Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hà Nội sở hữu diện tích đất nông nghiệp rộng lớn lên tới 179.000 ha. Tuy nhiên, trước đây ruộng đất bị phân tán nghiêm trọng với bình quân từ 10 đến 12 thửa ruộng trên mỗi hộ gia đình, cá biệt có nơi lên tới 30 đến 40 thửa nhỏ với diện tích trung bình chỉ 150 m² mỗi thửa. Tình trạng manh mún tư liệu sản xuất này gây lãng phí lớn công lao động, cản trở việc áp dụng cơ giới hóa và làm chậm tiến độ xây dựng nông thôn mới. Nhằm hiện thực hóa mục tiêu trên 40% số xã đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2015 theo Chương trình 02-CTr/TU, công tác dồn điền đổi thửa đã được xác định là khâu đột phá mang tính quyết định.

Vấn đề cốt lõi nảy sinh trong quá trình triển khai là sự xung đột quyền lợi phức tạp của người dân, bao gồm việc hoán đổi ruộng tốt với ruộng xấu, ruộng gần với ruộng xa, hay tranh chấp phần diện tích đất dôi dư. Đề tài tập trung làm rõ thực trạng tổ chức dồn điền đổi thửa và đánh giá chuyên sâu vai trò của công tác xã hội tại huyện Ba Vì trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015. Địa bàn nghiên cứu điển cứu gồm 4 xã đại diện: Tản Hồng, Châu Sơn, Phú Phương và Đồng Thái. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp giải pháp vận động cộng đồng, tháo gỡ điểm nghẽn cho 4,1% diện tích đất tồn đọng chưa hoàn thành tương đương 3.128,04 ha trên toàn thành phố, hướng tới mục tiêu giảm triệt để số thửa xuống còn 1 đến 2 thửa trên mỗi hộ canh tác.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng đồng bộ 3 hệ thống lý thuyết nền tảng của khoa học xã hội và công tác xã hội nhằm giải mã hành vi con người trong bối cảnh tái cấu trúc nông thôn:

  • Thuyết vai trò xã hội: Dựa trên các luận điểm của Robert K. Merton, Erving Goffman và Jean Maisonneuve, lý thuyết giải thích cấu trúc vị thế, kỳ vọng xã hội và sự xung đột vai trò của đội ngũ cán bộ cơ sở. Đồng thời, lý thuyết định vị vai trò chủ thể chủ động của người nông dân thay vì chỉ là đối tượng thụ hưởng thụ động.
  • Thuyết nhận thức - hành vi: Phân tích cơ chế chuyển biến tâm lý của người dân từ trạng thái nghi ngại, bảo thủ sang đồng thuận hành động thông qua các kỹ thuật sao chép kỹ năng, giải quyết vấn đề và tái cấu trúc nhận thức đối với chính sách đất đai mới.
  • Thuyết thang bậc nhu cầu của Abraham Maslow: Nhận diện 5 tầng bậc nhu cầu từ an toàn sinh kế đến nhu cầu được tôn trọng và tự khẳng định quyền lợi, giúp nhân viên xã hội thiết kế các giải pháp can thiệp đúng tâm lý người dân.

Nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm công cụ then chốt gồm: Công tác xã hội chuyên nghiệp, Dồn điền đổi thửa, Phát triển cộng đồng bền vững, cùng Kỹ năng truyền thông theo mô hình truyền thông xúc tiến hỗn hợp và mô hình 5 thành tố của Harold Lasswell.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được tổng hợp đa tầng:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Kế hoạch số 68/KH-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Hướng dẫn số 29/HD-SNN của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cùng Nghị quyết số 29/NQ-HĐND ngày 29/6/2012 của Hội đồng nhân dân huyện Ba Vì về dồn điền đổi thửa giai đoạn 2012-2016.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: Khảo sát thực địa với cỡ mẫu gồm 28 khách thể, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu mục đích (purposive sampling). Mẫu nghiên cứu bao gồm: 20 người dân trực tiếp sản xuất nông nghiệp tại 4 xã (gồm cả hộ đã hoàn thành và hộ còn khiếu kiện), 4 cán bộ lãnh đạo chính quyền cấp huyện, xã và 4 cán bộ phụ trách công tác giảm nghèo, an sinh xã hội cơ sở.
  • Phương pháp phân tích: Kết hợp phân tích tài liệu, phương pháp quan sát tham dự và kỹ thuật phỏng vấn sâu cá nhân. Lý do lựa chọn phương pháp định tính chuyên sâu là vì các vướng mắc trong đất đai mang bản chất tâm lý - xã hội sâu sắc; phương pháp này giúp nắm bắt toàn diện tâm tư, nguyện vọng và giải mã nguyên nhân gốc rễ của những mâu thuẫn cộng đồng mà các bảng hỏi định lượng khó lượng hóa đầy đủ. Toàn bộ quá trình thu thập thông tin được triển khai thực hiện từ năm 2011 đến đầu năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  • Hiệu quả dồn đổi diện tích đất canh tác: Tính đến quý III năm 2014, toàn thành phố Hà Nội đã dồn điền đổi thửa đạt 97,11% kế hoạch với tổng diện tích hơn 74.000 ha. Tại huyện Ba Vì, việc thực hiện phương án đo đạc thực địa đã giúp giảm mạnh số thửa bình quân từ 10-12 thửa xuống chỉ còn từ 1 đến 2 thửa trên mỗi hộ gia đình.
  • Sự phân hóa rõ rệt giữa các xã thực nghiệm: Xã Tản Hồng dù có diện tích đất sản xuất nông nghiệp lớn nhất huyện nhưng đạt tỷ lệ hoàn thành cao nhất nhờ phát huy dân chủ cơ sở. Ngược lại, xã Đồng Thái gặp nhiều khó khăn, phát sinh nhiều đơn thư khiếu kiện kéo dài do thiếu minh bạch trong khâu phân chia diện tích đất tốt và đất xấu. Hai xã Châu Sơn và Phú Phương đạt kết quả trung bình với sự đồng thuận ở mức khá.
  • Khẳng định 4 vai trò trụ cột của công tác xã hội: Nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội tại Ba Vì đã phát huy vai trò vận động kết nối nguồn lực, vai trò tư vấn - tham vấn tâm lý, vai trò trợ giúp xây dựng kế hoạch cộng đồng và đặc biệt là vai trò tuyên truyền, vận động chính sách. Điển hình, sự tham gia của công tác xã hội đã giúp vận động hàng trăm hộ dân tự nguyện hiến đất làm đường giao thông và thủy lợi nội đồng.
  • Tồn tại điểm nghẽn cục bộ: Toàn thành phố vẫn còn 4,1% diện tích đất chưa hoàn thành dồn điền (tương đương 3.128,04 ha trên địa bàn 48 xã của 12 huyện). Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc cán bộ thực hiện đa phần là kiêm nhiệm, thiếu kỹ năng truyền thông thuyết phục và chưa thấu hiểu các nguyên tắc hành vi của cộng đồng.

Thảo luận kết quả

Thực tế nghiên cứu cho thấy rào cản lớn nhất của công tác dồn điền đổi thửa không nằm ở khía cạnh kỹ thuật đo đạc mà nằm ở yếu tố tâm lý xã hội. Người nông dân luôn có tâm lý lo sợ bị thiệt thòi về quyền lợi sinh kế khi nhận lại ruộng đất mới. Khi cán bộ cơ sở thực hiện thiếu công khai hoặc dùng mệnh lệnh hành chính, sự phản kháng của người dân sẽ gia tăng nhanh chóng.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các công bố khoa học tại huyện Phú Vang (tỉnh Thừa Thiên Huế) và tỉnh Hải Dương khi chỉ ra rằng việc tích tụ ruộng đất luôn kéo theo những biến đổi sâu sắc về quan hệ làng xóm. Tuy nhiên, điểm mới vượt trội của luận văn là chứng minh việc ứng dụng các kỹ năng công tác xã hội (lắng nghe, thấu cảm, điều phối nhóm) giúp tỷ lệ đồng thuận của người dân tăng cao hơn hẳn so với cách làm hành chính áp đặt. Toàn bộ dữ liệu so sánh tỷ lệ hoàn thành giữa 4 xã khảo sát cùng ma trận đánh giá 4 vai trò công tác xã hội có thể được trực quan hóa rõ nét thông qua biểu đồ cột tiến độ và bảng tổng hợp các chỉ số can thiệp cộng đồng.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Xây dựng và chuẩn hóa mô hình truyền thông hai chiều: Áp dụng mô hình truyền thông của Lasswell kết hợp xúc tiến hỗn hợp, tổ chức các buổi họp thôn công khai để lắng nghe phản hồi của người dân. Mục tiêu nâng tỷ lệ hộ dân đồng thuận với phương án giao ruộng đạt trên 98%. Thời gian thực hiện từ quý I/2015 đến hết năm 2016 do Tiểu ban dồn điền đổi thửa phối hợp với Mặt trận Tổ quốc xã chủ trì.
  • Đào tạo và bồi dưỡng kỹ năng công tác xã hội chuyên sâu: Tổ chức các khóa tập huấn nghiệp vụ ngắn hạn (thời lượng tối thiểu 40 giờ) về kỹ năng tham vấn, kỹ năng hòa giải tranh chấp và kỹ năng làm việc nhóm cho 100% cán bộ kiêm nhiệm tại 31 xã, thị trấn của huyện Ba Vì. Thời gian triển khai định kỳ hàng quý trong giai đoạn 2015-2016 do Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện phối hợp với các cơ sở đào tạo chuyên ngành thực hiện.
  • Thiết lập quy trình tham vấn cộng đồng có sự tham gia của người dân: Áp dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) vào quá trình đo đạc, lập sơ đồ giao thông thủy lợi và tổ chức bốc thăm thứ tự nhận ruộng công khai. Mục tiêu giảm 90% số lượng khiếu nại phát sinh tại các điểm nóng như xã Đồng Thái. Thời gian áp dụng từ quý II/2015 do Ủy ban nhân dân các xã và tổ hòa giải cơ sở phụ trách.
  • Hỗ trợ sinh kế và chuyển đổi cơ cấu sản xuất sau dồn điền: Triển khai các gói hỗ trợ kỹ thuật canh tác thâm canh, đưa cơ giới hóa vào đồng ruộng và kết nối tiêu thụ nông sản cho hơn 10.750 lao động địa phương. Mục tiêu nâng giá trị sản xuất nông lâm nghiệp thủy sản tăng trên 15% mỗi năm. Thời gian thực hiện giai đoạn 2016-2020 do Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì phối hợp với Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đảm nhiệm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ lãnh đạo cấp ủy và chính quyền cơ sở (Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã, Ban chỉ đạo Nông thôn mới): Tiếp cận khung phương pháp quản lý dân chủ, nắm vững quy trình xử lý điểm nóng tranh chấp đất đai và xây dựng phương án dồn điền đổi thửa hợp lòng dân.
  • Nhân viên công tác xã hội và chuyên viên phát triển cộng đồng: Vận dụng hệ thống kỹ năng truyền thông, kỹ thuật tham vấn cá nhân và phương pháp phát triển cộng đồng có sự tham gia (PRA) vào các dự án tái cơ cấu kinh tế nông thôn.
  • Các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên ngành Công tác xã hội, Xã hội học, Quản lý đất đai: Sử dụng bộ dữ liệu thực địa phong phú từ 28 khách thể tại 4 xã của huyện Ba Vì làm tài liệu tham khảo khoa học, mở rộng nghiên cứu về mối quan hệ giữa an sinh xã hội và chuyển đổi đất đai.
  • Ban quản trị hợp tác xã nông nghiệp và đại diện ban tự quản thôn/xóm: Tham khảo cách thức tổ chức họp dân, phương pháp bốc thăm phân lô công bằng và kinh nghiệm giữ gìn khối đại đoàn kết xóm làng trong suốt quá trình sắp xếp lại đồng ruộng.

Câu hỏi thường gặp

Vai trò quan trọng nhất của công tác xã hội trong dồn điền đổi thửa là gì? Vai trò trọng tâm là tuyên truyền, vận động chính sách và tham vấn giải tỏa tâm lý lo âu của người dân. Thực tế khảo sát tại 4 xã thuộc huyện Ba Vì khẳng định nhân viên công tác xã hội đóng vai trò cầu nối, giúp người dân hiểu rõ lợi ích dài hạn, từ đó tự nguyện hợp thửa từ 10-12 thửa xuống 1-2 thửa lớn mà không làm rạn nứt tình làng nghĩa xóm.

Làm cách nào để xử lý triệt để các khiếu nại đất đai phức tạp như tại xã Đồng Thái? Nghiên cứu chỉ ra rằng cần thay thế mệnh lệnh hành chính bằng phương pháp đánh giá có sự tham gia của cộng đồng (PRA). Chính quyền cơ sở cần công khai toàn bộ số liệu đo đạc thực tế, tổ chức đối thoại trực tiếp và giải quyết thỏa đáng phần diện tích chênh lệch trước khi cho các hộ tiến hành bốc thăm nhận ruộng.

Thuyết nhu cầu Maslow được ứng dụng như thế nào trong quy trình dồn điền đổi thửa? Lý thuyết Maslow giúp nhận diện người nông dân luôn ưu tiên thỏa mãn nhu cầu an toàn sinh kế trước khi hướng tới các mục tiêu phát triển lớn hơn. Người làm công tác xã hội phải cam kết và đảm bảo tính công bằng trong phân chia độ màu mỡ của đất, từ đó tạo nền tảng tâm lý an tâm để bà con tích cực hiến đất làm giao thông nội đồng.

Vì sao dồn điền đổi thửa được coi là khâu đột phá trong xây dựng nông thôn mới tại Ba Vì? Huyện Ba Vì có 12.892 ha đất đồng bằng và 18.478 ha đất đồi núi. Việc quy hoạch lại đồng ruộng giúp đưa máy móc cơ giới vào sản xuất, giảm chi phí canh tác, giải phóng sức lao động cho hơn 10.750 người và trực tiếp thúc đẩy hoàn thành 19 tiêu chí nông thôn mới trên địa bàn 31 xã, thị trấn.

Luận văn sử dụng phương pháp chọn mẫu nào để bảo đảm giá trị khoa học? Tác giả đã áp dụng phương pháp chọn mẫu mục đích tại 4 xã có đặc tính phân hóa rõ rệt gồm Tản Hồng, Châu Sơn, Phú Phương và Đồng Thái. Cỡ mẫu phỏng vấn sâu gồm 20 hộ dân trực tiếp canh tác cùng 8 cán bộ quản lý và chuyên viên an sinh xã hội, đảm bảo tính đại diện và phản ánh đa chiều thực trạng nghiên cứu.

Kết luận

  • Khẳng định tính cấp thiết: Luận văn chứng minh công tác xã hội là công cụ then chốt giúp giải quyết các xung đột tâm lý - xã hội phức tạp trong quá trình dồn điền đổi thửa tại huyện Ba Vì.
  • Giá trị thực tiễn nổi bật: Đề tài cung cấp giải pháp vận động hiệu quả giúp giảm số thửa bình quân từ 10-12 thửa xuống còn 1-2 thửa/hộ, hỗ trợ toàn huyện nâng cao hiệu quả canh tác trên diện tích hơn 31.000 ha đất tự nhiên.
  • Đóng góp lý luận vững chắc: Nghiên cứu đã tích hợp thành công thuyết vai trò xã hội, thuyết nhận thức - hành vi và thuyết nhu cầu Maslow vào thực tiễn quản trị đất đai nông thôn Việt Nam.
  • Lộ trình triển khai rõ ràng: Đề xuất hệ thống giải pháp giai đoạn 2015-2016 tập trung vào bồi dưỡng kỹ năng cho 100% cán bộ kiêm nhiệm và chuẩn hóa quy trình tham vấn cộng đồng 3 bước.
  • Hành động thiết thực: Các nhà quản lý chính sách và cơ quan quản trị địa phương cần nhanh chóng thể chế hóa chức danh nhân viên công tác xã hội tại cơ sở, đồng thời áp dụng rộng rãi các kỹ năng truyền thông chuyên nghiệp nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững.