Chương 1: BOI CANH RA ĐỜI VÀ NOI DUNG CHÍNH SÁCH HOI TY CUA VUA MINH MENH Vua Minh Mệnh tên thật là Nguyễn Phúc Đảm sinh ngày 25 tháng 5 năm 1791 (năm Tân Hợi) tại làng Tân Lộc gần Sài Gòn, là hoàng tử thứ tư, con của vua Gia Long và Thuận Thiên Cao Hoàng hậu Trần Thị Đang. Tháng Chạp năm Kỷ Mão (1819), vua Gia Long băng hà, tuân theo di chiếu tháng Giêng năm Canh Thìn (1820) Hoàng Thái tử Đảm lên ngôi kế vị. Đây là khoảng thời gian thực dân Pháp dòm ngó và từng bước xâm nhập Việt Nam với hình thức đầu tiên là truyền giáo (Đạo Thiên chúa). Vua Gia Long chọn Minh Mệnh nối ngôi vua là sự chuẩn bi dé từng bước xa rời người Pháp.
Bởi ngay trong lỗi tư duy của vua Minh Mệnh, ông thể hiện rõ là người có tư tưởng độc tôn Nho giáo, Nho học và dé cao Pháp trị; tiếp nối hành trình củng cố nền thống nhất quốc gia và yên dân từ bao đời vua nước Việt. Khi mới lên ngôi, vua Minh Mệnh ra chiếu ban bố cho thần dân biết việc chính vị hợp pháp của minh cùng niên hiệu mới và các chính sách thi ân của tân Hoàng đê. Vua Minh Mệnh là một vị vua uyên thâm Nho học, tài giỏi, năng động, quyết đoán trong trị nước. Trong thời gian trị vì (1820-1841), ông ban hành nhiều chính sách thiết thực, đổi mới nhằm bình ổn chính trị và đảm bảo cuộc sống nhân dân trong giai đoạn cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam.
Qua nghiên cứu những ghi chép trong sách Minh Mệnh chính yếu và Dai Nam thực lục, tác giả luận văn đã tìm hiểu loạt cải cách từ nội trị đến ngoại giao được ban hành và thực hiện dưới thời vua Minh Mệnh. Ngoài ra, nhà vua này và triều đại phong kiến của ông không chỉ thực hiện chính sách ngoại giao vừa kiên quyết vừa khéo léo với các nước láng giềng như nước Xiêm (Thái Lan), Vạn Tượng (Lào), Chân Lạp, nhà Thanh (Trung Quốc) mà còn rất quan tâm (thông qua việc thực hiện các chính sách) đên đời sông của người dân vùng biên cương, đặc biệt là những tộc người thiêu số. Đối với hệ thống chính quyên, vua Minh Mệnh đã triển khai chính sách Hồi ty - một trong những chính sách cơ bản của nhà vua, của nhà nước phong kiến trong việc cai trị, quản lý xã hội và trong việc xây dựng, hoàn thiện bộ máy nhà nước phong kiến. Nhắc đến Hồi ty là nhắc đến công lao của vua Minh Mệnh, đặc biệt là đóng góp lớn đối với công tác tuyển bổ và luân chuyên quan lại (mà ngày nay gọi là quy trình tuyển dụng, luân chuyền cán bộ, công chức, viên chức và cải cách bộ máy nhà nước).
Hồi ty và bối cảnh ra đời chính sách Hồi ty của vua Minh Mệnh Trong nội dung 1.1 này, tác giả luận văn nghiên cứu khái niệm “Hồi ty” và những điều kiện hình thành chính sách Hồi ty của vua Minh Mệnh. Khái niệm Hồi ty Sau khi tìm hiểu khái niệm về “Hồi ty”, tác giả đưa ra một số quan điểm giải thích về thuật ngữ “Hồi ty” như sau: Theo Từ điển Hán - Việt giản thể của Đào Duy Anh (2006) đưa ra sự giải thích như sau: “Hồi” là “xoay lại, trở về”; “ty” là “tránh đi” (theo Hình 1). HOI (IXoay lại, trở về -Quanhco-Mỗi TY Bh Mũi — Đất đầu. lớp trong một bộ tiểu-thuyết.
— B Vị thử sáu trong 1% dixeti- - #1 Di ngược dòng nước - Dòng nước — BE Neh. Tich, ich chảy. [si Cũng viết là 1 › — jf Tránh di. Nghia của từ “Hồi ty” trong chữ Hán phon thé và giản thé Theo Tir điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (2003) giải thích “Hồi” có nhiều nghĩa nhưng trong đó có nghĩa là “quay trở về, trở lại trạng thái ban đầu” [23, tr.
473]; “ty” là tránh đi [23, tr. Trong Từ điển từ ngữ gốc Hán trong Tiếng Việt hiện đại của Nguyễn Bá Hưng, Nguyễn Hải Long (2013) đã giải thích Hồi ty có nghĩa là “người thân phải tránh xa, không được tiếp xúc các quan lại thi hành việc xét, xử án, cham thi” [9, tr. 10 Còn cuốn Tir điển Bách khoa Việt Nam của Hội đồng quốc gia chỉ dao biên soạn (2002) thì giải thích: Hồi ty là quyền của các bên tham gia tố tụng yêu cầu toà án thay đổi thâm phán, hội đồng nhân dân, kiểm sát viên, thư kí phiên tòa, người giám định, người phiên dịch khi có lí do chính đáng. Lí do chính đáng ở đây được hiéu là những người bị yêu cầu thay thế do phía bên này nêu ra khi thấy những người đó là họ hàng thân thích của phía bên kia hoặc có bằng chứng chứng minh răng họ không vô tư khi tiến hành xét xử và ra quyết định, bản án.
Hồi ty là thuật ngữ Hán Việt, hiện nay không phù hợp dé sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam. Nhưng nội dung và định chế về Hồi ty vẫn được áp dụng linh hoạt trong các văn bản pháp luật tố tụng của Việt Nam [6, tr. Như vậy, Hồi ty được hiểu là đánh đi và được áp dụng với đối tượng là đội ngũ quan lại từ trong Kinh thành, phủ chúa đến ngoài tỉnh, huyện, phủ thời kỳ phong kiến. Hỏi ty được luật hóa, cu thé hóa trong các chính sách và định chế ở các triều đại phong kiến phương Đông nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực đến hoạt động công vụ, hoạt động quản lý như bệnh cục bộ địa phương, gia đình chủ nghĩa, chủ nghĩa thân hữu, tệ kéo bè, kéo cánh; ngăn chặn tình trạng quan lại sử dụng, lợi dụng quyền lực, chức vụ được nhà vua, nhà nước giao cho dé tư lợi về mình, gia đình mình, người thân của mình,.
Ví như nếu áp dụng luật Hồi ty thì một người được bồ dụng làm quan đứng đầu ở một tinh, huyện nếu có một người bà con, họ hàng thuộc địa phương đó thì người ấy phải bị luân chuyên đi chỗ khác. Áp dụng chính sách Hồi ty là bất kỳ người nào được bổ dụng làm quan hay khi làm quan thì không được tham dự hoặc phải lánh mặt với những người trong dòng tộc, gia đình của mình, người cùng địa phương hay người thân thuộc của minh dé tránh tiếng hiềm nghi và thực hiện nhiệm vụ được giao một cách công tâm, khách quan, chủ động, đúng đắn và có hiệu quả. Nguồn gốc và quá trình hình thành chính sách Hoi ty Trải qua thời gian dai bị đô hộ bởi các triều đình phương Bắc, văn hóa Trung Quốc đã dần xâm nhập và ảnh hưởng đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực của đời sống nhân dân nước Việt. Cũng vì vậy mà, mô hình, phương thức tổ chức bộ máy chính quyền các cấp trong các triều đại phong kiến Việt Nam có nhiều nét tương đồng với mô hình và phương thức tô chức bộ máy nhà nước ở các triều đại phong kiến Trung Quốc.
Chính sách Hồi ty được một số triều đại phong kiến Việt Nam, nhất là vua Minh Mệnh trong thời gian trị vì của ông tiếp nhận, bồ sung và áp dụng vào thực tiễn xây dựng, cải tiễn và hoàn thiện bộ máy nhà nước phong kiến lúc bấy giờ. Chính sách Hồi ty ở Việt Nam thời phong kiến đã trải qua quá trình hình thành và được vận dụng trong thực tiễn trị nước nhằm xây dựng, hoàn thiện bộ máy nhà nước phong kiến. Chính sách Hồi ty ở Việt Nam tiếp nhận từ chính sách Hồi ty của Trung Quốc. Nguôn gốc Trung Quốc Trung Quốc ngày nay là quốc gia có nền kinh tế đứng thứ hai thế giới và với trình độ khoa học công nghệ hiện đại, phát triển cao đã đạt nhiều bước tiễn quan trọng và gặt hái những thành tựu rực rỡ.
Song song với sức ảnh hưởng về kinh tế, Trung Quốc được biết tới là quốc gia có chiều dài lịch sử hàng ngàn năm, là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại. Sau nhiều biến đổi của thời cuộc, văn hóa Trung Hoa vẫn luôn có sức ảnh hưởng rất lớn đối với đời sống văn hóa - xã hội nhiều quốc gia Châu Á, đặc biệt là khu vực Đông A. Trong đó, Nho giáo do Không Tử (551- 475TCN) thời Xuân Thu - Chiến Quốc sáng lập là một học thuyết triết học, chính trị, đạo đức, giáo dục và quản lý xã hội đã ảnh hưởng và có vai trò đặc biệt quan trọng trong suốt thời kỳ phong kiến của nhiều quốc gia, đã trở thành một hệ tư tưởng quan phương của giai cap phong kiến và ảnh hưởng của nó vẫn còn tôn tại đến bây giờ. Nho giáo là công cụ pháp lý và tư tưởng sắc bén đề bảo vệ, duy trì và phục vụ địa vị, vai 12 trò thống trị và lợi ích giai cấp phong kiến thống trị và cũng là công cụ thống trị, quản lý xã hội chủ yếu của nhà nước phong kiến Trung Quốc.
Nho giáo cung cấp cho nhà vua, đội ngũ quan lại và những người có chức có quyền những lý thuyết, bài học kinh nghiệm và công cụ chủ yếu trong việc cai trị, quản lý xã hội. Hơn nữa, hệ tư tưởng Nho giáo giúp nhà vua, nhà nước phong kiến duy trì trật tự, kỷ cương xã hội và tập trung vào tay mình quyền lực cao nhất về kinh tế, chính trị. Tuy nhiên, trong xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ, day lên những hiện tượng tranh giành quyền lực giữa các phe phái, hiện tượng kéo bè kéo cánh nhằm gia tăng địa vị, quyền lực trong hàng ngũ quan lại,. người dân phải chịu cảnh chèn ép, nhiễu loạn.
Dé đề phòng và ngăn chặn hiện tượng tham nhũng, tham quyền, lợi dụng chức quyền để mưu lợi hoặc cậy thế người thân làm quan dé đoạt quyền, đoạt lợi,. có một chế độ Hồi ty mà nhà nước phong kiến đặt ra, trong đó yêu cầu cam bổ nhiệm bat kỳ quan xét xử nào cho địa phương mà người đó xuất thân. Chính sách Hỏi ty ở Trung Quốc trải qua nhiều giai đoạn hình thành và phát triển. Hồi ty trở thành chính sách, một biện pháp trọng yếu, một định chế cơ bản trong cai trị, quản lý xã hội nói chung và hoạt động bé nhiệm, quản lý quan lại nói riêng tại Trung Quốc.
Chính sách này được hình thành và được triên khai thực hiện từ rất sớm trong lịch sử pháp lý của Trung Quốc.