Tổng quan nghiên cứu

Tại huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh, công tác xóa đói giảm nghèo đã ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực khi tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện năm 2016 giảm xuống còn 1.362 hộ, chiếm 5,01%. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo do phụ nữ dân tộc thiểu số làm chủ hộ vẫn chiếm mức cao với 28,8%. Đặc biệt, tại xã vùng cao biên giới Đồng Văn với diện tích tự nhiên gần 6.300 ha và hơn 2.500 ha rừng hồi, đời sống người dân còn đối mặt vô vàn thử thách. Đến hết năm 2017, toàn xã vẫn còn 255 trên tổng số 676 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 37,72%, cùng 178 hộ cận nghèo, chiếm 26,33%. Trong đó, phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số đơn thân là nhóm đối tượng chịu tổn thương nặng nề nhất do vừa thiếu hụt tư liệu sản xuất, vừa gánh chịu áp lực tâm lý mặc cảm và định kiến xã hội.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề nan đề kép về kinh tế và tâm lý xã hội của phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số. Mục tiêu cụ thể của luận văn là làm rõ cơ sở lý thuyết công tác xã hội cá nhân, nhận diện các rào cản phát triển của thân chủ, và trực tiếp vận dụng tiến trình can thiệp 7 bước nhằm hỗ trợ thân chủ giải tỏa khủng hoảng tâm lý, kết nối nguồn lực sinh kế và từng bước vươn lên thoát nghèo bền vững.

Phạm vi nghiên cứu và can thiệp thực địa được triển khai tại Thôn 8, xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh trong thời gian từ tháng 7 năm 2018 đến tháng 3 năm 2019. Ý nghĩa thực tiễn của công trình được khẳng định qua việc đóng góp giải pháp hỗ trợ chính quyền địa phương hoàn thành mục tiêu giảm nghèo năm 2018, đưa 130 hộ thoát nghèo đạt 100% kế hoạch, hạ tỷ lệ hộ nghèo toàn xã từ 37,72% xuống 17,8%, đồng thời tạo tiền đề nâng mức thu nhập từ 650.000 đồng mỗi tháng cho trường hợp can thiệp chuyên sâu và hỗ trợ 46 hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ trên địa bàn xã.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hai khung lý thuyết nền tảng của ngành công tác xã hội và xã hội học:

Thứ nhất, Lý thuyết thang bậc nhu cầu của Abraham Maslow. Lý thuyết này phân cấp 5 tầng nhu cầu của con người bao gồm: nhu cầu thể chất sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu tình cảm xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự hoàn thiện. Nhân viên công tác xã hội ứng dụng lý thuyết Maslow để định vị chính xác thân chủ đang ở tầng đáy của tháp nhu cầu khi mức thu nhập chỉ đạt 650.000 đồng mỗi tháng, thiếu thốn lương thực và chi phí y tế. Kế hoạch trợ giúp ưu tiên giải quyết các nhu cầu sinh tồn cơ bản trước khi thúc đẩy nhu cầu giao tiếp xã hội và khẳng định giá trị bản thân.

Thứ hai, Lý thuyết hệ thống sinh thái. Cá nhân thân chủ được nhìn nhận như một tiểu hệ thống tương tác qua lại mật thiết với ba phân hệ môi trường: hệ thống phi chính thức gồm gia đình, họ hàng, láng giềng; hệ thống chính thức gồm Chi hội Phụ nữ, Ban Xóa đói giảm nghèo xã; và hệ thống xã hội gồm trạm y tế, trường học, ngân hàng chính sách. Lý thuyết này định hướng cho nhân viên công tác xã hội phát hiện những điểm nghẽn trong mối quan hệ xung quanh thân chủ để hàn gắn và huy động ngoại lực.

Hệ thống khái niệm công cụ được chuẩn hóa dựa trên các chuẩn mực quốc tế và quốc gia: Khái niệm nghèo đói theo ESCAP năm 1993 và Hội nghị Thượng đỉnh Copenhagen năm 1995 với chuẩn sống dưới 1 USD mỗi ngày; khái niệm phụ nữ nghèo chịu thiệt thòi đa chiều; và khái niệm công tác xã hội cá nhân theo Helen Harris Perlman cùng khung pháp lý Quyết định 32/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phát triển nghề công tác xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ dữ liệu thứ cấp gồm 12 báo cáo kinh tế xã hội giai đoạn 2017 - 2018 của Ủy ban nhân dân xã Đồng Văn, các số liệu điều tra hộ nghèo theo chuẩn tiếp cận đa chiều, cùng nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp tại thực địa.

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu định tính có chủ đích với tổng cộng 14 cuộc phỏng vấn sâu bán cấu trúc. Mẫu khảo sát bao gồm: 01 thân chủ trọng điểm là phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con tàn tật tại Thôn 8, 01 Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã kiêm Trưởng ban Xóa đói giảm nghèo, 01 Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Đồng Văn, 01 Chi hội trưởng Hội Phụ nữ Thôn 8, và 10 phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số đại diện cho các hộ khó khăn trên địa bàn.

Phương pháp phân tích dữ liệu: Tác giả kết hợp phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp quan sát tham dự trực tiếp và gián tiếp, kỹ thuật cây vấn đề, sơ đồ phả hệ gia đình và bản đồ sinh thái. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là vì tính chất đặc thù của công tác xã hội cá nhân đòi hỏi sự thấu hiểu sâu sắc từng hoàn cảnh riêng biệt, giúp bóc tách mối liên hệ nhân quả giữa thiếu hụt kinh tế và tổn thương tâm lý mà các bảng hỏi định lượng đại trà không thể đo lường chi tiết.

Timeline nghiên cứu: Toàn bộ tiến trình nghiên cứu và thực hành can thiệp được thực hiện liên tục từ tháng 7 năm 2018 đến tháng 3 năm 2019 theo đúng chu trình 7 bước chuẩn mực của công tác xã hội cá nhân.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tình trạng kiệt quệ tài chính và thiếu hụt tư liệu sản xuất trầm trọng. Toàn bộ 100% phụ nữ nghèo đơn thân tham gia khảo sát chỉ dựa vào canh tác nông nghiệp tự cung tự cấp với diện tích đất canh tác rất ít, bình quân chỉ 3 sào ruộng mỗi hộ. Điển hình như trường hợp thân chủ Vũ Thị Thu sinh năm 1982 tại Thôn 8, nguồn thu nhập lao động chỉ đạt khoảng 650.000 đồng mỗi tháng cộng với khoản trợ cấp bảo trợ xã hội 1.080.000 đồng theo Nghị định 136 cho hai mẹ con. Mặc dù năm 2017 các đoàn thể xã đã đứng ra tín chấp cho vay vốn sản xuất gần 10,567 tỷ đồng, nhưng các hộ phụ nữ nghèo đơn thân hầu như không tiếp cận được do thiếu tài sản bảo đảm và nỗi lo rủi ro dịch bệnh chăn nuôi.

Thứ hai, gánh nặng tâm lý mặc cảm và sự cô lập xã hội ở mức báo động. Kết quả phỏng vấn sâu 10 phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số cho thấy có tới 70% (7 trên 10 người) phản ánh họ hoàn toàn không có thời gian nghỉ ngơi hoặc tham gia sinh hoạt đoàn thể. Riêng thân chủ nghiên cứu ca phải một mình chăm sóc con trai út sinh năm 2009 bị liệt tứ chi bẩm sinh sau khi chồng qua đời vì tai nạn giao thông năm 2015. Sự kỳ thị vô hình từ cộng đồng cùng áp lực kinh tế đã đẩy 100% phụ nữ có hoàn cảnh tương tự vào trạng thái tự ti, khép mình, nảy sinh tâm lý cam chịu và phó mặc cho số phận.

Thứ ba, sự phân hóa nghèo đói sâu sắc theo địa bàn thôn bản và khoảng cách tiếp cận dịch vụ. Thống kê năm 2017 toàn xã có 141 hộ nghèo (12,54%) và 111 hộ cận nghèo (9,97%) trên tổng số 1.186 hộ gia đình. Tỷ lệ phụ nữ nắm bắt kỹ thuật nông nghiệp tiến bộ dưới 20%.

Bảng thống kê phân bố hộ nghèo và hộ cận nghèo tại 8 thôn xã Đồng Văn năm 2017:

Thứ tự Tên thôn, xóm Tổng số hộ Số hộ nghèo Tỷ lệ hộ nghèo (%) Số hộ cận nghèo Tỷ lệ cận nghèo (%)
1 Thôn 1 203 16 7,88 6 2,95
2 Thôn 2 158 9 5,70 6 3,80
3 Thôn 3 124 14 11,30 4 3,22
4 Thôn 4 103 15 18,45 4 3,90
5 Thôn 5 141 15 10,60 20 14,20
6 Thôn 6 177 28 15,82 14 7,90
7 Thôn 7 102 20 19,60 19 18,20
8 Thôn 8 178 24 13,48 38 21,34
Tổng Toàn xã 1.186 141 12,54 111 9,97

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn cốt dẫn tới tình trạng nghèo đói dai dẳng của phụ nữ dân tộc thiểu số tại xã Đồng Văn là sự đan xen giữa rào cản nội tại và môi trường bên ngoài. Về chủ quan, trình độ học vấn thấp làm hạn chế năng lực tiếp thu khoa học kỹ thuật, kết hợp với tâm lý cam chịu tạo nên sức ỳ lớn. Về khách quan, địa hình miền núi chia cắt, khoảng cách 24 km cách xa trung tâm thị trấn, cùng chi phí thuốc men điều trị bệnh tật cho người thân đã bào mòn toàn bộ nguồn lực tích lũy ít ỏi của gia đình.

So sánh với các nghiên cứu trước đây của Lương Hồng Quang năm 2001 về văn hóa nhóm nghèo và báo cáo của Oxfam năm 1999 về phân tầng xã hội, kết quả nghiên cứu tại Đồng Văn tái khẳng định quy luật: trợ cấp xã hội đơn thuần chỉ giải quyết được phần ngọn mang tính cứu trợ tức thời. Điểm đột phá của luận văn là chứng minh rằng, khi nhân viên công tác xã hội đóng vai trò tham vấn tâm lý 1-1 kết hợp kết nối sinh kế mô hình trồng nấm rơm tại nhà, thân chủ đã thay đổi nhận thức rõ rệt, chủ động xóa bỏ mặc cảm và từng bước làm chủ kinh tế gia đình.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tổ chức đào tạo nghề nông nghiệp ngắn hạn theo mô hình 3 trong 1 gắn với bao tiêu sản phẩm. Động từ hành động: Triển khai các lớp dạy nghề trồng nấm rơm, trồng cây dược liệu và kỹ thuật chăn nuôi bò sinh sản ngay tại gia đình hội viên. Chỉ số mục tiêu: Nâng mức thu nhập bổ sung của 100% phụ nữ nghèo tham gia đạt tối thiểu 2.500.000 đồng mỗi tháng. Khung thời gian: Thực hiện định kỳ 2 khóa mỗi năm trong giai đoạn 2019 - 2022. Chủ thể thực hiện: Ban Xóa đói giảm nghèo xã chủ trì, phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Đồng Văn và các đơn vị dạy nghề huyện Bình Liêu.

Thứ hai, thiết lập mạng lưới tham vấn tâm lý và nhóm phụ nữ tự lực cơ sở. Động từ hành động: Thành lập các nhóm hỗ trợ đồng đẳng và câu lạc bộ phụ nữ tự lực tại từng thôn bản. Chỉ số mục tiêu: Thu hút ít nhất 85% phụ nữ nghèo đơn thân và gia đình có người khuyết tật tham gia sinh hoạt định kỳ, xóa bỏ 100% tình trạng tự cô lập xã hội. Khung thời gian: Bắt đầu từ quý 1 năm 2019 và duy trì sinh hoạt hàng tháng. Chủ thể thực hiện: Chi hội Phụ nữ Thôn 8 phối hợp với nhân viên công tác xã hội chuyên trách.

Thứ ba, mở rộng hạn mức tín dụng ưu đãi vi mô không cần tài sản thế chấp. Động từ hành động: Xét duyệt và giải ngân nguồn vốn tín dụng ưu đãi qua tổ tiết kiệm và vay vốn ủy thác. Chỉ số mục tiêu: Đạt tỷ lệ tăng trưởng dư nợ vốn vay cho phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số từ 15% mỗi năm, nâng mức vay bình quân lên 30 đến 50 triệu đồng mỗi hộ. Khung thời gian: Triển khai chu kỳ tín dụng hàng năm từ 2019 đến 2023. Chủ thể thực hiện: Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Bình Liêu phối hợp cùng Hội Phụ nữ xã Đồng Văn.

Thứ tư, hoàn thiện mạng lưới cung cấp dịch vụ xã hội và bảo trợ y tế lưu động. Động từ hành động: Cấp phát 100% thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, tổ chức các đợt khám chữa bệnh và cấp phát thuốc định kỳ tại nhà cho người tàn tật nặng. Chỉ số mục tiêu: Đảm bảo 100% trẻ em khuyết tật và phụ nữ yếu thế thụ hưởng đầy đủ các gói trợ cấp theo Nghị định 136 và chính sách bảo trợ xã hội hiện hành. Khung thời gian: Rà soát và cập nhật dữ liệu 6 tháng một lần. Chủ thể thực hiện: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Bình Liêu phối hợp với Trạm Y tế xã Đồng Văn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Cán bộ lãnh đạo và chuyên viên quản lý an sinh xã hội cấp huyện, xã. Lợi ích: Tiếp cận phương pháp luận đánh giá nghèo đa chiều và quy trình can thiệp xã hội sát thực tế địa phương. Tình huống sử dụng: Xây dựng kế hoạch giảm nghèo bền vững, phân bổ nguồn vốn tín chấp hơn 10 tỷ đồng và triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

Thứ tư, Nhân viên công tác xã hội thực hành và chuyên viên tư vấn tâm lý. Lợi ích: Nắm vững bộ công cụ chẩn đoán chuyên sâu gồm sơ đồ phả hệ, bản đồ sinh thái và cây vấn đề trong can thiệp cá nhân 1-1. Tình huống sử dụng: Áp dụng trực tiếp để đồng hành, trị liệu tâm lý và quản lý ca cho các đối tượng phụ nữ đơn thân, người khuyết tật và nhóm yếu thế trong cộng đồng.

Thứ ba, Cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp. Lợi ích: Thấu hiểu sâu sắc các rào cản tâm lý đặc thù của phụ nữ dân tộc thiểu số vùng cao. Tình huống sử dụng: Đổi mới nội dung sinh hoạt chi hội, thành lập các câu lạc bộ hỗ trợ sinh kế và tổ chức các chiến dịch truyền thông xóa bỏ định kiến giới tại thôn bản.

Thứ tư, Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội, Xã hội học. Lợi ích: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo thực nghiệm sâu sắc về thực hành can thiệp giảm nghèo theo định hướng ứng dụng của Quyết định 32/2010/QĐ-TTg. Tình huống sử dụng: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy tình huống, phát triển đề tài nghiên cứu học thuật và viết khóa luận chuyên ngành.

Câu hỏi thường gặp

Tiến trình 7 bước công tác xã hội cá nhân trong luận văn được vận dụng cụ thể ra sao? Tiến trình can thiệp bao gồm: Tiếp cận thân chủ, Thu thập thông tin, Chẩn đoán, Lập kế hoạch can thiệp, Triển khai kế hoạch, Lượng giá và Kết thúc chuyển giao. Nhân viên công tác xã hội đã áp dụng tiến trình này từ tháng 7 năm 2018 đến tháng 3 năm 2019 để đồng hành cùng thân chủ Vũ Thị Thu tại Thôn 8, giúp thân chủ từ tâm lý bi quan chuyển sang tự tin tham gia học nghề trồng nấm rơm.

Đâu là rào cản lớn nhất đối với việc thoát nghèo của phụ nữ dân tộc thiểu số tại xã Đồng Văn? Rào cản lớn nhất là sự kết hợp giữa áp lực kinh tế và sự tự ti, cô lập xã hội. Khảo sát thực tế cho thấy 70% phụ nữ nghèo không có thời gian tham gia hoạt động xã hội. Thân chủ nghiên cứu ca vừa phải gánh vác 3 sào ruộng, vừa nuôi con khuyết tật, dẫn đến tâm lý cam chịu số phận kéo dài nếu không có sự hỗ trợ tâm lý chuyên môn.

Lý thuyết hệ thống sinh thái hỗ trợ giải quyết vấn đề của thân chủ như thế nào? Thuyết hệ thống sinh thái giúp nhân viên công tác xã hội nhận diện các đứt gãy trong mạng lưới quan hệ của thân chủ với láng giềng và chính quyền. Qua đó, người làm công tác xã hội đã đóng vai trò cầu nối tái thiết lập mối liên kết với Chi hội Phụ nữ Thôn 8 và Ban Xóa đói giảm nghèo xã để huy động nguồn lực hỗ trợ toàn diện.

Mô hình dạy nghề 3 trong 1 mang lại lợi ích thiết thực gì cho phụ nữ nghèo đơn thân? Mô hình đào tạo nghề trồng nấm rơm 3 trong 1 đài thọ 100% nguyên liệu và chi phí học tập, cho phép thân chủ nhận phôi nấm về chăm sóc tại nhà. Điều này giúp thân chủ vừa có nguồn thu nhập cải thiện cuộc sống, vừa chủ động thời gian chăm sóc con nhỏ bị liệt tứ chi mà không phải đi làm thuê xa nhà.

Luận văn đã đóng góp những số liệu thực tế nào cho công tác giảm nghèo tại huyện Bình Liêu? Luận văn cung cấp bức tranh chi tiết về 141 hộ nghèo chiếm 12,54% và 111 hộ cận nghèo tại 8 thôn của xã Đồng Văn năm 2017. Đồng thời, nghiên cứu ghi nhận kết quả giảm nghèo ấn tượng năm 2018 với 130 hộ thoát nghèo đạt 100% kế hoạch, hạ tỷ lệ hộ nghèo toàn xã từ 37,72% xuống còn 17,8%.

Kết luận

  • Khẳng định tính cấp thiết và hiệu quả vượt trội của phương pháp công tác xã hội cá nhân trong việc can thiệp, trợ giúp phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số tại vùng cao biên giới.
  • Vận dụng thành công sự kết hợp giữa lý thuyết thang bậc nhu cầu Maslow và thuyết hệ thống sinh thái để giải quyết đồng thời nan đề suy thoái kinh tế và khủng hoảng tâm lý của thân chủ tại Thôn 8, xã Đồng Văn.
  • Cung cấp hệ thống bằng chứng thực nghiệm phong phú, phản ánh sinh động quá trình giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn xã Đồng Văn từ 37,72% năm 2017 xuống 17,8% năm 2018.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo nghề tại chỗ, tín dụng ưu đãi vi mô và xây dựng mạng lưới an sinh xã hội cơ sở.
  • Đóng góp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn giá trị, thúc đẩy quá trình chuyên nghiệp hóa nghề công tác xã hội tại Việt Nam theo tinh thần Quyết định 32/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2019 đến 2025, chính quyền các cấp cần tiếp tục hoàn thiện chính sách, bố trí chức danh nhân viên công tác xã hội chuyên trách tại các xã đặc biệt khó khăn. Độc giả, nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách hãy cùng khai thác và nhân rộng các mô hình can thiệp thực tiễn từ luận văn thạc sĩ này để chung tay kiến tạo tương lai phát triển bền vững, nhân văn cho phụ nữ nghèo vùng dân tộc thiểu số.