguyên của người Neanderthal và khoảng 1550 nam trước Công nguyên của người Ai cập cổ đại. Người Ai Cập cổ tin tưởng vào giá tị của cây cỏ không chỉ cho người sống mà nó còn cổ tác động mạnh mẽ tới các vị vua Ai Cập cổ (Pharaohs) đã chết.
Trong các ngôi mộ cổ Ai Cap, xác chết được ngâm tẩm bởi nhiều loại dầu, hương liệu thực vật và được quấn bằng vải cây lanh. Điều đó chứng tỏ, người Ai Cập chắc chin biết cất tinh dâu và dệt vải. Cũng trong thời gian này lịch sử nền y học Trung Quốc, Ấn Độ đều ghi nhận về việc sử dung các cây cỏ làm thuốc cách đây khoảng 3000- 5000 năm. “Từ 3000 năm trước đây, Kinh Về Da, Ấn Độ đã nói về hương hoa để cúng bái ‘Trung Quốc là một trong những nước phát hiện và sử dụng nhiều dược thio xớm nhất thế giới.
Theo truyền thuyết của Vua Thần Nông tức Viêm Đế (3320 — 3080 trước công nguyên) thì Thần Nông đã nếm hàng trăm loại cây cỏ, phân loại dược tính của thảo mộc và soạn ra sách “Thin Nông bản thảo”. Cuốn “Thain Nông bản thảo” đã thống kê được 365 vị thuốc có giá tri [43]. ‘Tir thời Tam quốc (222-265 CN), danh y Hoa Đà đã sit đụng Đàn hương, Tit đỉnh hương để chế hương nang (túi thơm), sử dung hương thơm của chúng.để chống lại bệnh lao phổi và bệnh ly. Ong còn dùng hoa Cúc, Kim ngân phơi khô cho vào chiếc gối để gối đầu (Hương chim) để điều trị đau đầu, mất ngủ, cao huyết ấp.
6 châu Âu, vào những nam 1960 cũng đã phát t in phương pháp dùng hương thơm chữa bệnh (Phương hương té liệu pháp - Aromathérapie) là một bộ phận của Hoa trị liệu pháp. Thời kỳ đầu của giai đoạn này, giới Y học Pháp võ tình phát hiện một hiện tượng đặc biệt: Các nữ công nhân trong xưởng nước hoa không ai bị bệnh phổi. Xưởng chế tạo đó sau này trở thành xưởng xản xuất hoá học về chất thơm từ thực vật và chế tạo nước hoa [11]. Ngoài tác dung chữa bệnh, hoa còn là một nhân tố quan trong trong văn hóa ẩm thực đồng thời để bồi bổ sức khoẻ.
Dùng hoa làm thức ăn (Hoa thực) là một môn nghệ thuật với các cách chế biến khác nhau thành các. xắc- mùi vị hấp dẫn, tăng hứng thú vị giác, thi giác và khứu giác. Y học hiện đại đã tứng minh mau sắc của hoa có ic dụng nhất định đối với điều tiết chức năng chuyển hoá trong cơ thé. Hoa Kim cúc có tác dụng giải độc.
Màu sắc của thức ăn nói chung và của hoa nói riêng có tắc dụng làm cho ngon miệng (thực dục) và còn có tác động đến tâm sinh lý: màu đỏ làm tăng hưng phấn than kinh trong bữa ăn; màu vàng làm cho thích ăn, vui vẻ; trên bàn an có hoa màu trắng làm cho người an có cảm giác thong thả, thư. giãn; màu xanh lục làm cho hô hấp và mạch dap ổn định, hạ huyết áp một cách tương đối Sử dung thực vat gin lién với lịch sử phat triển của loài người. Trải qua nghìn năm, một số lượng lớn ác loài thực vật bậc cao đã và đang được con người sử dụng làm thuốc chữa bệnh. Theo thống kế của UNESCO năm.
1992, ở các vùng nông thôn của các nước đang phát triển, các sản phẩm làm. lương thực- thực phẩm có nguồn gốc thực vật chiếm tỷ lệ 90- 93%; các sản phẩm làm thuốc có tỷ lệ là 70- 80%. Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì đến năm 1985 đã có gắn 20.000 loài thực vật (trong tổng số 250.000 loài đã biết) được sử dụng làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất để chế biến thuốc. Trong đó ở Ấn Độ có khoảng 6.000 loài, Trung Quốc 5.000 loài, Vùng nhiệt đới châu Mỹ hơn 1.900 loài, mức độ sử dụng thuốc ngày càng cao, Trung Quốc tiêu thụ hằng năm khoảng 700.000 tấn được liệu trong tổng số khoảng 1.000 tấn trên thế giới [53].
Sản phẩm thuốc Y học ‘dan tộc đạt giá trị hơn 1,7 tỉ USD năm 1986. Tổng giá trị thuốc có nguồn gốc thực vật trên thị trường Âu- Mỹ và Nhật Bản năm 1985 là trên 43 tỉ USD. Riêng ở Nhật Bản, lượng dược liệu nhập khẩu năm 1979 là 21.000 tấn, đến năm 1980 lên đến 22.640 tấn, tương dương 50 triệu USD [54] Tuy vay, những con số liên quan tới y học chưa thống kê được còn lớn hơn nhiều. Một số lượng lớn các loài thực vật.
được thầy lang chữa bệnh theo vi lượng đồng căn hoặc các nhà nghiên cứu thảo mộc dùng để sản xuất *Thuốc thực vat” hoặc "Thuốc thảo mộc”. Những sản phẩm này được bán nhiều trong các cửa hang “Thue phẩm thức an”, các siêu thị và các cơ sở dược phẩm ở nhiều nước trên thế giới (Lewington,1993). Một con số rất lớn cây thuốc được sử dụng để sản xuất “Chè thảo mộc”, "Chè thuốc”, Ngoài ra người ta còn quan tâm tới giá trị tử dung của ie dịch chiết từ thực vat và cây thuốc. An xuất thực phẩm chức năng, làm gia vị và sử dụng trong ngành công nghiệp mỹ phẩm.
Thành nu và xu hướng nghiên cứu cây có ích của các dân tộc “Trong quá trình khai thác tự nhiên phục vụ cho các nhu cầu của cuộc xống, các cộng đồng dân tộc đã tích luỹ riêng cho mình những trí thức, kinh nghiệm sử dụng thực vật. Nhìn chung, các trì thi về thực vật, kinh nghiệm sử. dung và các tập đoàn cây có ích truyền thống chỉ lưu truyền trong những phạm vi hẹp.