MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong xu thế hợp tác và toàn cầu hóa hiện nay, vấn đề xóa đói giảm nghèo (XĐGN) trở thành mối quan tâm hàng đầu cần giải quyết của mỗi quốc gia và cả cộng đồng Quốc tế. Việt Nam là một nước có thu nhập khá thấp, do đó chương trình mục tiêu Quốc gia về XĐGN là một chiến lược trọng tâm, lâu dài để đẩy lùi đói nghèo và tiến kịp trình độ phát triển kinh tế của các nước tiên tiến trên thế giới. Từ đó, Việt Nam triển khai thực hiện các chương trình Quốc gia về XĐGN nhằm góp phần tạo thêm thu nhập chính đáng cho người nông dân ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế bền vững và chính trị xã hội ổn định.
XĐGN bền vững nhấn mạnh đến yếu tố tự vươn lên của người nghèo, xây dựng được các mối quan hệ xã hội lành mạnh, giảm được khoảng trống ngăn cách với người giàu. Đồng thời hạn chế và xoá bỏ được các tệ nạn xã hội khác, bảo vệ môi trường sinh thái. Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được thành tựu to lớn trong công cuộc giảm nghèo. Theo báo cáo đánh giá nghèo Việt Nam của Ngân hàng thế giới (World Bank), hơn 30 triệu người đã thoát nghèo trong hai thập kỷ (1990-2010).
Tỷ lệ nghèo đói đã giảm nhanh chóng từ 60% từ hồi đầu những năm 1990 xuống còn 20,7 % trong 2010. Năm 2015, phấn đấu đạt mục tiêu giảm nghèo theo Nghị quyết số 10/2011/QH13 của Quốc hội, giảm tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước còn dưới 5%, các huyện nghèo còn dưới 30%. [45] Bên cạnh những kết quả đạt được, trong thời gian tới cần tập trung rà soát chính sách để loại bỏ những chính sách lạc hậu, không còn phù hợp và bổ sung những chính sách mới; Huy động các nguồn lực cho công tác giảm nghèo và thực hiện lồng ghép, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, tránh trông chờ vào ngân sách Trung ương. Bước sang thế kỉ XXI, đặc biệt trong giai đoạn 2011-2015, nước ta sẽ phải đối mặt với hàng loạt các thách thức mới trong tấn công đói nghèo như: Nghèo đói tập trung chủ yếu ở một số vùng 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có điều kiện kinh tế xã hội kém phát triển, trình độ dân trí thấp và tốc độ giảm nghèo chậm hơn các thời kỳ trước; Các khoản hỗ trợ ưu đãi dần bị cắt giảm khi Việt Nam ra khỏi danh sách các nước có thu nhập thấp; Sự biến đổi khí hậu sẽ tác động nhiều đến sản xuất kinh doanh trong đó có ngành nông nghiệp – nơi đang tạo thu nhập chủ yếu cho đại bộ phận người dân ở nông thôn.
Để chống đỡ với những thách thức này, đòi hỏi Việt Nam cần tập trung mọi nguồn lực để xây dựng cho mình một chiến lược giảm nghèo đa chiều, trong đó tăng cường mạnh mẽ tiếng nói và sự tham gia tích cực của người nghèo. Công tác xã hội (CTXH) là một môn khoa học và là một nghề mới ở nước ta nhưng nó đã khẳng định được vai trò quan trọng trong quá trình tạo sự công bằng, bình đẳng, giúp con người nâng cao nhận thức, cải thiện kỹ năng và sống hạnh phúc hơn. Trong vấn đề nghèo đói, CTXH đã phát huy mạnh mẽ vai trò của mình trong việc kết nối nguồn lực và điều phối các dịch vụ nhằm đảm bảo tính toàn diện và bền vững của các chính sách về XĐGN. Xuất phát từ thực tế địa phương, việc kết nối các nguồn lực chưa thực sự được chú trọng hoặc phân bổ chưa hợp lý, việc lồng ghép giữa chính sách và nguồn lực còn nhiều hạn chế; các chính sách cho vấn đề XĐGN còn chồng chéo về chức năng và nhiệm vụ; việc tổ chức thực hiện dàn trải nhiều chính sách với nhiều bộ ngành, đoàn thể cùng tham gia nhưng thiếu sự giám sát dẫn đến hiệu quả sử dụng nguồn lực không cao.
Hơn nữa việc kết nối, phát triển kinh tế - xã hội giữa các thôn, bản trên địa bàn cũng gặp nhiều khó khăn do những khác biệt về địa hình, giao thông, dân số, những tác động bất lợi của thời tiết, thiên tai, bão lũ những năm gần đây đã ảnh hưởng lớn đến việc giảm nghèo bền vững. Đội Bình là xã nằm ở phía Nam huyện Yên Sơn – cửa ngõ của tỉnh Tuyên Quang. Tính đến tháng 12/2014, toàn xã có 114 hộ nghèo - chiếm 7,6%; cận nghèo là 171 hộ, chiếm 13,2 % số dân của toàn xã. [45] Là xã miền núi, giao thông đi lại khó khăn, cùng với xuất phát điểm kinh tế - xã hội thấp, đất sản xuất nông nghiệp ít, dân cư sinh sống phân tán, trình độ dân trí thấp nên quá trình XĐGN diễn ra chậm.
Hiện toàn xã có 14 thôn, trong đó có 4 thôn bản đặc biệt 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khó khăn. Đó là những rào cản đáng ngại trong công cuộc giảm nghèo bền vững ở địa phương. Do đó cần nhiều phương pháp trợ giúp và cách thức tiếp cận thực sự hiệu quả. Từ những hạn chế đó, tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: "Vai trò kết nối các nguồn lực nhằm hỗ trợ xóa đói giảm nghèo tại xã Đội Bình, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang trong giai đoạn từ năm 2010 đến nay" với mong muốn sẽ mang đến góc nhìn mới về XĐGN với vai trò kết nối nguồn lực trong CTXH và góp phần thúc đẩy giảm nghèo một cách bền vững tại địa phương.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu của đề tài Trong lịch sử hình thành và phát triển đất nước, nghèo đói là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta và cũng là đề tài được phân tích bởi nhiều nhà báo, nhà nghiên cứu,… Dưới đây, tác giả xin được trích dẫn một số bài viết, báo cáo, dự án xoay quanh chủ đề này. Các nghiên cứu về đói nghèo, xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam Với đề tài “Cuộc chiến chống nghèo đói thực trạng và giải pháp” tác giả cho rằng tín dụng ưu đãi là biện pháp tỏ ra có tác dụng mạnh trong việc trợ giúp người nghèo. Tuy nhiên, về vấn đề bền vững của các hoạt động tín dụng ưu đãi này, theo tác giả cần phải thay đổi cơ chế, từng bước chuyển dần từ cơ chế ưu đãi, bao cấp (lãi suất thấp, không phải thế chấp) sang cơ chế thương mại, gắn tín dụng với tiết kiệm, hạn chế rủi ro cho người nghèo và nhất là cung cấp tín dụng kịp thời (Nguyễn Hữu Hải, 2005). Tác giả cũng đề xuất nâng dần lãi suất theo cơ chế thị trường, đối với các xã khó khăn có thể áp dụng lãi suất ưu đãi thêm một thời gian, đối với vùng có điều kiện phát triển hơn thì chuyển sang cho vay hộ nghèo với lãi suất thương mại, khuyến khích hộ nghèo kết hợp vay vốn với tiết kiệm, trợ giúp đào tạo và chuyển giao công nghệ.[14] Trong nghiên cứu “Định hướng tiếp cận giải quyết vấn đề về nghèo đói của nước ta”, (2005) Nguyễn Hữu Hải một lần nữa đã khẳng định nghèo đói là vấn đề toàn cầu, không một quốc gia nào giải quyết triệt để được.
Đồng thời tác giả đã khẳng định những thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực XĐGN là một thành 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công không nhỏ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, làm cho các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn đã có sự thay đổi đáng kể, nhất là về kết cấu hạ tầng và phát triển sản xuất, đời sống của đại đa số người dân được nâng cao, đặc biệt là nhóm hộ nghèo, đồng bào ở dân tộc miền núi, phụ nữ (thu nhập tăng 21%, đời sống được cải thiện về nhiều mặt (thu nhập, sức khỏe, đi lại, học hành,…), tạo được sự đồng thuận cao hơn giữa các tầng lớp dân cư, các nhóm xã hội. Bên cạnh những thành tựu đạt được, tác giả còn nêu lên những khó khăn trong quá trình triển khai chương trình XĐGN như: nguồn kinh phí do Trung Ương bố trí còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra, một số chính sách hỗ trợ còn chưa phù hợp với người nghèo, hệ thống theo dõi, giám sát chương trình chưa được tổ chức một cách có hệ thống, thiếu đội ngũ, cán bộ có đủ năng lực, phẩm chất để thực hiện chương trình.[15] Báo cáo “Giảm nghèo ở Việt Nam: Thành tựu và thách thức” (2011) do nhóm nghiên cứu thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam bao gồm Nguyễn Thắng (trưởng nhóm) cùng các đồng sự Nguyễn Thị Thu Phương, Trần Ngô Minh Tâm, Lê Đặng Trung, và Nguyễn Thị Thu Hằng thực hiện. Thứ nhất, báo cáo đã chỉ ra những thành tựu ấn tượng trong giảm nghèo của Việt Nam trong hai thập kỷ qua song tiến độ không đồng đều và chưa bền vững giữa các nhóm dân cư và vùng miền. Từ đó, tác giả nhận định cần có các chính sách tinh tế hơn, trong đó tính đến đặc thù của từng nhóm dân cư để đạt hiệu quả cao trong giảm nghèo và giúp đất nước tránh được “bẫy bất bình đẳng”.
Thứ hai, nghiên cứu đã phân tích những cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đánh giá những tác động của nó đến nghèo đói và bất bình đẳng. Thứ ba, các tác giả đã chỉ ra những thách thức trong công tác giảm nghèo đối với nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, tình trạng nghèo ở đô thị, xu hướng gia tăng tình trạng bất bình đẳng trong xã hội và vấn đề biến đổi khí hậu mà con người phải đối mặt nếu vấn đề nghèo đói chưa được giải quyết hoặc giải quyết không hiệu quả, bền vững.[50] 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương trình Liên hợp quốc và quốc gia thành viên với nghiên cứu: “Sáng kiến quản lý về giới và chính sách kinh tế ở châu Á – Thái Bình Dương: Giới và Đói nghèo” (2012) đã giới thiệu những định nghĩa và thước đo về đói nghèo, đồng thời tìm hiểu sự tương tác về giới ảnh hưởng tới đói nghèo như thế nào và các mối liên hệ giữa chính sách việc làm, giới với đói nghèo. Các tác giả đã phân tích một cách sâu sắc định nghĩa và thước đo đói nghèo trong thu nhập và tiêu dùng. Theo đó đói nghèo thường được mô tả như một tình trạng những cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng thiếu các nguồn lực để tạo ra những nguồn thu nhập có thể duy trì mức tiêu dùng đủ đáp ứng các nhu cầu cho một cuộc sống đầy đủ, sung túc.
Theo cách tiếp cận này, đói nghèo là tình trạng thiếu thốn vật chất.