Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những vấn đề chung về cộng đồng 1. Khái niệm cộng đồng Theo từ điển Đại học Oxford khái niệm cộng đồng được diễn giải theo nhiều cách như sau: (1) Cộng đồng là tập thể người sống trong một khu vực, một tỉnh hoặc một quốc gia và được xem là một khối thống nhất; (2) Cộng đồng là một nhóm người có cùng tín ngưỡng, chủng tộc, cùng loại hình nghề nghiệp hoặc có cùng mối quan tâm; (3) Cộng đồng là một tập thể cùng chia sẻ hoặc có tài nguyên chung, hoặc có tình trạng tương tự nhau về một số khía cạnh nào đó. Như vậy, theo cách diễn giải trên, cộng đồng cõ những điểm chung như địa lý, văn hóa và lợi ích.
Việc xác định đúng đắn một cộng đồng sẽ tạo ra sức mạnh của sự tham gia, tính đồng nhất và khả năng duy trì lâu dài của các hoạt động phong trào. - Đồng nhất về địa lý: Yêu cầu cộng đồng phải cùng chung sống trong một vùng địa lý sinh thái, cùng một đơn vị hành chính. - Đồng nhất về lợi ích: Trong trường hợp bảo vệ môi trường thì lợi ích về môi trường cần xác định rõ. - Đồng nhất về văn hóa: Tùy trường hợp mà tìm kiếm những giá trị văn hóa chung để tổ chức sự tham gia.
Tóm lại, cộng đồng là một nhóm người cùng sống trong một khu vực nhất định, họ có chung đặc điểm về địa lý, tín ngưỡng, văn hóa, có sự tác động qua lại lẫn nhau và có cùng sử dụng tài nguyên vốn có để đạt được mục đích chung. Ý thức của cộng đồng Theo Trần Văn Phòng (2017) đã đưa ra các khái niệm sau: 3 1. Khái niệm Con người được sinh ra và trưởng thành từ trong cộng đồng. Chỉ có thông qua cộng đồng, cá nhân con người mới được xã hội hóa, mới trở thành người, trong cuộc sống, bất kỳ tổ chức, một cộng đồng nào cũng đều đòi hỏi mỗi người sống trong nó phải có một ý thức chung.
Khái niệm về ý thức cộng đồng được hiểu như sau: “Ý thức cộng đồng có thể hiểu là tổng thể tư tưởng, quan điểm, tâm trạng, thói quen, cách hành xử,…thể hiện thái độ của con người, của các nhóm xã hội đối với cộng đồng. Nói cách khác là sự quan tâm, cư xử của mỗi người, mỗi nhóm xã hội, mỗi tổ chức vối cộng đồng xung quanh.” Ý thức cộng đồng vốn là đặc điểm chung của nhân loại, nhưng ở Việt Nam, ý thức cộng đồng còn là sản phẩm đặc thù của hoàn cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam, trở thành điều kiện sống còn và sức mạnh trường tồn của dân tộc trước mọi thử thách. Đoàn kết là tuyền thống từ ngàn xưa của dân tộc Việt Nam. Nhờ đó, con người Việt nam ý thức được mình thuộc về một dân tộc, quốc gia, ý thức về cách sống, cách dựng nước, giữ nước cũng như quyền lợi và nghĩa vụ của mình trước vận mệnh dân tộc, trước đời sống cộng đồng dân tộc, điều đó giúp cho dân tộc ta trở thành một khối đồng nhất vững mạnh.
Cho đến nay, dù tiếp cận ý thức cộng đồng dưới góc độ nào (triết học, văn hóa học, lịch sử, xã hội học, tâm lý học hay khoa học chính trị…), thì các nhà nghiên cứu cũng đều chia sẻ một điểm thống nhất là: “Trong môi trương xã hội, văn hóa phương Đông thì ý thức cộng đồng (hay “cái cộng đồng”) và ý thức cá nhân (hay “cái cá nhân”) là hai mặt đối lập nhưng không loại trừ lẫn nhau mà là điều kiện tồn tại của nhau trong một thể thống nhất biện chứng. Cộng đồng, dù là cộng đồng lớn hay nhỏ, xét về mặt xã hội, không thể tồn tại trên cơ sở một cấu trúc đơn giản chỉ với các mối liên hệ ngang, bởi lẽ khi đó cộng đồng sẽ trở thành các tập hợp đơn giản. Cơ sở hình thành ý thức cộng đồng của người Việt Nam Điều kiện tự nhiên Ý thức cộng đồng được hình thành từ những ngày thành lập của dân tộc Việt. Ở vào một hoàn cảnh địa lý như đất nước trải dài trên bán đảo Đông Dương, phía Bắc giáp Trung Quốc rộng lớn, phía Đông là biển Thái Bình Dương, phía Tây núi non hiểm trở, con người Việt Nam từ khi mở nước đến sau này đã tự ý thức phải dựa vào nhau và gắn bó với nhau trong một cộng đồng, tập thể để tồn tại và phát triển.
Như vậy, chính điều kiện tự nhiên đã góp phần hình thành nên ý thức cộng đồng Việt Nam. Đã gắn kết những con người riêng lẻ thành cộng đồng, đã gộp sức yếu ớt của từng người thành sức mạnh cộng đồng, đã hòa ý thức của những người riêng lẻ thành ý thức chung của cộng đồng. Điều kiện kinh tế Với một nền khí hậu nhiệt đới gió mùa vô cùng khắc nghiệt, bên cạnh sự chung sức để đấu tranh cống thiên tai, chống lại sự hà khắc của thiên nhiên, con người Việt Nam lại tiếp tục chung sức trong lao động sản xuất, làm kinh tế nhằm phát triển cuộc sống của mình. Điều kiện lịch sử Trong lịch sử, sự đoàn kết của cộng đồng đã trở thành một truyền thống quý báu gắn kết với công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Ý chí quật cường, tinh thần yêu nước, ý thức cộng đồng dân tộc của nhân dân Việt Nam được biểu hiện mạnh mẽ trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, không chỉ trong 1000 năm Bắc thuộc, mà còn đến các triều đại phong kiến về sau, đặc biệt hơn cả trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giành lại nên độc lập dân tộc. Suốt 4000 năm lịch sử, đã có thế kỉ nào dân tộc Việt nam lại ngừng đấu tranh vì nền độc lập? Tinh thần ấy, ý chí ấy được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ trong khó khăn và thử thách khắc nghiệt, ý thức cộng đồng được hình thành và qua thời gian nó phát triển thành ý thức đại đoàn kết dân tộc. 5 Cơ sở văn hóa Việt Nam là dân tộc sớm có nền văn hóa riêng, phong phú, những tập quán riêng – một nền văn hóa mà tiêu biểu là trống đồng, tháp đồng, đình, chùa, miếu…, và nền văn học nghệ thuật dân gian đặc sắc dân tộc. Yếu tố văn hóa bản địa thấm sâu vào ý thức mỗi người Việt Nam hình thành nên lòng tự hào về truyền thống văn hóa, ý thức tự cường dân tộc.
Từ đó nảy sinh ý thức cộng đồng dân tộc, ý thức phải giữ gìn bản sắc dân tộc. Những phong tục đẹp đẽ đó được lưu giữ suốt ngàn năm Bắc thuộc và còn tồn tại đến ngày nay. Những vấn đề chung về Biến đổi khí hậu Theo Solomo, S (2007): 1. Khái niệm Biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển, băng quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm.
Sự biển đổi có thể là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình. Sự biến đổi khí hậu có thế giới hạn trong một vùng nhất định hay có thể xuất hiện trên toàn Địa Cầu. Nguyên nhân gây Biến đổi khí hậu Những nhân tố có thể làm cho sự biến đổi khí hậu xuất hiện là thay đổi bức xạ khí quyển, bao gồm các quá trình như biến đổi bức xạ mặt trời, độ lệch quỹ đạo của Trái Đất, quá trình kiến tạo núi, kiến tạo trôi dạt lục địa và sự thay đổi nồng độ khí nhà kính. Nhiều phản ứng khác nhau của môi trường về biến đổi khí hậu có thể tăng cường hoặc giảm bớt các biến đổi ban đầu.
Một số thành phần của hệ thống khí hậu, chẳng hạn như các đại dương và chỏm băng, phản ứng chậm với biến đổi bức xạ mặt trời vì khối lượng lớn. Do đó, hệ thống khí hậu có thể mất hàng thế kỷ hoặc lâu hơn để phản ứng hoàn toàn với những biến đổi từ bên ngoài. Cơ chế ảnh hưởng từ bên trong Thay đổi ở đại dương Đại dương là một nền tảng của hệ thống khí hậu. Những dao động ngắn hạn (vài năm đến vài thập niên) như El Niño, dao động thập kỷ Thái Bình Dương (Pacific decadal oscillation), và dao động bắc Đại Tây Dương (North Atlantic Installation), và dao động Bắc Cực (Arctic oscillation), thể hiện khả năng dao động hậu hơn là thay đổi khí hậu.
Trong khoảng thời gian dài hơn, những thay đổi đối với các quá trình diễn ra trong đại dương như hoàn lưu muối nhiệt đóng vai trò quan trọng trong sự tái phân bố nhiệt trong đại dương trên thế giới. Cơ chế ảnh hưởng từ bên ngoài 1. Thay đổi quỹ đạo Những biến đổi nhỏ về quỹ đạo Trái Đất gây ra những thay đổi về sự phân bố năng lượng mặt trời theo mùa trên bề mặt Trái Đất và cách nó được phân bố trên toàn cầu. Đó là những thay đổi rất nhỏ theo năng lượng mặt trời trung bình hàng năm trên một đơn vị diện tích; nhưng nó có thể gây biến đổi mạnh mẽ về sự phân bố các mùa và địa lý.
Có 3 kiểu thay đổi quỹ đạo là thay đổi quỹ đạo lệch tâm của Trái Đất, thay đổi trục quay, và tiến động của trục Trái Đất. Kết hợp các yếu tố trên, chúng tạo ra các chu kỳ Milankovitch, là các yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến khí hậu và mối tương quan của chúng với các chu kỳ băng hà và gian băng, quan hệ của chúng với sự phát triển và thoái lui của Sahara, và đối với sự xuất hiện của chúng trong các địa tầng. Hiện tượng núi lửa Núi lửa là một quá trình vận chuyển vật chất từ vỏ và lớp phủ của Trái Đất lên bề mặt của nó. Phun trào núi lửa, mạch nước phun, và suối nước nóng, là những ví dụ của các quá trình đó giải phóng khí núi lửa và hoặc các hạt bụi vào khí quyển.
Núi lửa cũng là một phần của chu kỳ carbon mở rộng. Trong khoảng thời gian rất dài (địa chất), chúng giải phóng khí cacbonic từ lớp vỏ Trái Đất và lớp 7 phủ, chống lại sự hấp thu của đá trầm tích và bồn địa chất khác dioxide carbon. Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ ước tính rằng các hoạt động của con người tạo ra nhiều hơn 100-300 lần số lượng khí carbon dioxide phát ra từ núi lửa. Kiến tạo mảng Qua hàng triệu năm, sự chuyển động của các mảng làm tái sắp xếp các lục địa và đại dương trên toàn cầu đồng thời hình thành lên địa hình bề mặt.