đặt vấn đề cần thiết phải kế thừa, phát huy những giá trị tinh thần này trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tác giả khẳng định những giá trị tinh thần truyền thống đó chứa đựng đạo lý làm người của dân tộc, đồng thời chỉ ra cơ sở hình thành và đặc điểm của nó. Vì vậy, công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả luận án hiểu rõ hơn cơ sở hình thành, đặc điểm của 9 những giá trị tinh thần truyền thống nói chung, của quan niệm về đạo làm trong tục ngữ, ca dao Việt Nam nói riêng. Trong công trình Tìm hiểu tính cách dân tộc [50], Nguyễn Hồng Phong nghiên cứu tính cách dân tộc (dân tộc Kinh) cổ truyền hình thành từ trước khi giai cấp vô sản xuất hiện và lãnh đạo cách mạng nhằm tìm hiểu truyền thống tinh thần dân tộc, vị trí và tác dụng của nó trong công cuộc xây dựng con người Việt Nam mới, cụ thể là: tâm lý tập thể, cộng đồng; trọng đạo đức; cần, kiệm, giản dị, thực tiễn; tinh thần yêu nước bất khuất và lòng yêu chuộng hòa bình, nhân đạo; tinh thần lạc quan.
Tác giả đã chỉ ra cơ sở hình thành tính cách dân tộc Việt Nam dựa trên những điều kiện kinh tế, lịch sử xã hội và điều kiện địa lý nhất định, là cuộc đấu tranh thiên nhiên, đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp lâu đời của nhân dân Việt Nam. Tính cách dân tộc không phải là cố định, bất biến mà thay đổi khi điều kiện kinh tế xã hội thay đổi. Đồng thời, tác giả cũng khẳng định tính lịch sử của tính cách dân tộc không loại trừ hay mâu thuẫn với những truyền thống tinh thần hình thành trong trường kỳ lịch sử, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đây là công trình nghiên cứu có giá trị, là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả luận án trong việc tìm hiểu cơ sở hình thành và đặc điểm tính cách dân tộc Việt Nam, cũng như quan niệm về đạo làm người trong truyền thống nói chung, trong tục ngữ, ca dao Việt Nam nói riêng.
Trong công trình Con người Việt Nam - giá trị truyền thống và hiện đại [53], Bùi Thanh Sơn và Lê Thị Thu Ngân đã phân tích cơ sở hình thành những giá trị truyền thống của con người Việt Nam kết tụ qua trường kỳ lịch sử. Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả luận án trong việc nghiên cứu cơ sở hình thành đạo làm người trong tục ngữ, ca dao Việt Nam – một trong những tấm gương phản chiếu giá trị của con người Việt Nam truyền thống. Trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam [58] và Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam [57], Trần Ngọc Thêm đã chỉ ra những nét bản sắc trong văn 10 hóa Việt Nam đồng thời phân tích làm rõ cơ sở hình thành của những nét bản sắc đó. Công trình đã cung cấp cho tác giả cái nhìn tổng thể, phong phú về văn hóa Việt Nam từ đó có cơ sở nghiên cứu đặc điểm đạo làm người trong văn hóa Việt Nam nói chung, trong tục ngữ, ca dao Việt Nam nói riêng.
Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu về văn hóa Việt Nam trên cơ sở sự tiếp biến Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo phải kể đến như: Công trình Đại cương Lịch sử văn hóa Việt Nam [61] (gồm Tập 2 – Phật giáo và Đạo giáo trong văn hóa Việt Nam, Tập 3 – Nho giáo với quá trình tham gia vào đời sống văn hóa và tư tưởng ở Việt Nam) của Nguyễn Khắc Thuần. Qua những nghiên cứu của mình, tác giả đã chỉ ra sự ảnh hưởng của tam giáo tới văn hóa Việt Nam. Và lẽ tất nhiên, tam giáo đã để lại dấu ấn trong quan niệm về đạo làm người trong tục ngữ, ca dao Việt Nam. Những công trình này góp phần giúp tác giả luận án làm rõ cơ sở hình thành cũng như đặc điểm đạo làm người trong tục ngữ, ca dao Việt Nam.
Công trình Nho giáo tại Việt Nam [65] là tổng hợp các bài tham luận hội thảo “Nho giáo trong lịch sử và tàn dư của nó trong xã hội Việt Nam” do Viện Triết học tổ chức vào năm 1973 và 1978. Trong đó, các nhà nghiên cứu đã đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau giúp chúng ta có cái nhìn khái quát về sự phát triển và đặc điểm của Nho giáo Việt Nam, sự ảnh hưởng của Nho giáo đối với Việt Nam qua thực tiễn lịch sử. Trong đó, có hai bài tham luận thể hiện sự ảnh hưởng của Nho giáo đối với Văn học dân gian đó là: “Bình dân Việt Nam với Nho giáo qua Văn học dân gian” của Triêu Dương và “Vài nét về tinh thần chống ý thức hệ Nho giáo trong Văn học dân gian Việt Nam” của Bùi Văn Nguyên. Cả hai bài viết đều nói tới sự tiếp biến Nho giáo trong đời sống xã hội Việt Nam được phản ánh qua Văn học dân gian mà đặc biệt là qua ca dao.
Mặc dù mới chỉ dừng lại ở những nhận định, phân tích ban đầu nhưng bài viết đã phần nào lý giải nguyên nhân, đặc điểm của sự tiếp biến Nho giáo trong đời sống xã hội Việt Nam qua sự phản ánh trong ca dao. Bài 11 viết là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả luận án trong việc luận giải tiền đề văn hóa tư tưởng và đặc điểm của đạo làm người trong ca dao Việt Nam. Nguyễn Minh Tuấn, Nguyễn Quốc Văn trong bài viết Những giá trị tích cực của Nho giáo trong Bộ luật Hồng Đức [70] đã chỉ ra ảnh hưởng tích cực của Nho giáo trong bộ luật Hồng Đức qua một số nội dung cơ bản như: Bộ luật Hồng Đức là công cụ quan trọng để xây dựng và củng cố Nhà nước quân chủ trung ương tập quyền; Bộ luật Hồng Đức bảo vệ những giá trị đạo đức Nho giáo, đặc biệt là đạo đức trong gia đình; Sự kết hợp giữa Lễ và Hình là một đặc trưng nổi bật của Bộ luật Hồng Đức; Bộ luật Hồng Đức mang đậm tính chất nhân đạo; Bộ luật Hồng Đức thể hiện “tính phản ánh” sâu sắc và tinh tế mà tiêu biểu là ở sự kết hợp chặt chẽ giữa Nho giáo và phong tục tập quán, giữa luật và tục lệ, … Có thể nói Nho giáo có ảnh hưởng sâu sắc trong Bộ luật Hồng Đức trên tất cả các lĩnh vực. Đó cũng chính là một trong những cơ sở quan trọng giải thích sự ảnh hưởng của Nho giáo trong tục ngữ, ca dao Việt Nam.
Trong bài viết Nho giáo với gia đình Việt Nam truyền thống [24], Tử Hoàn đã phân tích sự tiếp thu và biến đổi của Nho giáo trong gia đình Việt Nam truyền thống, từ đó khẳng định nét đặc thù trong ứng xử của người Việt Nam. Mặc dù gia đình Việt Nam truyền thống chịu ảnh hưởng của Nho giáo nhưng gia đình Nho giáo Việt Nam có những điểm khác so với gia đình Nho giáo Trung Quốc và gia đình Nho giáo ở các quốc gia chịu ảnh hưởng của Nho giáo như Hàn Quốc và Nhật Bản. Điều đó thể hiện ở chỗ gia đình Nho giáo ở Việt Nam luôn đặc biệt đề cao, coi trọng vai trò của người phụ nữ, người vợ trong gia đình. Tư tưởng coi trọng người phụ nữ không những được in dấu trong nếp nghĩ, lối sống của con người mà còn được cụ thể hóa trong Luật Hồng Đức triều Lê, Luật Gia Long triều Nguyễn.
Bài viết cung cấp tài liệu cho tác giả luận án luận giải cơ sở văn hóa tư tưởng cho sự hình thành quan niệm đạo làm người trong tục ngữ, ca dao Việt Nam. Đồng thời, bài viết 12 góp phần giúp tác giả luận án có cái nhìn sâu sắc hơn về đạo vợ chồng trong tục ngữ, ca dao Việt Nam dưới sự ảnh hưởng của Nho giáo. Phan Đại Doãn trong bài viết Một số đặc điểm Nho giáo Việt Nam [16] đã khẳng định sự ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo trong văn hóa Việt Nam. Đặc biệt từ thời Lê Thánh Tông, Nho giáo thâm nhập sâu đậm vào Việt Nam trên nhiều lĩnh vực như tư tưởng, thơ văn, phong tục tập quán… thông qua hệ thống giáo dục, pháp luật, chính quyền.
Nó đã trở thành một trong những yếu tố văn hóa truyền thống của Việt Nam. Phan Đại Doãn đã chỉ ra một trong những vấn đề có tính chất quyết định tới đặc điểm của Nho giáo Việt Nam đó là Nho giáo vào Việt Nam trên cơ sở một xã hội tiểu nông lúa nước với kết cấu phổ biến là gia đình nhỏ (gia đình hạt nhân), nho sĩ Việt Nam gắn liền với nông thôn, gần với nông dân. Tầng lớp Nho sĩ Việt Nam ở nông thôn, sinh hoạt gắn với làng xã nên nhiều yếu tố của Nho giáo, đặc biệt là tổ chức gia đình và dòng họ thâm nhập vào nông thôn khá sâu. Bài viết là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả luận án lý giải sự ảnh hưởng và dấu ấn Nho giáo trong quan niệm về đạo làm người trong tục ngữ, ca dao Việt Nam.
Lê Văn Đính trong bài viết Bàn thêm về ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay [15] đã khẳng định Phật giáo có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống xã hội Việt Nam từ xưa đến nay. Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Phật giáo luôn gắn bó với dân tộc, cùng toàn dân cứu nước vì thế nó đã gắn bó với vận mệnh dân tộc, trở thành truyền thống tinh thần của dân tộc và hiện nay, Phật giáo vẫn giữ nguyên giá trị của nó. Quan niệm đạo đức của Phật giáo có sự phù hợp với đạo đức của con người mới, với các quy định về nếp sống văn hóa và chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa, đó là: lòng yêu thương con người và vạn vật; lòng hiếu thảo với cha mẹ và thuận thảo với mọi người; lòng yêu quê hương, đất nước và nhân loại;…. Bài viết giúp tác giả luận án có 13 thêm căn cứ khi luận giải ảnh hưởng của Phật giáo trong dân gian được thể hiện qua tục ngữ, ca dao Việt Nam.
Trong cuốn Người Việt Nam với Đạo giáo [23], Nguyễn Duy Hinh, trên cơ sở nghiên cứu Đạo giáo Trung Quốc, tác giả đã nghiên cứu Đạo giáo ở Việt Nam qua các thời kỳ như: thời trước Lý, thời Lý – Trần, thời Lê – Nguyễn theo hướng thiên về Tiên đạo và Đạo giáo dân gian.