Chương 1 NGUỒN GỐC, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH THỂ CHẾ CHÍNH QUYỀN LÊ – TRỊNH 1. Tổng quan về thể chế hai chính quyền song song trong lịch sử 1. Thể chế hai chính quyền song song trong lịch sử thế giới Khi loài người bước vào xã hội có giai cấp thì nhà nước cũng hình thành. Nhà nước là một thiết chế thuộc thượng tầng kiến trúc gắn liền với hạ tầng cơ sở, phản ánh đặc trưng riêng biệt của từng hình thái kinh tế xã hội khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của lịch sử.
Nhà nước duy trì sự tồn tại thông qua bộ máy chính quyền với cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành, hoạt động trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Chính quyền nhà nước là một thực thể cụ thể, sống động và là một phạm trù cơ bản của chính trị. Nhà nước thể hiện vai trò và quyền lực chính trị của giai cấp, tầng lớp thống trị trong từng xã hội, ở chế độ phong kiến là giai cấp địa chủ quý tộc. Chính trị (politic, politique) là một lĩnh vực phức tạp của đời sống xã hội có giai cấp, từ trước đến nay đã có nhiều định nghĩa khác nhau về chính trị.
Theo quan điểm của phương Tây, chính trị có gốc từ nguyên trong tiếng Hy Lạp là politica nghĩa là công việc liên quan đến nhà nước. Trong đó, poli- là thành phố và -tica là quản lý. Như vậy, chính trị là công việc quản lý của nhà nước. Còn theo quan điểm của phương Đông (chủ yếu là ở Trung Quốc) thì chính trị nguyên thể là 政治 trong đó 政: đúng đắn, hợp lý và 治: cai trị, quản lý.
Như vậy, chính trị là sự quản lý hợp lý, đúng đắn lên một cộng đồng xã hội nào đó1. Hiện nay, trên thế giới hình thành tất cả bốn cách hiểu về chính trị. Đó là nghệ thuật cai trị, những công việc chung, sự thoả hiệp và đồng thuận, quyền lực và sự phân phối tài nguyên hay lợi ích2. Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng nhìn chung, chính trị được định nghĩa: “toàn bộ những hoạt động có liên quan đến các mối quan hệ giữa các giai 1 Hoàng Văn Việt (2009), Bài giảng Chính trị học đại cương, ĐHKHXH & NV TP.
Hồ Chí Minh, tr. 2 Andrew Heywood (2007), Politics (3rd edition), Palgrave Macmillan, New York. 19 cấp, giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội mà cốt lõi của nó là vấn đề giành chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước, sự tham gia vào công việc nhà nước, sự xác định hình thức tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước”1. Liên quan đến chính trị có các khái niệm quyền lực chính trị, thể chế chính trị, hệ thống chính trị, chế độ chính trị và uy thế chính trị.
Trong đó, quyền lực và quyền lực chính trị là vấn đề đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu chính trị và lịch sử chính trị. Chủ nghĩa Marx – Lenin thì xem “quyền lực là một phạm trù dùng để chỉ khả năng thực hiện ý chí của mình tác động đến hành vi, phẩm hạnh của người khác nhờ một phương tiện nào đó”. Từ đó, chủ nghĩa Marx đưa ra định nghĩa: “quyền lực chính trị là bạo lực có tổ chức của một giai cấp nhằm trấn áp giai cấp khác” 2. Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam định nghĩa: “Hệ thống chính trị là tổng thể những tổ chức thực hiện quyền lực chính trị được xã hội chính thức thừa nhận”.
Ở đây, chúng ta có thể hiểu hệ thống chính trị là toàn bộ các cơ quan, bộ máy vận hành của chính quyền Lê – Trịnh. Còn uy thế chính trị là “thế mạnh về quyền lực, địa vị, vai trò, ảnh hưởng của một người, một tổ chức, một giai cấp trong xã hội khiến người khác hoặc tổ chức khác, giai cấp khác phải kính nể, tuân theo và khuất phục”. “Thể chế chính trị là tổng hợp các phương pháp và cách thức thực hiện quyền lực nhà nước do tình hình chính trị trong nước chi phối. Thể chế chính trị trước hết được quy định bởi bản chất giai cấp, hình thức nhà nước, tính chất của pháp luật và quyền lực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tương quan lực lượng của các giai cấp, mức độ và hình thức đấu tranh giai cấp cũng như truyền thống lịch sử của đất nước và hoàn cảnh quốc tế là những yếu tố ảnh hưởng đến thể chế chính trị”3.
Như vậy, thể chế chính trị Lê – Trịnh mà chúng ta nghiên cứu có thể được định nghĩa như sau: Thể chế chính trị Lê – Trịnh (thể chế chính quyền Lê – Trịnh) là một hệ thống chính trị bao gồm tổng thể các cơ quan với cơ chế vận hành và hoạt động bằng các phương pháp, cách thức thực hiện quyền lực của nhà nước phong kiến, phản ánh được uy thế chính trị của chính thể. Thể chế chính trị Lê – Trịnh thể hiện bản chất thống trị của 1 Từ điển Bách khoa Việt Nam đăng trên website: http://www. 2 Hoàng Văn Việt (2009), Bài giảng Chính trị học đại cương, ĐHKHXH &NV TP. Hồ Chí Minh, tr.
3 Từ điển Bách khoa Việt Nam đăng trên website: http://www. 20 giai cấp địa chủ quý tộc phong kiến Đại Việt thế kỉ XVI - XVIII cũng như tính chất nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương mang đặc trưng riêng biệt khác với những thể chế chính trị trước đó. Lịch sử thế giới tồn tại hai xu thế chính trị chính là xu thế tập quyền và tản quyền. “Trong bất cứ nền chính trị hiện thực nào cũng chất chứa vô số những biểu hiện cụ thể của cuộc đấu tranh giữa hai xu thế cơ bản ấy và mọi thiết chế chính trị đều là kết quả hiện thực mang tính cụ thể – lịch sử của cuộc đấu tranh, chuyển hoá và tác động qua lại phức tạp của hai xu thế này”1.
Lịch sử đã diễn ra cuộc đấu tranh giữa hai xu thế đó như sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập, điều này biểu hiện rõ nét nhất là vào thời phong kiến. Tiêu biểu là quá trình hình thành thể chế chính trị ở phương Đông và phương Tây. Ở phương Đông, xu thế chính trị chính là tập quyền và nhà nước phong kiến phương Đông là nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền mang tính chất điển hình. Dù ở một số thời điểm, tính tập quyền bị gián đoạn như thời kì Nam – Bắc triều (420 - 589), Ngũ đại Thập quốc (907 - 960) ở Trung Quốc hay Nam – Bắc triều (Namboku-cho 1336 - 1392) ở Nhật Bản.
Trong khi đó, xu thế chính trị của phương Tây là phân quyền, thời kì phong kiến ở phương Tây trải qua ba giai đoạn sơ kì trung đại, trung kì trung đại và hậu kì trung đại thì 2/3 thời gian, phương Tây tồn tại chế độ phong kiến phân quyền với tính tự trị rất lớn của các lãnh chúa địa phương. Chính nền tảng kinh tế, xã hội và tư tưởng là nhân tố quyết định đến xu thế chính trị của hai khu vực. Ở phương Tây, do cơ cở kinh tế, xã hội ngay từ thời cổ đại đã mang những yếu tố dân chủ cùng với thiết chế tam quyền phân lập đã ảnh hưởng rất lớn đến tính chất của chính trị phương Tây không chỉ thời phong kiến mà cả sau này. Đến thời phong kiến, quá trình phân phong thái ấp, trang viên theo cơ chế “tôn chủ - bồi thần” đã làm cho tính phân quyền càng cao hơn nữa.
Mãi đến thời hậu kì trung đại, cùng với sự xuất hiện của nền kinh tế hàng hoá tư bản, chế độ phong kiến phương Tây mới đi vào sự 1 Trần Ngọc Vương (2008), “Lưỡng đầu chế thời Lê – Trịnh và những hệ quả của nó”, Tạp chí Triết học số 208 (09. 21 tập quyền nhưng cũng chỉ thành công ở Pháp còn ở các quốc gia phong kiến khác như Đức, Ý đã thất bại. Ở phương Đông, nền tảng kinh tế, xã hội và tư tưởng ngay từ thời cổ đại đã quy định cho khu vực này một chế độ chính trị mang tính tập quyền, chuyên chế cao độ. Xu thế chính trị tập quyền này vẫn còn ảnh hưởng rất sâu sắc ở các nhà nước phương Đông cho đến hiện nay.
Việt Nam là một trường hợp điển hình cho xu thế chính trị tập quyền, dù cũng có đôi lúc chịu tình trạng cát cứ, phân quyền. Tuy nhiên, thể chế chính trị Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài vào thế kỉ XVI - XVIII thì lại rất đặc biệt, không nằm trong quy luật vận động của hai xu thế chính trị nói trên. Đó là một sự biến thể độc đáo có một không hai trong lịch sử mà chúng ta sẽ tìm hiểu. Khi xu thế tản quyền bị khống chế thì mọi quyền cơ bản của cá nhân mỗi con người nhất là các cá nhân thuộc giai cấp bị trị sẽ không được thực hiện.
Đó là sự cai trị trong tình trạng độc tài chuyên chế, nhưng ngược lại khi xu thế tập quyền bị suy yếu thì sẽ không thể nào xây dựng được chính quyền mạnh, nhà nước phồn vinh, cộng đồng vững chắc. “Không thể có những cộng đồng mạnh mẽ đích thực nếu đó chỉ là tập hợp của những cá nhân, cá thể yếu đuối, cũng không có những cá nhân hạnh phúc đích thực và phát triển bền vững nều họ không được bảo trợ bởi những đại diện cộng đồng có đầy đủ sức mạnh”1. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận là trong quá trình vận động, phát triển của lịch sử, hai xu thế chính trị đó luôn chuyển hoá, tác động lẫn nhau và thay thế cho nhau nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra của lịch sử. Đó là chu kì thay thế lẫn nhau và là tiền đề dẫn đến sự phát triển cho nhau.
Trong lịch sử chính trị thế giới từ cổ chí kim, cũng đã từng xuất hiện nhiều thể chế chính trị cùng song song tồn tại hai chính quyền, mang đặc trưng chuyển hoá của hai xu thế chính trị. Đó là hình thức chính quyền kép, “lưỡng đầu chế” hay còn gọi là cơ chế “song trùng lãnh đạo”. 1 Trần Ngọc Vương (2008), “Lưỡng đầu chế thời Lê – Trịnh và những hệ quả của nó”, Tạp chí Triết học số 208 (09. 22 Ở phương Tây cổ đại, tại thành bang Sparta (Hy Lạp) đã tồn tại một thể chế chính trị nhà nước đặc biệt với hai vua cùng trị vì.
Hai vị vua này thuộc hai dòng họ lớn của Sparta lúc đó là Agides và Eurypontides1, là 2 trong số 30 thành viên của Hội đồng trưởng lão Gerosica - cơ quan quyền lực cao nhất thành bang, biểu hiện cho nền “dân chủ đại diện” của nhà nước cộng hoà quý tộc.