chương 1 và 2, tại chương 3, luận văn đưa ra những nhận xét về quá trình hoạch định chủ trương, đường lối và chỉ đạo thực hiện của ĐCSVN đối với hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN. Trong quá trình đó, bên cạnh những thành tựu nổi bật, vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định. Những nhận xét đó là cơ sở để luận văn đúc rút một số kinh nghiệm chủ yếu vận dụng vào thời kỳ hiện tại. 13 z Chƣơng 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM TỪ NĂM 1969 ĐẾN NĂM 1972 1.
SỰ RA ĐỜI CỦA CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM 1. Yêu cầu lịch sử đối với việc thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Từ giữa những năm 60 (XX), các nước XHCN đã đạt được nhiều thành tựu trong xây dựng kinh tế, phát triển khoa học – kỹ thuật và tăng cường khả năng quốc phòng. Tính đến năm 1967, hệ thống các nước XHCN đã chiếm hơn 1/3 sản lượng công nghiệp thế giới [31, tr. Tốc độ phát triển của các nước XHCN thuộc Hội đồng Tương trợ kinh tế (SEV) tăng trung bình cao hơn so với các nước TBCN trong Tổ chức các nước kinh tế phát triển.
Điều đó đã giúp cho các nước XHCN đương đầu với sự bao vây, phá hoại về kinh tế của CNĐQ và là cơ sở để giúp đỡ các nước mới giành độc lập bảo vệ những thành quả cách mạng của mình. Cho đến thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam bước vào giai đoạn ác liệt, thì phe XHCN đã hình thành và “trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội loài người” [36, tr. Điều đó có tác dụng cân bằng tương quan so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng, ngăn đe CNĐQ và là chỗ dựa cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Á, Phi, Mỹ Latinh phát triển mạnh mẽ.
Phần lớn các nước bị CNTD thống trị lần lượt được giải phóng, trở thành những nước độc lập ở những mức độ khác nhau. Hệ thống thuộc địa của CNĐQ ngày càng bị thu hẹp. Đầu những năm 50 (XX), các nước mới giành độc lập tập hợp nhau trong Phong trào 14 z không liên kết. Đến năm 1970, Phong trào đã có 54 thành viên, trở thành một lực lượng chính trị mới trên vũ đài quốc tế.
Từ Hội nghị cấp cao lần thứ 3 ở Luxaca (tháng 9 – 1970), xu hướng chống đế quốc của Phong trào ngày càng trở nên mạnh mẽ, trong đó có việc cổ vũ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Mặc dù có những thành tích trong xây dựng và phát triển kinh tế, khoa học – kỹ thuật và quốc phòng, nhưng những khuyết tật của các nước XHCN cũng đã sớm bộc lộ. Đến cuối những năm 60 (XX), trong phe XHCN xuất hiện những vụ rối loạn chính trị nghiêm trọng tại một số nước và những bất đồng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng ngày càng trở nên phức tạp. Đặc biệt, sự bất đồng giữa Liên Xô – Trung Quốc – hai nước XHCN lớn, những nước viện trợ chủ yếu trên các phương diện khác nhau cho Việt Nam, là một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh của Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết ủng hộ Việt Nam chống Mỹ.
Dù có những khó khăn, bất đồng nhất định, song, các nước XHCN vẫn luôn sát cánh và ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, nhất là đối với chủ trương vừa đánh, vừa đàm của chúng ta. Các nước XHCN nói chung vẫn tăng cường ủng hộ về chính trị và vật chất cho chúng ta. Hai nước XHCN lớn là Liên Xô, Trung Quốc dù mâu thuẫn ngày càng sâu sắc, song không ngừng giúp đỡ, ủng hộ Việt Nam. Liên Xô tuyên bố ủng hộ Chính phủ VNDCCH, ủng hộ Chính sách 10 điểm của MTDTGP, coi đó là “những đề nghị chính đáng và hợp lý” và “kiên quyết ủng hộ những đề nghị đó” [12, tr.
Dù không tán thành việc chúng ta đàm phán với Mỹ, nhưng Trung Quốc vẫn tiếp tục ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta, sau này, đến giữa những năm 60 (XX), chuyển dần sang ủng hộ chủ trương vừa đánh, vừa đàm của Việt Nam. Bên cạnh đó, nội bộ phe ĐQCN cũng có sự biến đổi lớn trong lực lượng so sánh giữa đế quốc Mỹ và các đế quốc khác. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ trở thành đế quốc giàu có nhất, chiếm ưu thế tuyệt đối về mọi mặt trong thế giới tư bản, tuy nhiên, khi Mỹ 15 z tham gia vào Chiến tranh Triều Tiên và sau đó sa lầy trong chiến tranh Việt Nam thì các nước tư bản khác đã tranh thủ cơ hội vươn lên xây dựng kinh tế, thoát khỏi tình trạng lệ thuộc vào Mỹ, thậm chí nhiều nước trở thành những địch thủ nguy hiểm của Mỹ trên mặt trận kinh tế (Pháp, Anh, Nhật Bản), mà sự ly tâm đầu tiên trong thế giới tư bản chính là thuộc về nước Pháp. Pháp đã thể hiện sự độc lập trong quan hệ của mình mà không bận tâm đến thái độ của Mỹ bằng việc công nhận CHND Trung Hoa (năm 1964), sau đó cắt đứt quan hệ ngoại giao với Đài Loan do Mỹ ủng hộ, quyết định rút quân ra khỏi các lực lượng quân sự nhất thể hóa trong NATO, không chấp nhận trụ sở NATO đóng trên đất Pháp, đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược ở Việt Nam, củng cố quan hệ với Liên Xô và các nước XHCN khác.
Với những hành động đó, Pháp được coi là “kẻ ương ngạnh” trong liên minh quân sự do Mỹ đứng đầu. Tương tự Pháp, từ năm 1965, CHLB Đức đã đẩy mạnh quan hệ với các nước XHCN. Tháng 8 – 1970, Hiệp ước Liên Xô – CHLB Đức được ký kết, khẳng định chính sách hòa bình, thừa nhận các đường biên giới hiện tại ở châu Âu và không dùng quân sự làm thay đổi tình hình châu Âu. Như vậy, Mỹ đã không còn khống chế được hai nước Tây Âu lớn là Pháp và Đức như trước nữa.
Nhật Bản đã lợi dụng được chiếc ô an ninh của Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ hai và sự giúp đỡ ban đầu của viện trợ tái thiết từ Mỹ để phát triển kinh tế. Đến đầu những năm 70 (XX), Nhật Bản được xếp vào các quốc gia đứng đầu về trình độ phát triển khoa học – kỹ thuật, đặc biệt trong các ngành công nghiệp dân dụng, được dư luận phương Tây suy tôn là “thần kì Nhật Bản”. Trên cơ sở những thành tựu kinh tế, bằng hành động đấu tranh đòi chủ quyền về quần đảo Okinawa mà Mỹ chiếm từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đã tách dần ra khỏi ảnh hưởng của Mỹ. Ở các nước Tây Âu, CNTB lũng đoạn nhà nước không chỉ dừng lại trong phạm vi quốc gia mà còn mở rộng ra phạm vi quốc tế, biểu hiện là sự ra đời của Khối thị trường chung châu Âu (EEC, tháng 3 – 1957).
Sự ra đời của cộng đồng kinh tế này cho phép các nước Tây Âu thực hiện hiệu quả cuộc cạnh tranh 16 z về kinh tế, tài chính và thương mại với những nước ngoài khối, đặc biệt đối với Mỹ và Nhật Bản. Như vậy, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trong thế giới tư bản dần dần hình thành ba trung tâm kinh tế là Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản. Trong thế chân kiềng này, thế lực kinh tế của Mỹ ngày càng suy giảm so với sự phát triển của Tây Âu và Nhật Bản. Điều đó đã thúc đẩy khuynh hướng các nước Tây Âu và Nhật Bản tách khỏi sự khống chế của Mỹ về kinh tế và sau đó là về chính trị.
Cùng với sự gia tăng các mâu thuẫn giữa Mỹ và các nước đế quốc khác, các khối quân sự, liên minh quân sự như Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), Hiệp định an ninh Mỹ - Nhật, khối ANZUS, SEATO, CENTO cũng đã bộc lộ các bất đồng. Mâu thuẫn trong khối NATO xuất hiện ngay khi thành lập với việc Anh – Mỹ tranh nhau quyền lãnh đạo và ảnh hưởng ngày càng trở nên phức tạp hơn khi Pháp và Tây Đức cũng đấu tranh đòi Mỹ chia sẻ quyền lực; các đồng minh khác cũng đòi độc lập hơn với Mỹ. Bên cạnh đó, các cuộc khủng hoảng tiền tệ trong thế giới tư bản và các cuộc “chiến tranh kinh tế” ngày một gay gắt. Sau thất bại quân sự năm 1968 và trước xu thế Mỹ phải xuống thang chiến tranh ở Việt Nam, quan hệ giữa Mỹ và các nước chư hầu có quân tham chiến ở Việt Nam cũng bớt gắn bó.
Tại các nước tư bản, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động vì các quyền dân sinh, dân chủ và hòa bình cũng phát triển với quy mô rộng lớn. Tình hình suy thoái kinh tế, lạm phát và thất nghiệp đã đẩy quần chúng lao động vào cảnh nghèo khổ, làm nảy sinh các cuộc bãi công đòi dân sinh, dân chủ. Khi đế quốc Mỹ đưa quân vào Việt Nam và thất bại buộc phải xuống thang chiến tranh, thì một nội dung nổi bật của phong trào đấu tranh tại các nước tư bản là chống chiến tranh Việt Nam. Nội dung này đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo các tầng lớp nhân dân như Đảng nhận định: “Ngay những vấn đề thiết thân đối với nhân dân các nước tư bản cũng không tập hợp được quần chúng đông đảo như vấn đề Việt Nam” [36, tr.
17 z Trong nội bộ nước Mỹ, những mâu thuẫn cũng ngày một phát triển sâu sắc sau những thất bại của Mỹ trên chiến trường Đông Dương. Những khó khăn chưa có chính sách giải quyết trong vấn đề tài chính do các cuộc khủng hoảng kinh tế 1960 – 1961, 1964 – 1965, 1969 – 1970, trong vấn đề người da đen, da đỏ - hậu quả của nạn phân biệt chủng tộc, vấn đề đô thị, tình trạng thất nghiệp, lạm phát trầm trọng, khiến niềm tin của nhân dân vào chính quyền bị suy giảm. Đặc biệt, phong trào phản chiến ở Mỹ dâng lên mạnh mẽ và có bước phát triển về chất so với các giai đoạn trước. Ý thức chống chiến tranh Việt Nam đã thâm nhập sâu hơn trong các tầng lớp nhân dân, trong xã hội Mỹ, khiến vấn đề Việt Nam trở thành một trong những vấn đề mấu chốt gây mất ổn định của nước Mỹ.