Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn (chuyên ngành Ngôn ngữ học, mã số 9.20) với đề tài "Đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt" được tác giả Vũ Thị Hương Giang thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2020, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Lương và TS Phạm Văn Tình.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Câu đố là một thể loại văn học dân gian được hình thành từ chất liệu ngôn từ, đồng thời là kho tàng lưu giữ các giá trị văn hóa cộng đồng. Hoạt động đố – giải là một dạng giao tiếp ngôn ngữ thường xuyên diễn ra trong đời sống, đóng vai trò một trò chơi trí tuệ giúp rèn luyện năng lực phán đoán, tư duy suy luận và khả năng sử dụng ngôn ngữ. Xét về mặt cấu trúc văn bản, câu đố là một đơn vị đặc biệt: vừa là một dạng "câu" vừa là một văn bản trọn vẹn, khép kín; kết hợp giữa phong cách ngôn ngữ văn học dân gian và ngôn ngữ sinh hoạt đời thường; vừa là văn bản ngôn từ vừa là hình thức diễn xướng dân gian.
Trong kho tàng câu đố dân gian Việt Nam, mảng câu đố về con vật, cây cỏ, hoa lá, củ quả gắn liền với nền văn minh nông nghiệp lúa nước chiếm số lượng lớn (gần 1/5 tổng số câu đố). Thể loại này phản ánh thế giới khách quan theo lối nói chệch, phương pháp giấu tên và nghệ thuật chuyển hóa gây nhiễu nhằm đánh lạc hướng lập luận của người giải đố. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: phần lớn các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc sưu tầm, giải đáp ẩn số hoặc tiếp cận khái quát dưới góc độ văn học; các nghiên cứu dưới góc độ ngôn ngữ học còn khiêm tốn, chỉ khai thác ở một số bình diện đơn lẻ như biểu thức miêu tả chiếu vật, tiền giả định, chơi chữ, ẩn dụ. Chưa có công trình nào khảo sát một cách hệ thống, tổng thể trên cả ba bình diện cấu trúc, ngữ nghĩa và lập luận đối với mảng câu đố về động thực vật trong tiếng Việt.
Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt, nhằm xác định tính chất của loại văn bản này dưới góc độ ngôn ngữ học.
- Chỉ ra các đặc điểm về cấu trúc – ngữ nghĩa, lập luận cùng đặc trưng tư duy văn hóa, triết lý dân gian phản ánh qua câu đố về động thực vật.
- Chỉ ra căn cứ và cơ chế giải mã để phục vụ việc giải đáp câu đố chính xác.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác lập khung lý thuyết cho đề tài luận án (khái niệm câu đố, lý thuyết văn bản, lý thuyết lập luận, nghĩa chiếu vật/sở chỉ, quy chiếu, lý thuyết định danh).
- Khảo sát, phân loại câu đố căn cứ vào cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận.
- Miêu tả, phân tích các loại câu đố theo các khía cạnh:
- Chỉ ra đặc điểm cấu trúc văn bản câu đố, mô hình hóa cấu trúc đồng dạng của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt.
- Làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa: phân tích các mảng chủ đề được phản ánh, các đặc điểm được chọn làm miêu tả tố trong lời đố miêu tả trực tiếp.
- Làm rõ đặc điểm lập luận: đặc điểm các thành phần lập luận, cấu trúc lập luận và cơ sở lập luận của câu đố về động thực vật.
- Tổng kết kết quả nghiên cứu bằng hệ thống bảng biểu và nhận định khoa học.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Khảo sát toàn bộ 488 câu đố về động vật và 636 câu đố về thực vật (tổng số 1.124 câu đố) trong tiếng Việt được văn bản hóa trong cuốn Tổng tập văn học dân gian Việt Nam (Tập 3 – Câu đố), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2005.
- Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn trong ba phương diện ngôn ngữ học gồm đặc điểm cấu trúc, đặc điểm ngữ nghĩa và đặc điểm lập luận của câu đố về động thực vật.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu đi trước theo hai hướng tiếp cận chính:
Các công trình nghiên cứu câu đố dưới góc độ văn học
- Nhóm công trình sưu tầm, biên soạn: Các tuyển tập câu đố của Thiên Lữ và Võ Hồng (2000), Hồ Anh Thái, Xuân Thu (1998), Lữ Huy Nguyên, Trần Gia Linh và Nguyễn Đình Chỉnh (1989), Viện Khoa học Xã hội Việt Nam với bộ Tổng tập văn học dân gian người Việt (tập 3, Câu đố) và Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số.
- Nhóm công trình nghiên cứu chuyên sâu về thể loại:
- Ninh Viết Giao (1990) trong Câu đố Việt Nam phân tích nguồn gốc, phạm vi đề tài, nội dung và các biện pháp nghệ thuật (ẩn dụ, so sánh, người hóa, vật hóa, thực vật hóa) tạo nên tính trí tuệ và tiếng cười dân gian.
- Triều Nguyên (2007) trong Câu đố người Việt xác định thể loại, phân biệt dạng đố, phân tích cách đố – giải, cấu trúc hình thức – nội dung và nêu các khái niệm như "trường và hiện tượng xuất nhập trường", "mô hình câu đố", "câu đố tá ý".
- Nguyễn Văn Trung (1986) trong Câu đố Việt Nam khảo cứu 1.513 câu đố, đi sâu vào hoàn cảnh sử dụng, cấu tạo ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ điệu, tần số xuất hiện và thế giới quan của người Việt.
- Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam) phân tích chức năng nhận thức, giải trí và nghệ thuật ẩn dụ của câu đố trong tương quan với tục ngữ và hát đố.
- Nhóm công trình gắn với đối tượng và phạm vi cụ thể: Đinh Thị Thu Hương so sánh câu đố Việt – Tày; Nguyễn Thị Hường (2008) nghiên cứu không gian làng quê trong vật đố; Trần Thị Lan (1996), Đặng Thị Mân, Đinh Thị Phương nghiên cứu bản chất câu đố đối với trẻ em và học sinh tiểu học; Nguyễn Thu Hồng nghiên cứu nghệ thuật câu đố loài vật; Nguyễn Văn Tứ nghiên cứu cơ chế câu đố chữ; Nguyễn Bá Lương bàn về tiếng cười trong câu đố.
Các công trình nghiên cứu câu đố dưới góc độ ngôn ngữ học
- Nghiên cứu biện pháp tu từ: Nguyễn Tấn Phát (1986) chỉ ra đặc trưng ngữ âm, từ ngữ, lối láy âm và nói lái của câu đố Nam Bộ; Đỗ Bình Trị phân tích kết cấu ẩn dụ; Đỗ Thành Dương (các bài viết trên Tạp chí Ngôn ngữ) nghiên cứu hiện tượng đồng âm, đồng nghĩa và nói lái; Nguyễn Thị Lê Vân khảo sát so sánh, ẩn dụ, chơi chữ; Trương Chí Hùng phân tích nghệ thuật chơi chữ qua các phương tiện ngữ âm, chữ viết, từ vựng ngữ nghĩa, ngữ pháp và cứ liệu ngoài văn bản.
- Nghiên cứu ngữ nghĩa: Phạm Văn Tình (2003) nghiên cứu hiện tượng "đồng dạng khác nghĩa" và "đồng nghĩa khác dạng"; Võ Thị Kim Xoa tiếp cận từ góc độ từ vựng học (chức năng miêu tả, ngữ dụng, phát ngôn, cú pháp và các thành phần nghĩa biểu vật, biểu niệm, biểu thái).
- Nghiên cứu ngữ dụng và ngôn ngữ học tri nhận: Bùi Minh Toán (2011) nghiên cứu biểu thức miêu tả chiếu vật; Đỗ Quyên phân loại tiền giả định bách khoa theo 7 loại tri thức nền; Tô Thị Phương Dung phân tích tiền giả định bách khoa (5 loại) và tiền giả định ngôn ngữ (từ vựng, cú pháp, đề tài); Bùi Thị Thu Huyền khảo sát câu đố qua hình thức văn bản, cấu trúc hội thoại và lý thuyết lập luận; Nguyễn Thị Chiên nghiên cứu biểu thức miêu tả chiếu vật; Nguyễn Thị Thanh Huyền (2008) và Lý Toàn Thắng & Nguyễn Thị Thanh Huyền khảo sát cách thức tri nhận thế giới của người Việt qua 22 tiêu chí định danh con vật và 9 cách thức liên tưởng so sánh.
Khoảng trống luận án giải quyết
Luận án chỉ ra rằng các nghiên cứu ngôn ngữ học trước đó chỉ tiếp cận từng khía cạnh riêng lẻ hoặc khảo sát trên ngữ liệu hẹp. Luận án đặt mục tiêu bao quát toàn diện câu đố về động thực vật trong tiếng Việt với tư cách một văn bản hoàn chỉnh trên cả ba bình diện cấu trúc hình thức, đặc điểm ngữ nghĩa và cơ chế lập luận, đồng thời mô hình hóa quy trình giải mã thể loại này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Hệ thống lý thuyết và khái niệm sử dụng
Luận án xác lập khung cơ sở lý luận dựa trên bốn trụ cột ngôn ngữ học:
-
Bản chất thể loại và chức năng câu đố:
- Kế thừa định nghĩa của Aristote ("câu đố là một kiểu ẩn dụ hay"), Vũ Ngọc Phan ("lối nói chệch"), Triều Nguyên (gồm lời đố bằng văn vần và lời giải), Đỗ Bình Trị ("phương pháp giấu tên và nghệ thuật chuyển hóa"), Vũ Anh Tuấn, Từ điển Tiếng Việt.
- Luận án xác định câu đố là một văn bản đặc biệt, khép kín, gồm hai bộ phận gắn kết hữu cơ: lời đố và lời giải (văn bản tạm khuất lấp, chỉ hiện diện trọn vẹn sau khi giải xong).
- Ba chức năng thể loại: Chức năng nhận thức (cung cấp tri thức tự nhiên – xã hội đa diện), chức năng giáo dục (rèn luyện tư duy quan sát, suy luận, bồi dưỡng tình cảm) và chức năng giải trí (tạo tiếng cười trí tuệ trong diễn xướng dân gian).
-
Lý thuyết văn bản:
- Tiếp thu quan điểm của Moskalskaja, Yule, Halliday & Hasan, Galperin, De Beaugrande & Dressler (7 tiêu chuẩn văn bản), Trần Ngọc Thêm ("chỉnh thể thống nhất và trọn vẹn về nội dung và hình thức").
- Ứng dụng mô hình cấu tạo văn bản ba phần (phần mở, phần thân, phần kết) và lý thuyết liên kết lôgíc của Diệp Quang Ban để phân tích cấu trúc văn bản câu đố.
-
Lý thuyết nghĩa chiếu vật (sở chỉ), quy chiếu và định danh:
- Ứng dụng lý thuyết nghĩa chiếu vật và quy chiếu của Đỗ Hữu Châu để phân tích lời đố (đặc điểm định hướng quy chiếu) và lời giải (nghĩa chiếu vật).
- Lý thuyết định danh: Khái niệm định danh theo G. Consanski, Nguyễn Như Ý, Mai Ngọc Chừ; cơ sở định danh có lý do (phi võ đoán: lý do khách quan và chủ quan) và không có lý do (võ đoán) theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Tồn; phương thức định danh trực tiếp và gián tiếp; quan điểm của W. von Humboldt về "hình thức bên trong" và "hình thức bên ngoài" của ngôn ngữ phản ánh tư duy văn hóa dân tộc.
-
Lý thuyết lập luận:
- Kế thừa lý thuyết lập luận của Oswald Ducrot và Jean-Claude Anscombre; các nghiên cứu của Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Diệp Quang Ban, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán và Nguyễn Thị Lương.
- Cấu tạo lập luận gồm luận cứ (5 phương thức gây hiệu quả lập luận theo Nguyễn Đức Dân: định nghĩa, so sánh, trích dẫn, câu hỏi/chất vấn, miêu tả; tiềm năng lập luận của nội dung miêu tả theo Ducrot) và kết luận (luôn ở dạng hàm ẩn trong câu đố).
- Quan hệ lập luận (đồng hướng và nghịch hướng lập luận) và cơ sở lập luận (dựa trên lẽ thường – topos và tư duy sáng tạo riêng).
Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Phân tích, đối chiếu cấu trúc văn bản và cấu trúc lập luận của câu đố.
- Phương pháp miêu tả: Miêu tả cấu trúc hình thức, các mô hình đồng dạng và các nét nghĩa được chọn làm miêu tả tố.
- Phương pháp liên ngành ngôn ngữ học – văn hóa học: Giải mã cách tri nhận và tư duy văn hóa của người Việt qua hình tượng vật đố.
- Thủ pháp thống kê, phân loại: Phân loại và lập bảng số liệu định lượng về cấu trúc, chủ đề, miêu tả tố, thành phần và cấu trúc lập luận.
- Thủ pháp so sánh: Đối chiếu điểm tương đồng và khác biệt giữa câu đố về động vật và câu đố về thực vật.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
Ngữ liệu gồm 1.124 câu đố (488 câu về động vật, 636 câu về thực vật) trích từ Tổng tập văn học dân gian Việt Nam (Tập 3 – Câu đố), Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2005.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu câu đố trong văn học dân gian và ngôn ngữ học tiếng Việt; làm rõ khái niệm, đặc trưng thi pháp (trò chơi trí tuệ bằng ngôn từ, bài toán văn học đặc biệt) và ba chức năng cơ bản của câu đố (nhận thức, giáo dục, giải trí). Đồng thời, chương này thiết lập khung lý thuyết công cụ gồm lý thuyết văn bản (cấu trúc ba phần, liên kết mạch lạc), lý thuyết chiếu vật – quy chiếu, lý thuyết định danh ngôn ngữ và lý thuyết lập luận ngữ dụng học làm căn cứ triển khai cho các chương thực nghiệm tiếp theo.
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC – NGỮ NGHĨA CỦA CÂU ĐỐ VỀ ĐỘNG THỰC VẬT TRONG TIẾNG VIỆT
Chương 2 tập trung phân tích cấu trúc văn bản và các đặc điểm ngữ nghĩa của 1.124 câu đố khảo sát.
1. Đặc điểm cấu trúc văn bản câu đố:
Luận án xác định văn bản câu đố gồm hai dạng cấu trúc chính:
| STT |
Dạng cấu trúc văn bản |
Số câu đố |
Tỉ lệ (%) |
Đặc điểm nhận diện |
| 1 |
Cấu trúc thông thường |
122 |
10,9 |
Đầy đủ 3 phần: Mở – Thân – Kết |
| 2 |
Cấu trúc đặc biệt |
1002 |
89,1 |
Khuyết phần mở; chỉ gồm Thân – Kết |
| Tổng |
|
1124 |
100,0 |
|
- Văn bản có cấu trúc thông thường (10,9%): Gồm phần mở (nêu danh từ chỉ loại hoặc câu hỏi định hướng như con chi, con gì, quả gì, trái gì, cây...), phần thân (miêu tả đặc điểm hình dáng, tập tính, công dụng) và phần kết (lời giải định danh chính xác vật đố). Luận án ghi nhận 162 câu (14,4%) có phần để hỏi kết hợp danh từ trung tâm chỉ loại và từ để hỏi, 33 câu (2,9%) mở đầu bằng danh từ chỉ loại xác định. Phần mở có thể xuất hiện ở đầu, chuyển xuống cuối hoặc lặp lại theo kết cấu vòng tròn.
- Văn bản có cấu trúc đặc biệt (89,1%): Lời đố đi thẳng vào miêu tả các đặc tính của vật đố mà không có phần giới thiệu mở đầu, nhằm tăng độ giấu kín của ẩn số.
- Mô hình cấu trúc đồng dạng: Luận án thống kê và phân loại các mô hình đồng dạng nghi vấn, đồng dạng trần thuật và mô hình cấu trúc ngữ pháp đồng dạng trong lời đố về động vật và thực vật (thể hiện qua các Bảng từ 2.2 đến 2.7).
2. Đặc điểm ngữ nghĩa:
- Hệ thống đề tài (chủ đề) ở lời giải: Phản ánh thế giới động vật (gia súc, gia cầm, thú rừng, chim muông, côn trùng, thủy hải sản) và thế giới thực vật (cây ăn quả, cây lương thực, cây lấy gỗ, cây hoa, rau củ) quen thuộc trong không gian sinh thái nông nghiệp Việt Nam (Bảng 2.8 và 2.9).
- Hệ thống miêu tả tố và cách thức triển khai chủ đề: Luận án thống kê các miêu tả tố chung và miêu tả tố riêng (Bảng 2.10, 2.11, 2.12). Người ra đố lựa chọn các thuộc tính về hình thể, kích thước, cấu tạo bộ phận, màu sắc, âm thanh/tiếng kêu, tập tính sinh học, môi trường sống, cách thức di chuyển, phương thức thu hoạch hoặc công dụng làm cơ sở định danh bậc hai cho vật đố.
- Phương thức miêu tả vật đố: Gồm miêu tả trực tiếp (dựa trên các thuộc tính khách quan) và miêu tả gián tiếp (sử dụng so sánh, nhân hóa, vật hóa, chuyển trường và chơi chữ) (Bảng 2.13).
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM LẬP LUẬN CỦA CÂU ĐỐ VỀ ĐỘNG THỰC VẬT TRONG TIẾNG VIỆT
Chương 3 khảo sát cấu trúc lập luận của câu đố với tư cách một hành vi ngôn ngữ nhằm dẫn dắt người tiếp nhận tìm ra đáp án.
1. Đặc điểm các thành phần lập luận:
- Thành phần kết luận: Trong câu đố, kết luận chính là lời giải (vật đố). Kết luận luôn ở trạng thái hàm ẩn, đòi hỏi người nghe phải suy luận từ các dữ kiện cho trước. Luận án khảo sát số lượng vật đố ở kết luận (đơn vật đố và đa vật đố) qua Bảng 3.1.
- Thành phần luận cứ: Luận cứ trong câu đố chủ yếu là luận cứ miêu tả (dựa trên tiềm năng lập luận của nội dung miêu tả). Ngoài ra còn có luận cứ định nghĩa, luận cứ so sánh, trích dẫn ca dao/văn học (như trích dẫn Truyện Kiều) và câu hỏi chất vấn. Luận án thống kê số lượng luận cứ (đơn luận cứ, đa luận cứ kết hợp) trong từng câu đố qua Bảng 3.2.
2. Cấu trúc lập luận:
- Cấu trúc lập luận tường minh và hàm ẩn: Khảo sát các hình thức biểu hiện của chuỗi lập luận dẫn dắt đến ẩn số (Bảng 3.3).
- Quan hệ lập luận giữa các luận cứ:
- Quan hệ đồng hướng lập luận: Các luận cứ cùng hướng tới một kết luận chung, bổ sung chi tiết để xác định vật đố.
- Quan hệ nghịch hướng lập luận: Sử dụng các yếu tố đối lập, tương phản (qua các liên từ nghịch đảo) tạo ra sự mâu thuẫn bề mặt nhằm thử thách khả năng suy đoán của người giải.
3. Cơ sở lập luận:
- Lập luận theo lẽ thường (topos): Dựa trên các chân lý kinh nghiệm đời thường, tri thức bách khoa, phong tục tập quán và sự hiểu biết chung của cộng đồng về đặc điểm sinh học, công dụng của con vật, cây cối trong đời sống nông thôn.
- Lập luận theo tư duy sáng tạo riêng: Luận án phân tích các dạng lập luận sáng tạo qua Bảng 3.4, 3.5 và 3.6, tập trung vào hai phương thức chính:
- Phương thức chuyển trường: Chuyển trường động vật/thực vật sang trường con người, đồ vật hoặc ngược lại để tạo tính lạ hóa.
- Phương thức chơi chữ: Vận dụng hiện tượng đồng âm, đồng nghĩa, nói lái, chiết tự và sử dụng chất liệu văn học dân gian/bác học.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án bổ sung và hoàn thiện hệ thống nghiên cứu về câu đố người Việt dưới góc độ ngôn ngữ học hiện đại, kết hợp đồng bộ lý thuyết văn bản, lý thuyết định danh, lý thuyết quy chiếu và lý thuyết lập luận.
- Củng cố và phát triển hướng nghiên cứu liên ngành cấu trúc – ngữ nghĩa kết hợp ngữ dụng học lập luận đối với loại hình diễn ngôn văn học dân gian cụ thể.
- Xác lập cơ chế phân tích câu đố như một văn bản đặc biệt có tính hai phần (lời đố – lời giải), chỉ ra quy luật mã hóa và giải mã nghĩa của câu đố thông qua hệ thống miêu tả tố và các chuỗi lập luận.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp tư liệu khoa học phục vụ công tác biên soạn sách giáo khoa Tiếng Việt và Ngữ văn ở bậc phổ thông, đặc biệt trong việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa.
- Cung cấp tài liệu tham khảo cho việc biên soạn giáo trình giảng dạy ngôn ngữ học, văn học dân gian ở bậc đại học và sau đại học (cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học và Sư phạm Ngữ văn).
- Hỗ trợ giáo viên và học sinh trong phương pháp tiếp cận, phân tích và giải mã câu đố dân gian trong nhà trường.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án chỉ giới hạn phạm vi ngữ liệu trên 1.124 câu đố về động vật và thực vật được tuyển chọn trong cuốn Tổng tập văn học dân gian Việt Nam (Tập 3 – Câu đố) (2005), chưa mở rộng khảo sát các mảng chủ đề khác (đồ vật, hiện tượng tự nhiên, con người, lịch sử) cũng như chưa khảo sát ngữ liệu câu đố của các dân tộc thiểu số khác tại Việt Nam.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận sang các nhóm chủ đề câu đố còn lại; khảo sát câu đố trong môi trường diễn xướng sống động thực tế; so sánh đối chiếu câu đố người Việt với câu đố của các dân tộc thiểu số hoặc các ngôn ngữ khác trong khu vực Đông Nam Á.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Văn học dân gian, Văn hóa học.
- Giáo viên môn Ngữ văn cấp Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông.
- Các chuyên gia biên soạn chương trình, sách giáo khoa và tài liệu tham khảo môn Ngữ văn.
- Nội dung tham khảo:
- Khung phương pháp phân tích diễn ngôn kết hợp cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận áp dụng cho văn bản ngắn.
- Hệ thống bảng phân loại mô hình đồng dạng và miêu tả tố định danh về động thực vật.
- Cơ chế giải thích hiện tượng chơi chữ, chuyển trường và lập luận theo lẽ thường trong văn học dân gian.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân chia cấu trúc văn bản câu đố về động thực vật thành những dạng nào và tỷ lệ tương ứng là bao nhiêu?
Căn cứ theo lý thuyết cấu tạo văn bản ba phần (mở – thân – kết) của Diệp Quang Ban, tác giả khảo sát 1.124 câu đố và phân chia thành hai dạng cấu trúc:
- Cấu trúc thông thường: Gồm đủ 3 phần (phần mở, phần thân, phần kết), chiếm 122 câu (tỉ lệ 10,9%). Dạng này xuất hiện ở các câu đố có danh từ chỉ loại kèm từ để hỏi (con gì, quả gì...) hoặc mở đầu bằng danh từ chỉ loại xác định (cây...).
- Cấu trúc đặc biệt: Khuyết phần mở, chỉ gồm phần thân (lời đố miêu tả) và phần kết (lời giải), chiếm 1.002 câu (tỉ lệ 89,1%).
2. Vì sao thành phần kết luận trong lập luận của câu đố luôn được xác định là kết luận hàm ẩn?
Trong hoạt động đố – giải, mục đích của người ra đố là giấu tên đối tượng để thách đố người nghe. Lời đố chỉ đưa ra các tiền đề miêu tả (luận cứ). Kết luận đích thực chính là tên của vật đố (lời giải). Do vật đố bị ẩn đi trong quá trình đố, người giải phải dựa vào ngữ cảnh, tri thức nền và các dữ kiện trong lời đố để suy ra kết luận. Vì vậy, kết luận trong lập luận của câu đố luôn mang tính chất hàm ẩn.
3. Những phương thức lập luận nào được sử dụng trong lập luận theo tư duy sáng tạo riêng của câu đố?
Luận án xác định hai phương thức lập luận sáng tạo cơ bản:
- Phương thức chuyển trường: Chuyển đổi trường nghĩa của vật đố sang một trường nghĩa khác (như chuyển từ trường động/thực vật sang trường con người, đồ vật hoặc ngược lại) thông qua các biện pháp nhân hóa, vật hóa, so sánh để làm lạ hóa đối tượng.
- Phương thức chơi chữ: Khai thác các hiện tượng ngữ âm và ngữ nghĩa như từ đồng âm, từ đồng nghĩa, nói lái, chiết tự chữ Hán/chữ Quốc ngữ và trích dẫn văn học (như ca dao, Truyện Kiều).
4. Cơ sở dữ liệu và phạm vi khảo sát thực tế của luận án gồm những gì?
Tác giả khảo sát 1.124 câu đố đã được văn bản hóa trong cuốn Tổng tập văn học dân gian Việt Nam (Tập 3 – Câu đố) do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam ấn hành năm 2005 tại NXB Khoa học Xã hội, gồm 488 câu đố về động vật và 636 câu đố về thực vật.
5. Khung lý thuyết ngôn ngữ học được luận án sử dụng gồm những lý thuyết nào?
Luận án vận dụng bốn hệ thống lý thuyết ngôn ngữ học: lý thuyết văn bản (khái niệm, đặc trưng, cấu trúc ba phần, liên kết văn bản theo Diệp Quang Ban và Trần Ngọc Thêm); lý thuyết nghĩa chiếu vật (sở chỉ) và quy chiếu theo Đỗ Hữu Châu; lý thuyết định danh ngôn ngữ (cơ sở định danh có lý do/không có lý do, phương thức định danh trực tiếp/gián tiếp, tư duy văn hóa ngôn ngữ theo Humboldt); lý thuyết lập luận ngữ dụng học (thành phần luận cứ – kết luận, quan hệ lập luận đồng hướng/nghịch hướng, lẽ thường topos theo Ducrot, Anscombre, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thị Hương Giang là công trình nghiên cứu chuyên sâu, khảo sát 1.124 câu đố về động thực vật trong tiếng Việt dưới góc độ ngôn ngữ học văn bản, ngữ nghĩa học và ngữ dụng học. Công trình đã làm rõ đặc trưng cấu trúc văn bản câu đố (với 89,1% thuộc dạng cấu trúc đặc biệt), phân loại hệ thống miêu tả tố định danh và chỉ ra cơ chế lập luận dựa trên sự kết hợp giữa lẽ thường và tư duy sáng tạo nghệ thuật. Kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ – văn hóa dân gian, đồng thời có giá trị ứng dụng trong biên soạn sách giáo khoa và giảng dạy Ngữ văn các cấp.