Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Bắc trong thực hiện nhiệm vụ hậu phương từ năm 1965 đến năm 1968 Chương 2: Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Bắc trong thực hiện nhiệm vụ hậu phương từ năm 1969 đến năm 1972 Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm 10 z CHƢƠNG 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ BẮC ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ HẬU PHƢƠNG TỪ NĂM 1965 ĐẾN NĂM 1968 1. Cơ sở lí luận và những yếu tố ảnh hƣởng đến việc thực hiện nhiệm vụ hậu phƣơng ở tỉnh Hà Bắc 1. Cơ sở lí luận Hậu phương hiểu theo nghĩa nghĩa hẹp là nơi đối xứng với tiền tuyến, có sự phân biệt rạch ròi bằng yếu tố không gian, là lãnh thổ ngoài vùng chiến sự, phía sau chiến tuyến, có dân cư và tiềm lực mọi mặt, nhất là về nhân lực, vật lực, là nơi xây dựng và huy động sức người, sức của, đáp ứng nhu cầu của lực lượng vũ trang ngoài tiền tuyến”; Theo nghĩa rộng hậu phương được xem là chỗ dựa, là nơi cung cấp sức người, sức của cho chiến tranh, không phân biệt rạch ròi với tuyền tuyến về mặt không gian. Hậu phương của chiến tranh có những cấp độ và hình thức khác nhau: có hậu phương chiến lược, hậu phương tại chỗ, hậu phương làm căn cứ địa, thậm chí còn có khái niệm hậu phương lòng dân (dân bao bọc che trở, tạo điều kiện cho cách mạng xây dựng căn cứ của mình)… Trong lịch sử quân sự, các nhà quân sự lỗi lạc và những người thầy vĩ đại của cách mạng vô sản – Mác, Ăng ghen, Lê-nin đều nhấn mạnh đến vai trò của hậu phương vững chắc, có tổ chức.
Ăng ghen đã viết: “Toàn bộ việc tổ chức và phương thức chiến đấu của quân đội và do đó thắng lợi, thất bại đều tỏ ra là phụ thuộc vào những điều kiện vật chất, nghĩa là điều kiện kinh tế, vào chất liệu của con người và của vũ khí, nghĩa là vào chất lượng và số lượng của cư dân và của cả kĩ thuật”. Còn Lê-nin thì cho rằng: “Trong chiến tranh, ai có nhiều lực lượng hậu bị hơn, ai có nhiều nguồn lực, ai kiên trì đi sâu vào quần chúng nhân dân hơn, thì người đó thu được thắng lợi”. Và: “ 11 z Muốn tiến hành chiến tranh một cách thực sự, phải có một hậu phương có tổ chức vững chắc, một đội quân giỏi nhất, những người trung thành nhất với sự nghiệp cách mạng cũng đều lập tức bị kẻ thù tiêu diệt, nếu họ không được vũ trang, tiếp tế lương thực và huấn luyện đầy đủ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cho rằng: “khi có chiến tranh, phải huy động và tổ chức tất cả các lực lượng trong nước để chống giặc”… Nhìn chung, vai trò của hậu phương đều được các nhà chiến lược, các nhà quân sự đánh giá cao và yêu cầu những người lãnh đạo quốc gia, những người cầm quân phải quan tâm thường xuyên trong thời chiến cũng như thời bình.
Bởi lẽ, chiến tranh là sự thử thách toàn diện đối với mỗi bên tham chiến, trong đó hết thảy lực lượng đều bị thử thách, bị tiêu hao, nên đòi hỏi phải được bổ sung, phát triển, nhằm đè bẹp đối phương để chiến thắng. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết sức coi trọng việc xây dựng hậu phương, xem đó là nhân tố hết sức quan trọng, quyết định thắng lợi của cách mạng. Tuân thủ những quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về tầm quan trọng của hậu phương trong chiến tranh cách mạng, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kế thừa và phát huy kinh nghiệm xây dựng hậu phương trong kháng chiến chống Pháp, trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng đã tập trung xây dựng miền Bắc thành hậu phương lớn cho tuyền tuyến lớn miền Nam. Xây dựng CNXH ở miền Bắc nghĩa là xây dựng cuộc sống mới, tự do, hạnh phúc cho nhân dân miền Bắc, đồng thời là củng cố miền Bắc thành cơ sở vững chắc về mọi mặt cho việc hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện thống nhất nước nhà.
Tại hậu phương, lực lượng dự bị được xây dựng và tăng cường thường xuyên, sẵn sàng cơ động ra chiến trường, thực hiện các đòn đánh lớn, 12 z có tác dụng làm xoay chuyển cục diện chiến tranh có lợi cho ta và bất lợi cho đối phương 1. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ hậu phương ở tỉnh Hà Bắc Vị trí địa lý Hà Bắc là một tỉnh cũ ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ Việt Nam, được thành lập ngày 27 tháng 10 năm 1962 với sự hợp nhất hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang, đến ngày 6 tháng 11 năm 1996 lại tách ra thành hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang riêng biệt. Tỉnh Hà Bắc có 14 huyện và 2 thị xã, bao gồm thị xã Bắc Giang, thị xã Bắc Ninh và 14 huyện: Lục Nam, Lục Ngạn, Sơn Động, Yên Thế, Hiệp Hòa, Lạng Giang, Tân Yên, Việt Yên, Yên Dũng, Gia Lương, Quế Võ, Thuận Thành, Tiên Sơn, Yên Phong, trung tâm tỉnh lỵ đóng ở thị xã Bắc Giang. Tỉnh Hà Bắc có đủ cả ba vùng: đồng bằng, miền núi và trung du.
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Hà Bắc là tỉnh có vị trí địa chính trị đặc biệt quan trọng. Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, Phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Nam giáp tỉnh Hải Hưng, phía Tây Bắc giáp tỉnh Bắc Thái, phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Phú và thủ đô Hà Nội. Với vị trí địa lí đó, Hà Bắc trở thành con đường chủ yếu tiếp nhận hàng viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa cho việc chiến đấu, xây dựng kinh tế của miền Bắc và chi viện cho tiền tuyến miền Nam. Quốc lộ 1A, đường 18A, quốc lộ 38B, quốc lộ 16, quốc lộ 34 đặc biệt là hai tuyến đường sắt Lạng Sơn – Hà Nội và đường sắt Kép – Bắc Thái là những tuyến đường giao thông huyết mạch của cả nước.
Sân bay Kép ở huyện Lạng Giang đóng vai trò quan trọng trên tuyến phòng thủ biên giới phía Bắc. Hệ thống sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình, sông Lục Nam, sông Thương. 13 z và một mạng lưới các tuyến đường liên huyện, liên xã không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế và sinh hoạt của dân cư trong tỉnh mà còn tạo nên một mạng lưới giao thông thủy – bộ quan trọng, kết nối các địa phương trong tỉnh và nối liền tỉnh Hà Bắc với các tỉnh khác trong vùng đồng bằng Bắc Bộ. Chính địa thế chiến lược đó mà trong cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Hà Bắc là một trong những nơi trọng điểm bị đế quốc Mỹ tập trung bắn phá ác liệt.
Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội Hà Bắc có mạng lưới sông ngòi phân bố tương đối dày và đều khắp ở các huyện trong tỉnh. Sông Cầu, sông Thái Bình, sông Thương, sông Hồng và sông Lục Nam là năm con sông lớn chảy qua địa bàn tỉnh. Dòng sông thường gây lũ lụt làm cho đời sống sinh hoạt và sản xuất của nhân dân gặp nhiều khó khăn. Song, chính những dòng sông đó là nơi thường xuyên bồi đắp phù sa màu mỡ cho ruộng đồng, là nơi cung cấp nước tưới cho lúa màu tươi tốt.
Hệ thống sông ngòi dày đặc tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, buôn bán, giao thương, vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược… giữa các huyện trong tỉnh, giữa tỉnh với các tỉnh khác trong cả nước bằng đường thủy. Đặc biệt, trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, dòng sông với đôi bờ đã trở thành những chiến tuyến tự nhiên để quân và dân Hà Bắc chống giặc ngoại xâm. Hà Bắc nằm trên địa bàn chiến lược, cơ động có cả ba vùng đồng bằng, trung du và miền núi. Rừng núi của Hà Bắc chiếm 46,6% diện tích tự nhiên của tỉnh, với nhiều dãy núi cao thấp nối liền nhau.
Những dãy núi cao thấp có cả ở ba vùng đồng bằng, trung du, miền núi đã tạo nên những địa hình phức tạp không chỉ tạo nên những cảnh quan hùng vĩ mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp cách mạng của tỉnh. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, rừng núi chính là nơi ẩn náu và hoạt động chủ yếu của các lực lượng vũ 14 z trang và nhân dân trong tỉnh. Bên cạnh đó, hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông của tỉnh tương đối hoàn chỉnh, có nhiều giao điểm với các đường giao thông huyết mạch của cả nước không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các vùng trong tỉnh, giữa tỉnh với cả nước mà đó còn là những con đường vận tải huyết mạch để nối liền hậu phương Hà Bắc với chiến trường miền Nam. Là một tỉnh đông dân nằm trong vùng trọng điểm của đồng bằng Bắc Bộ, Hà Bắc có diện tích rộng lớn, đất đai màu mỡ phì nhiêu, sông ngòi dày đặc, khí hậu nhiệt đới gió mùa, dân cư đông đúc… là những điều kiện thuận lợi cho ngành nông nghiệp sớm hình thành và phát triển ở đây.
Nông nghiệp được coi là cái gốc, nền tảng của cuộc sống cũng như xuất phát điểm cho mọi hành động ứng xử khác trong gia đình và xã hội của người dân Hà Bắc. Vì sống bằng nghề nông là chủ yếu nên làng xã là nơi quần cư chủ yếu. Những làng xóm nhỏ nằm rải rác giữa những đồng lúa mênh mông, lại được bao bọc bởi lũy tre xanh tốt, dày đặc trở thành điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ chiến đấu, tổ chức sản xuất, huy động sức người sức của cho kháng chiến và làm tròn nghĩa vụ của hậu phương kháng chiến. Bên cạnh sản xuất nông nghiệp, các ngành thủ công nghiệp, công thương nghiệp của Hà Bắc cũng được hình thành từ rất sớm.
Hà Bắc nổi tiếng khắp cả nước với hơn 60 ngành nghề thủ công truyền thống như: gốm Thổ Hà, đúc đồng Đại Bái, cày bừa Đông Xuất, rèn Đa Hội, tơ lụa Đình Cả, giấy Đáp Cầu… Người dân Hà Bắc không chỉ thông minh, sáng tạo, cần cù, chịu khó mà còn khá năng động, ít bảo thủ sẵn sàng tiếp thu những tư duy và phương thức kinh tế mới để làm giàu cho quê hương, đất nước. Truyền thống lịch sử văn hóa Là vùng trung tâm và chiếm phần lớn diện tích của vùng Kinh Bắc xưa, Hà Bắc vốn nổi tiếng là vùng đất giàu truyền thống văn hiến, cách mạng.