Tổng quan luận án
Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc giữ vị trí chiến lược trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Việt Nam là quốc gia đa tộc người với 54 thành phần dân tộc, trong đó địa bàn miền núi và vùng dân tộc thiểu số chiếm hơn 3/4 diện tích tự nhiên của cả nước, quy tụ hơn 1/3 dân số với trên 23 triệu người. Trong suốt tiến trình lịch sử, các dân tộc thiểu số đã cùng dân tộc Kinh hình thành một khối thống nhất về lãnh thổ, thể chế hành chính và ý thức hệ quốc gia trong sự đa dạng về văn hóa.
Vùng miền núi Đông Bắc Việt Nam là một không gian lịch sử - dân tộc học đặc thù, bao gồm các hệ sinh thái rẻo cao, rẻo giữa và rẻo thấp với nhóm cư dân Tày - Nùng giữ vai trò chủ thể vùng, bên cạnh các cộng đồng Mông, Dao, Thái, Mường, Hoa, Sán Dìu, Sán Chay. Vùng có vị trí xung yếu về quốc phòng, an ninh và đối ngoại với hơn 970 km đường biên giới giáp Trung Quốc. Đồng bào các dân tộc trong vùng có mối quan hệ đồng tộc xuyên biên giới lâu đời về văn hóa, hôn nhân và thân tộc. Bước vào thời kỳ đổi mới, bên cạnh những thuận lợi từ giao thương kinh tế và phát triển các khu kinh tế cửa khẩu, địa bàn này đối mặt với các thách thức an ninh phi truyền thống phức tạp như di dân tự do, buôn lậu, buôn bán ma túy, buôn bán người, dịch bệnh và tranh chấp tài nguyên nước.
Mặc dù Đảng và Nhà nước đã triển khai nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, vùng Đông Bắc vẫn là địa bàn chậm phát triển, khoảng cách chênh lệch so với các vùng khác còn lớn. Khi Việt Nam bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình thấp, thực tiễn nảy sinh yêu cầu phải đánh giá lại toàn diện việc thực hiện chính sách dân tộc, khắc phục tình trạng chính sách chưa theo kịp chuyển biến xã hội. Do đó, việc nghiên cứu đề tài "Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010" đáp ứng yêu cầu cấp thiết cả về mặt khoa học lịch sử và tổng kết thực tiễn quản lý xã hội tộc người.
Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định gồm 3 nội dung:
- Làm sáng tỏ nhận thức khoa học về chính sách dân tộc của Đảng và quá trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh vùng Đông Bắc của Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010.
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế của quá trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh vùng Đông Bắc Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010.
- Tổng kết một số kinh nghiệm chủ yếu về tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh vùng Đông Bắc từ năm 1996 đến năm 2010, tạo cơ sở gợi ý cho việc tổng kết thực tiễn - lý luận 30 năm đổi mới.
Để hoàn thành các mục đích trên, luận án thực hiện 6 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích các công trình nghiên cứu trước đây để xác định những cơ sở phương pháp luận cần vận dụng, những vấn đề đã được giải quyết có thể kế thừa và phát triển, cùng các khoảng trống cần bổ khuyết.
- Khái quát những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình dân tộc và dân cư ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam tạo nên đặc tính vùng.
- Nghiên cứu, hệ thống hoá quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách dân tộc ở vùng miền núi Đông Bắc từ năm 1996 đến năm 2010 nhằm làm rõ sự phát triển về nhận thức và sự chỉ đạo thực tiễn của Đảng.
- Phân tích quá trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam trong giai đoạn 1996 - 2010.
- Đánh giá thành tựu và hạn chế của Đảng trong lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc tại một số tỉnh vùng Đông Bắc nước ta từ năm 1996 đến năm 2010.
- Đúc kết một số kinh nghiệm cơ bản trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam giai đoạn 1996 - 2010.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm, chủ trương, định hướng hợp thành chính sách dân tộc của Đảng; sự thể chế hóa về mặt nhà nước ở cấp vĩ mô, cấp vùng và cấp địa phương; các biện pháp thực thi chính sách dân tộc ở một số tỉnh vùng Đông Bắc giai đoạn 1996 - 2010.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1996 (thời điểm Đại hội VIII mở ra thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa) đến năm 2010 (thời điểm kết thúc nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ các tỉnh Đông Bắc 2005 - 2010, phục vụ tổng kết 5 năm và 10 năm thực hiện chính sách).
- Phạm vi không gian: Không gian chung nghiên cứu cảnh quan cấp vùng gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Giang; trong đó 4 tỉnh biên giới Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh được chọn làm địa bàn khảo sát thực địa chủ yếu.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào 5 nhóm chính sách chủ yếu gồm: (1) chính sách kinh tế (xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế); (2) chính sách phát triển trí lực và thể lực (giáo dục - đào tạo, y tế, nâng cao đời sống vật chất); (3) chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa; (4) chính sách cán bộ dân tộc thiểu số; (5) xây dựng, củng cố quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Về khâu tổ chức thực hiện, luận án tập trung vào sự thể chế hóa nhà nước, các chương trình/dự án trọng điểm và mô hình điển hình.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tình hình nghiên cứu được tác giả phân chia thành 4 nhóm công trình chính:
Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về dân tộc và chính sách dân tộc ở miền núi nói chung.
Các công trình tiêu biểu gồm: Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003), Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam (NXB Thế giới, Hà Nội, 2007), Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002), Bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay - Vấn đề và giải pháp (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005). Các nghiên cứu này làm rõ cơ sở lý luận về bình đẳng dân tộc, chỉ ra rằng bất cập trong giải quyết quan hệ dân tộc có thể dẫn đến xung đột và làm suy giảm nội lực phát triển. Bên cạnh đó, các công trình Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay (NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2008), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001), Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế xã hội ở miền núi (NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1993), Phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011) đã phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực, xác định phát triển kinh tế - xã hội là nền tảng thực hiện chính sách dân tộc.
Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Nhóm này gồm các ấn phẩm: Vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000), chuyên khảo Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004) giúp phân biệt khái niệm "dân tộc" theo nghĩa tộc người và quốc gia - dân tộc. Chuyên khảo Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở miền Trung, Tây Nguyên trong thời kỳ đổi mới (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006) phân tích các vấn đề đất đai, di cư tự do và bài học an ninh tại Tây Nguyên. Bài viết Những xu hướng tác động đến quản lý phát triển xã hội các vùng dân tộc thiểu số nước ta (Tạp chí Khoa học xã hội, số 4, 2009) chỉ ra các xu hướng toàn cầu hóa, tôn giáo hóa tác động đến vùng dân tộc. Luận án tiến sĩ Lịch sử Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đồng bào Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2011) đi sâu vào vùng Tây Nam Bộ, xử lý vấn đề tôn giáo và quan hệ tộc người xuyên biên giới.
Nhóm 3: Các công trình nghiên cứu về vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc ở các tỉnh trung du miền núi phía Bắc.
Bao gồm: Văn hoá dân tộc Nùng ở Cao Bằng (NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2002); chuyên khảo Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008); Phát triển bền vững văn hoá tộc người trong quá trình hội nhập ở vùng Đông Bắc (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012). Vấn đề di cư tự do được phân tích qua các công trình: Di dân tự do của đồng bào Tày, Nùng, H’mông, Dao từ Cao Bằng, Lạng Sơn vào ĐắkLắk (1986 - 2000) (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004), Di cư của người Hmông từ đổi mới đến nay (NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2012). Vấn đề sinh kế và giảm nghèo được khảo sát trong Kỷ yếu hội thảo Xoá đói giảm nghèo vấn đề và giải pháp ở vùng dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam (NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 2004).
Nhóm 4: Các nghiên cứu của tác giả nước ngoài.
Gồm luận án Chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam (Viện Hàn lâm Khoa học Nga, Moskva, 2003); công trình Những xu hướng phát triển ở vùng núi phía Bắc Việt Nam (Tập 1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000); các báo cáo đánh giá của Neil Jamieson (Ngân hàng Thế giới, 1996, 1998) chỉ ra sự phân hóa nội bộ các tộc người thiểu số và tâm lý ỷ lại vào chính sách hỗ trợ; các công trình so sánh của học giả Trung Quốc như Chính sách dân tộc của Việt Nam và ảnh hưởng của chính sách đó đến khu vực dân tộc biên giới Trung Quốc (NXB Khoa học Xã hội Quảng Tây, 2006) và Nghiên cứu so sánh chính sách dân tộc của Việt Nam và Trung Quốc thời hiện đại (NXB Dân tộc Bắc Kinh, 2008).
Qua việc tổng kết tài liệu, luận án chỉ ra 5 khoảng trống nghiên cứu cần giải quyết:
- Thiếu một công trình tổng kết toàn diện về bước phát triển tư duy nhận thức của Đảng đối với việc thực hiện chính sách dân tộc ở cấp vùng, nhất là các quan điểm về "cùng phát triển", phát triển không loại trừ, liên kết lãnh thổ và kết hợp tri thức bản địa với khoa học kỹ thuật.
- Thiếu vắng các công trình nghiên cứu lịch đại cắt nghĩa đầy đủ toàn bộ chu trình hoạch định, thể chế hóa và triển khai chính sách giai đoạn 1996 - 2010.
- Chưa làm rõ bản chất chính sách dân tộc là một bộ phận của chính sách công trong điều kiện thể chế một đảng cầm quyền, dẫn đến sự phân tách cơ học giữa chủ trương của Đảng và thể chế hóa của Nhà nước.
- Nghiên cứu thực hiện chính sách ở cấp vùng và cấp địa phương còn mờ nhạt do tính tập trung hóa chính sách cao của mô hình nhà nước đơn nhất, chưa bao quát được tính đặc thù của các tỉnh miền núi Đông Bắc.
- Chưa có công trình cập nhật dữ liệu lịch sử và tổng kết thực tiễn chuyên biệt cho khu vực miền núi Đông Bắc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án được triển khai trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc. Việc phân tích lịch sử bám sát nguyên tắc khách quan, toàn diện và lịch sử - cụ thể.
Về mặt lý luận và khái niệm, luận án chuẩn hóa các thuật ngữ nền tảng:
- Dân tộc: Tiếp cận theo hai hàm nghĩa: "quốc gia - dân tộc" (nation) - cộng đồng chính trị - xã hội thiết lập trên một lãnh thổ xác định do một nhà nước quản lý; và "dân tộc - tộc người" (ethnie) - cộng đồng liên kết bởi ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác tộc người.
- Dân tộc thiểu số: Khái niệm biểu thị tương quan dân số trong phạm vi quốc gia, không mang ý nghĩa phân biệt địa vị hay trình độ phát triển chính trị - xã hội.
- Tộc người bản địa: Luận án phân tích rõ thuật ngữ này chỉ thích hợp với các thuộc địa di dân phương Tây (như tại Mỹ, Úc, Canada); trong khi tại Việt Nam, trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, các dân tộc đã hòa nhập thành kết cấu quốc gia thống nhất, không tồn tại hình thái đối kháng giữa người bản địa và thực dân di dân.
- Chính sách dân tộc: Được định vị là một dạng chính sách công tổng hợp của Đảng và Nhà nước, tác động toàn diện lên mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng và an ninh tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Nguồn tư liệu nghiên cứu được phân loại chặt chẽ thành ba cấp:
- Tư liệu sơ cấp: Dữ liệu điều tra xã hội học, tư liệu điền dã dân tộc học thực địa do chính tác giả thu thập tại các tỉnh biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Quảng Ninh.
- Tư liệu thứ cấp: Các công trình nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo, bài báo tạp chí chuyên ngành, luận văn, luận án đã công bố.
- Tư liệu cấp ba: Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng VIII, IX, X, XI; Nghị quyết Trung ương Đảng; văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành; báo cáo tổng kết của Ủy ban Dân tộc và Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê và các địa phương.
Về phương pháp thực hiện, hai phương pháp chủ đạo là phương pháp lịch sử (tái hiện tiến trình chính sách theo trật tự thời gian và bối cảnh cụ thể) và phương pháp logic (phân tích bản chất, quy luật vận động và mối liên hệ bên trong của chính sách). Bên cạnh đó, luận án kết hợp các phương pháp bổ trợ: phương pháp tổng kết thực tiễn, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh đối chiếu và phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu thứ cấp và cấp ba.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM (TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000)
Chương 1 tập trung phân tích các điều kiện đặc thù về tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc cùng quá trình Đảng ban hành và chỉ đạo triển khai chính sách dân tộc trong giai đoạn đầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Về mặt tự nhiên, vùng Đông Bắc có diện tích 29.100,6 km², sở hữu 970,8 km đường biên giới giáp Trung Quốc, địa hình núi cao chia cắt phức tạp, khí hậu á nhiệt đới có mùa đông lạnh, đất feralit chiếm diện tích chủ yếu và giàu khoáng sản chiến lược. Về kinh tế, trước năm 1996, xuất phát điểm của vùng rất thấp, phương thức sản xuất tự cung tự cấp và tàn dư chế độ phìa - tạo còn ảnh hưởng; tỷ lệ xã đặc biệt khó khăn rất cao (Hà Giang: 83,9%, Cao Bằng: 82%).
Về mặt tư duy nhận thức, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996) đã bổ sung và phát triển ba nguyên tắc chỉ đạo bao trùm: bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc; chủ trương thể chế hóa bằng việc xây dựng Luật Dân tộc; xác định ba mục tiêu trọng tâm (xóa đói giảm nghèo; nâng cao dân trí và bảo tồn văn hóa; xây dựng hệ thống chính trị cơ sở). Đảng thực hiện phân vùng chính sách thành ba khu vực (Khu vực I, Khu vực II, Khu vực III) nhằm phân bổ nguồn lực có trọng tâm.
Trong khâu tổ chức thực hiện, hệ thống văn bản pháp quy được ban hành đồng bộ: Chỉ thị số 393/TTg (1996) về quy hoạch dân cư và hạ tầng; Quyết định 7464/KTTH (1995) và Nghị định 20/1998/NĐ-CP về thương mại miền núi; Quyết định số 02/1998/QĐ-TTg về quy hoạch tổng thể Đông Bắc đến năm 2010; Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg triển khai Chương trình 135 (phê duyệt 361 xã khó khăn thuộc 4 tỉnh biên giới Đông Bắc theo Quyết định 1232/1999/QĐ-TTg); Quyết định 661/QĐ-TTg (1998) về dự án trồng mới 5 triệu ha rừng thay thế Chương trình 327.
| Chỉ tiêu kinh tế - xã hội |
Năm gốc / Giai đoạn trước |
Giai đoạn 1996 - 2000 |
Địa phương tiêu biểu |
| Tỷ lệ hộ nghèo toàn vùng |
86,1% (1993) |
62,0% (1998) |
Toàn vùng Đông Bắc |
| Thu nhập bình quân đầu người/tháng |
173,8 nghìn đồng (1996) |
210,0 nghìn đồng (1999) |
Toàn vùng Đông Bắc |
| Mức lương thực bình quân đầu người |
202,5 kg/người (1995) |
278,5 kg/người (2000) |
Cao Bằng (gần 300 kg năm 2003) |
| Diện tích gieo trồng ngô |
229,4 nghìn ha (1994) |
Gia tăng diện tích và sản lượng |
Hà Giang (35,1 nghìn ha), Cao Bằng (33,6 nghìn ha) |
| Diện tích vùng chuyên canh cây chè |
Quy mô tập trung |
14.156 ha (Hà Giang, 2003) |
Hà Giang (27.261 tấn búp), Tuyên Quang (4.229 ha) |
| Vùng sản xuất cây đặc sản, ăn quả |
Phân tán nhỏ lẻ |
Vùng hồi (19.000 ha), Na Chi Lăng (700 ha) |
Lạng Sơn (hồi, na, vải thiều Hữu Lũng) |
| Diện tích rừng trồng mới |
Khai thác tự nhiên |
213,9 nghìn ha (1999) |
Cao Bằng (độ che phủ đạt 47% năm 1993) |
| Giá trị sản xuất công nghiệp vùng |
6.179,2 tỷ đồng (1995) |
10.000+ tỷ đồng (2000) |
Quảng Ninh (3.788,8 tỷ đồng năm 2000, chiếm 33,83%) |
| Tỷ lệ xã có điện và dịch vụ cơ bản |
Thấp, thiếu đồng bộ |
60% xã có điện, 95% có điện thoại, 100% có trạm y tế (2000) |
Quảng Ninh |
Sự kết hợp giữa chính sách phát triển kinh tế với bảo vệ biên giới và đầu tư giao thông (Quốc lộ 2, 3, 4, 18) đã giúp mạng lưới thương mại, dịch vụ và du lịch khởi sắc (điển hình như Nghị quyết 18-NQ/TU năm 2000 của Tỉnh ủy Lạng Sơn).
Chương 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC VIỆT NAM (TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010)
Chương 2 luận giải quá trình hoàn thiện chủ trương và thực hiện chính sách dân tộc trong giai đoạn đẩy mạnh toàn diện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Tác giả phân tích các Nghị quyết của Đại hội IX, Đại hội X và Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác dân tộc.
Chương này tập trung trình bày sự thể chế hóa chủ trương của Đảng thành các chương trình hành động cụ thể tại các tỉnh miền núi Đông Bắc:
- Triển khai giai đoạn 2 của Chương trình 135, chuyển trọng tâm từ đầu tư hạ tầng thiết yếu sang phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa bền vững gắn với thị trường tiêu thụ.
- Đầu tư đồng bộ cho hệ thống an sinh xã hội: củng cố mạng lưới y tế cơ sở khám chữa bệnh cho người nghèo, hoàn thiện hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú và trường bán trú dân nuôi, triển khai chính sách cử tuyển đào tạo đại học và cao đẳng.
- Xây dựng quy hoạch sắp xếp, ổn định dân cư vùng biên giới, giải quyết cơ bản tình trạng du canh du cư và kiểm soát luồng di dân tự do từ các tỉnh Đông Bắc đi Tây Nguyên.
- Tăng cường bảo tồn không gian văn hóa tộc người (Tày, Nùng, Dao, Mông), phục dựng lễ hội truyền thống, phát huy chữ viết và tiếng nói dân tộc thiểu số trên các phương tiện truyền thông địa phương.
- Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, củng cố hệ thống chính trị cơ sở và nâng cao tỷ lệ cán bộ người dân tộc thiểu số trong các cơ quan đảng và chính quyền địa phương.
Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM VỀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG Ở VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010
Chương 3 tổng kết các thành tựu, hạn chế và đúc kết những bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị khoa học và thực tiễn:
- Nhận xét thành tựu: Kinh tế các tỉnh Đông Bắc duy trì mức tăng trưởng khá; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa; kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện, trường học, trạm y tế được cải thiện rõ rệt; tỷ lệ nghèo giảm mạnh; khối đại đoàn kết các dân tộc được củng cố; chủ quyền biên giới quốc gia được giữ vững.
- Nhận xét hạn chế: Chênh lệch phát triển giữa các vùng rẻo cao biên giới và vùng thấp còn lớn; nguy cơ tái nghèo cao; công tác quản lý di dân tự do còn bị động; việc khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường sinh thái còn bộc lộ bất cập; việc thể chế hóa một số chủ trương còn chậm; năng lực lãnh đạo của một bộ phận tổ chức cơ sở đảng ở vùng sâu, vùng xa chưa đáp ứng yêu cầu.
- Một số kinh nghiệm cơ bản được rút ra:
- Nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng và chính quyền về vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở vùng phên dậu biên giới Đông Bắc.
- Thể chế hóa kịp thời, đồng bộ các chủ trương của Đảng thành hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước; kết hợp chặt chẽ chính sách hỗ trợ xã hội với chính sách đầu tư phát triển sản xuất.
- Hoạch định và thực thi chính sách phải xuất phát từ điều kiện thực tế, tôn trọng và khai thác hiệu quả các đặc tính sinh thái, văn hóa và tri thức bản địa của từng tộc người (đặc biệt là nhóm Tày - Nùng, Mông - Dao).
- Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh, chủ động ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống và xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị.
- Coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch và sử dụng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số tại chỗ; phát huy vai trò tự lực, tự cường của cộng đồng các tộc người, tránh tư tưởng ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác định các kết quả nghiên cứu và đóng góp mới trên ba phương diện:
- Về mặt tư liệu: Hệ thống hóa, khai thác, phát hiện và giải mã một khối lượng lớn tư liệu sơ cấp và thứ cấp mới về thực trạng kinh tế - xã hội, biến động dân cư và quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng tại địa bàn các tỉnh miền núi Đông Bắc giai đoạn 1996 - 2010.
- Về mặt nhận thức:
- Cung cấp luận giải khoa học về tiến trình hoạch định và thực thi chính sách dân tộc ở cấp độ vùng lãnh thổ đặc thù, chịu sự quy định chặt chẽ của yếu tố địa lý, bản sắc tộc người và quan hệ đối ngoại Việt - Trung.
- Rút ra những nhận xét, kết luận khách quan về hiệu quả chính sách gắn với đặc điểm của các nhóm cư dân chủ thể (Tày - Nùng) và cư dân vùng rẻo cao (Mông - Dao) tại các tỉnh biên giới.
- Đúc kết 5 bài học kinh nghiệm lịch sử, đóng góp trực tiếp vào công tác tổng kết lý luận - thực tiễn 30 năm đổi mới của Đảng về vấn đề dân tộc.
- Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp hệ thống luận cứ khoa học tham chiếu cho các cơ quan trung ương và địa phương trong việc xây dựng, điều chỉnh chính sách dân tộc và giải quyết các vấn đề an ninh phi truyền thống ở vùng Đông Bắc hiện nay.
- Luận án là tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Dân tộc học và Quản lý nhà nước về công tác dân tộc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn khảo sát thực địa chủ yếu tại 4 tỉnh biên giới (Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh) và tập trung vào 5 nhóm chính sách kinh tế - xã hội cơ bản giai đoạn 1996 - 2010; chưa bao quát chi tiết toàn bộ 13 tỉnh thuộc vùng địa lý Đông Bắc cũng như chưa đi sâu vào từng chính sách vi mô riêng biệt cho các nhóm dân tộc thiểu số có dân số rất ít.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu tiến trình chính sách dân tộc của Đảng từ sau năm 2010 đến nay trong bối cảnh thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn mới.
- Đi sâu phân tích tác động của biến đổi khí hậu, sinh kế xuyên biên giới và hợp tác kinh tế cửa khẩu đối với cơ cấu xã hội của các cộng đồng dân tộc thiểu số tại khu vực Đông Bắc.
Giá trị tham khảo
Công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo đối với nhiều đối tượng học thuật và quản lý:
- Cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực tiễn cho Ban Dân vận Trung ương, Ủy ban Dân tộc, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội và Tỉnh ủy các tỉnh miền núi phía Bắc trong việc điều chỉnh chính sách vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
- Giảng viên và nghiên cứu sinh: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo trong nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam hiện đại, Dân tộc học, Xã hội học và Khoa học chính sách công.
- Cán bộ quản lý địa phương: Giúp cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, huyện vùng biên giới nắm bắt các bài học kinh nghiệm về quản lý di dân tự do, giữ gìn bản sắc văn hóa và xây dựng hệ thống chính trị cơ sở.
Câu hỏi thường gặp
1. Địa bàn khảo sát thực địa chủ yếu của luận án gồm những tỉnh nào?
Luận án xác định không gian nghiên cứu cảnh quan vùng gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Giang; trong đó chọn 4 tỉnh biên giới giáp Trung Quốc là Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh làm địa bàn khảo sát thực địa chủ yếu.
2. Đại hội VIII của Đảng (1996) xác định nguyên tắc chỉ đạo nào cho chính sách dân tộc?
Đại hội VIII xác định nguyên tắc chỉ đạo bao trùm là: bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đồng thời đề ra yêu cầu xây dựng Luật Dân tộc và xác định ba mục tiêu trọng tâm về kinh tế, văn hóa - xã hội và xây dựng hệ thống chính trị cơ sở.
3. Chương trình 135 giai đoạn 1 áp dụng cho bao nhiêu xã thuộc khu vực biên giới Đông Bắc?
Theo Quyết định số 1232/1999/QĐ-TTg ngày 24-12-1999 của Thủ tướng Chính phủ, khu vực miền núi Đông Bắc giáp biên giới Việt - Trung có 4 tỉnh với 361 xã thuộc phạm vi thụ hưởng của Chương trình 135.
4. Khái niệm "tộc người bản địa" được luận án tiếp cận và phân biệt như thế nào?
Luận án khẳng định thuật ngữ "tộc người bản địa" (thổ dân) gắn với lịch sử các nước thuộc địa di dân phương Tây (như Úc, Mỹ, Canada) nhằm phân biệt người tại chỗ với người nhập cư da trắng. Tại Việt Nam, quá trình lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã cố kết các tộc người thành một cộng đồng quốc gia thống nhất, nên không tồn tại hình thái "dân tộc bản địa" theo nghĩa nói trên.
5. Lương thực bình quân đầu người ở vùng Đông Bắc biến đổi như thế nào giai đoạn 1995 - 2000?
Mức lương thực bình quân đầu người của vùng Đông Bắc đã tăng từ 202,5 kg/người (năm 1995) lên 278,5 kg/người (năm 2000); riêng tại tỉnh Cao Bằng, chỉ tiêu này tăng từ 180 kg (năm 1994) lên gần 300 kg (năm 2003).
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010" đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ tiến trình chỉ đạo, thể chế hóa và triển khai chính sách dân tộc của Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bằng việc kết hợp phương pháp lịch sử và logic cùng nguồn tư liệu đa dạng, công trình đánh giá toàn diện những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ biên giới và chỉ rõ các hạn chế trong quản lý xã hội tộc người tại các tỉnh Đông Bắc. Năm bài học kinh nghiệm được đúc kết từ luận án không chỉ đóng góp vào việc tổng kết lý luận - thực tiễn 30 năm đổi mới mà còn cung cấp luận cứ khoa học có giá trị phục vụ công tác quản lý và hoàn thiện chính sách dân tộc trong giai đoạn hiện nay.