mở đầu mang tính gợi ý về việc nghiên cứu truyền thuyết về Lý Bí cũng như nhắc nhở về yêu cầu cẩn trọng khi sử dụng tài liệu truyền thuyết dân gian và thần tích để nghiên cứu sử. Tuy nhiên, sau khi dẫn những lời của Maspero, Nguyễn Văn Huyên đã nêu quan điểm nghiên cứu của mình về vấn đề này như sau: Tuy nhiên, nếu có lẽ là không thể nào dựng lại được diện mạo thật của các thần đó thì cũng nên xem xét tình trạng hiện nay của các truyền thuyết này và nghiên cứu việc thờ các thần đó ở các làng mạc Bắc Kỳ của chúng ta. 21 Chúng tôi muốn thử làm việc này với các thần liên quan đến một thời kỳ nhất định của lịch sử Việt Nam, thời Tiền Lý [50, tr. Sau đó, ông đã nêu lên một nhận xét thú vị về các nhân vật của thời Tiền Lý: Đây là thời kỳ độc lập được các nhà sử học Việt Nam kể lại… Nó kéo dài chưa đến 60 năm.
Số nhân vật đóng vai trò quan trọng cũng tương đối ít. Có 4 ông vua: Lý Bí (hay Tiền Lý Nam Đế), Triệu Quang Phục, Đào Lang và Lý Phật Tử. Nên thêm vào đấy bốn nhân vật nữa: Nhã Lang (con trai Lý Phật Tử), Lý Phục Man (một tướng của Lý Bí) và hai anh em họ Trương (tức Trương Hống, Trương Hát - tướng của Triệu Quang Phục). Vậy mà tất cả các nhân vật này, trừ Đào Lang liên quan đến lịch sử nửa sau thế kỷ VI, ngày nay đều là thành hoàng [50, tr.
Cũng trong chuyên khảo này ông đã dẫn Nam Việt thần kỳ hội lục và lập bảng thống kê 20 làng thờ Lý Bí làm thành hoàng làng [50, tr. Bảng thống kê sơ lược bước đầu của tác giả Nguyễn Văn Huyên về các làng có di tích thờ Lý Bí cho thấy vùng đất tập trung khá đông các địa điểm thờ cúng Ông nằm ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Năm 1989, Tạ Chí Đại Trường xuất bản cuốn Thần, người và đất Việt [125] tại Hoa Kỳ. Cuốn sách đã được các độc giả trong và ngoài nước hoan nghênh và được nhà sử học Dương Trung Quốc đánh giá “đây là một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc về quá trình phát triển của tín ngưỡng dân gian Việt Nam từ thời cổ đại đến ngày nay” [125, tr.
Để rộng đường dư luận, nhà xuất bản Văn hóa Thông tin đã cho in nguyên văn công trình này. Trong cuốn sách, tác giả đã có một cái nhìn lịch sử về việc thờ thần ở Việt Nam, trong đó, ông chỉ ra sự lẫn lộn thần người ở những giai đoạn chưa có sử, trong đó có thời Tiền Lý. Ở đây, ông chỉ ra bản chất nhiên thần, cụ thể là thủy thần của các nhân vật thời Tiền Lý như Triệu Quang Phục và Trương Hống, Trương Hát. Về Lý Bí, Tạ Chí Đại Trường đã chỉ ra tính chất lịch sử và đã nhìn nhận nhân vật này trong mối quan hệ chặt chẽ với các vị thần sông nước.
Những tư liệu và hướng nghiên cứu này của Tạ Chí Đại Trường đã cung cấp một cái nhìn lý thú cho NCS khi nghiên cứu mối quan hệ giữa Lý Bí với 22 các nhân vật liên quan với Ông trong truyền thuyết dân gian cũng như mối quan hệ nào đó giữa tục thờ này với môi trường sinh thái vùng sông nước, với môi trường văn hóa ở đây và lịch sử phát triển của vùng đất. Với xu hướng tôn vinh lịch sử, ca ngợi người anh hùng dân tộc Lý Nam Đế và quá khứ hào hùng, các tác giả về sau đã biên soạn lại các truyền thuyết và lưu giữ trong các kho thư viện hiện nay. Những truyền thuyết này mang dấu ấn của người biên soạn với kết cấu khá hoàn chỉnh, nội dung được trau chuốt, chọn lọc, lời kể có hệ thống, mạch lạc. NCS đã thống kê được các truyền thuyết về Lý Nam Đế ở các nguồn thư tịch sau: Truyền thuyết Việt Nam [2], Truyền thuyết anh hùng cứu nước và truyền thuyết địa danh [69], Tổng tập Văn học dân gian người Việt [46]… Nội dung các truyền thuyết theo dạng này thường dựa vào những sự kiện được chép trong các bộ sử, đó đơn thuần là những sự kiện lịch sử khô khan và ít mang tính thần kỳ, tuân thủ theo kết cấu của một thần tích: lai lịch - tài đức - sự nghiệp - chết thần kỳ - hiển linh - âm phù- sắc phong - gia phong.
Ngoài ra, còn phải kể đến các công trình thống kế, sưu tầm, mô tả về di tích/lễ hội liên quan tới các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng về Lý Nam Đế của người dân địa phương tại các địa bàn nơi gắn liền với cuộc khởi nghĩa của Lý Nam Đế. Những tư liệu này đã cung cấp cho NCS những thông tin thú vị về một số nơi thờ phụng và lễ hội thờ Lý Nam Đế, giúp bước đầu thống kê về số lượng các điểm thờ, xác định không gian phân bố và tìm ra những nét tương đồng và khác biệt, những nét riêng độc đáo trong việc phụng thờ Lý Nam Đế tại các vùng thờ tự nhằm nhận diện khái quát về việc phụng thờ Ông ở vùng châu thổ Bắc Bộ. Đó là các cuốn 60 lễ hội cổ truyền [146], Lễ hội cổ truyền[147], Di tích Hà Tây [104],…Đặc biệt, năm 2012, với niềm tự hào và mong muốn giới thiệu về những giá trị văn hóa đặc sắc của quê hương, UBND huyện Hoài Đức đã biên soạn cuốn Hoài Đức – một vùng văn hóa dân gian [139]. Với hơn 300 trang sách tập hợp những bài viết, bài nghiên cứu về văn học dân gian Hoài Đức, những truyền thuyết về các nhân vật lịch sử, những phương ngôn, tục ngữ, ca dao, vè, các công trình kiến trúc, các ngành nghề truyền thống, các trò chơi dân gian, văn hóa ẩm thực Hoài Đức đã cho người đọc 23 chiêm ngưỡng, thưởng thức và trải nghiệm những thành tựu, những sản phẩm văn hóa đặc sắc.
Có thể nói, trong rất nhiều giá trị văn hóa cổ xưa còn lại đến ngày nay thì những truyền thuyết, di tích và lễ hội thờ Lý Nam Đế tại vùng đất này là một trong những minh chứng xác thực cho lịch sử hào hùng của dân tộc. Lý Nam Đế tồn tại trong ký ức của những người dân nơi đây qua những câu chuyện kể, những truyền thuyết được lưu truyền tại địa phương [139, tr.24 – 28], trong những nghi lễ thờ cúng, những nghi thức, tập tục, truyền thống lâu đời của người dân [139, tr.90,104], trong những công trình kiến trúc độc đáo [139, tr. Tuy thông tin còn sơ lược và mới dừng lại ở mô tả khái quát hiện trạng các di tích, trình tự lễ hội, phong tục địa phương nhưng ít nhiều đã cung cấp cho NCS cái nhìn bước đầu về việc phụng thờ Lý Nam Đế nơi đây. Nhằm chứng minh Thái Bình là quê hương của Đức vua Tiền Lý Nam Đế nhiều nhà nghiên cứu văn hóa nơi đây đã đưa ra các bằng chứng, lập luận của mình.
Tác giả Phạm Thị Nết trong bài viết Lý Bí (? – 548) đăng trong sách Danh nhân Thái Bình [77] được sở Văn hóa Thông tin Thái Bình xuất bản năm 2002 qua khảo sát thực tế và những ghi chép của sử sách đã khẳng định quê hương Lý Bí thuộc tỉnh Thái Bình. Năm 2008 để củng cố thêm cho khẳng định này hai tác giả Phạm Minh Đức và Bùi Duy Lan đã công bố cuốn Thái Bình với sự nghiệp dựng nước Vạn Xuân [37]. Với những căn cứ từ những nguồn tư liệu thư tịch cổ và thực tế sự tồn tại của các di tích thờ Lý Nam Đế tại Thái Bình hai tác giả một lần nữa khẳng định Thái Bình là mảnh đất sinh ra Lý Nam Đế. Tuy nhiên những quan điểm này đã bị nhiều nhà nghiên cứu lịch sử về sau (tiêu biểu như tác giả Nguyễn Minh Tường với bài viết “Vấn đề quê hương của Lý Nam Đế - một nghi án lịch sử cần được làm sáng tỏ” bác bỏ và cho rằng quê hương đích thực của ông là thôn Cổ Pháp, xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, Thái Nguyên [137, tr.
Vấn đề này xác thực đến đâu có lẽ vẫn cần nhiều thời gian nghiên cứu, tuy vậy NCS nhận thấy rằng tỉnh Thái Bình hiện nay có nhiều di tích lịch sử gắn bó với vua Lý Nam Đế. Nhiều tài liệu nghiên cứu như Di tích lịch sử văn hóa Thái Bình [15], Văn hóa vùng đất Lạng – Hương Mần [33]…đã thống kê về số lượng di tích đáng kể còn tồn tại trên mảnh đất này, 24 mô tả những nghi lễ thờ cúng, truyền thuyết địa phương, lễ hội, phong tục của người dân Thái Bình trong việc tưởng niệm và tôn vinh Lý Nam Đế. Một số tác giả những năm gần đây đã có những nghiên cứu nhằm tìm hiểu những ảnh hưởng của Lý Nam Đế trong đời sống tâm thức dân gian như: Năm 2004, luận văn “Lễ hội làng Giang Xá (thị trấn Trôi - huyện Hoài Đức - tỉnh Hà Tây)” [45] của sinh viên Nguyễn Thị Thanh Hoa đã mô tả và phân tích khá chi tiết bức tranh sinh hoạt về lễ hội của làng với mong muốn góp phần vào việc nghiên cứu đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng nông thôn đương đại. Điều mà tác giả quan tâm ở đây chính là vai trò của lễ hội trong đời sống sinh hoạt văn hóa của người dân ở các làng xã cũng như sự biến đổi của nó trước tác động của quá trình hiện đại hóa đang diễn ra mạnh mẽ ở nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay.
Tiếp đó, năm 2007, học viên Trần Thị Mai Hương đã chọn khảo sát và nghiên cứu truyền thuyết về Lý Bí trên quê hương Hoài Đức với đề tài “Khảo sát truyền thuyết về Lý Bí ở Hoài Đức (Hà Tây)‟‟[56]. Dưới góc độ khoa học văn học dân gian, luận văn đã tìm hiểu, phân tích, đánh giá các giá trị tư tưởng thẩm mỹ của những truyền thuyết về Lý Bí và chủ yếu đi vào phân tích đặc điểm nội dung và các motif cơ bản của hệ thống truyền thuyết về Lý Bí. Bằng việc thu thập tư liệu, thống kê những di tích lịch sử thời Tiền Lý ở huyện Hoài Đức, hệ thống các truyền thuyết về Lý Bí, luận văn đã cung cấp cho NCS những tư liệu quý báu trong quá trình thực hiện đề tài này. Năm 2009, tác giả luận án đã có những nghiên cứu bước đầu về việc phụng thờ Lý Nam Đế trong luận văn thạc sĩ với đề tài “Việc phụng thờ Lý Nam Đế ở làng Giang Xá, huyện Hoài Đức, Hà Nội” [85] và một số bài viết đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành.