Luận án tiến sĩ: Phân tích cấu trúc ngữ nghĩa và lập luận trong câu đố về động thực vật tiếng Việt

Luận án tiến sĩ phân tích ngôn ngữ đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa và lập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng việt, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

192
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận

Chương này tổng hợp các công trình nghiên cứu về câu đố dưới góc độ văn học và ngôn ngữ học. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào sưu tầm và giải mã ẩn số trong câu đố, nhưng chưa đi sâu vào phân tích cấu trúc ngữ nghĩalập luận. Các tác giả như Ninh Viết Giao, Triều Nguyên, và Nguyễn Văn Trung đã đóng góp nhiều công trình sưu tầm và phân tích câu đố từ góc độ văn hóa và nghệ thuật. Tuy nhiên, nghiên cứu về câu đố dưới góc độ ngôn ngữ học vẫn còn hạn chế, đặc biệt là về cấu trúc ngữ nghĩalập luận.

1.1. Công trình nghiên cứu câu đố dưới góc độ văn học

Các công trình nghiên cứu về câu đố dưới góc độ văn học chủ yếu tập trung vào việc sưu tầm và phân tích nội dung. Ninh Viết Giao đã khám phá nguồn gốc và đặc điểm nghệ thuật của câu đố, trong khi Triều Nguyên đi sâu vào phân loại và cách thức đố - giải. Nguyễn Văn Trung đã hệ thống hóa câu đố theo đối tượng phản ánh và phân tích các khía cạnh ngữ nghĩa, ngữ pháp. Các nghiên cứu này đã làm nổi bật vai trò của câu đố trong đời sống văn hóa và tinh thần của người Việt.

1.2. Công trình nghiên cứu câu đố dưới góc độ ngôn ngữ học

Nghiên cứu câu đố dưới góc độ ngôn ngữ học còn khá khiêm tốn. Các tác giả mới chỉ khai thác câu đố ở góc độ biểu thức miêu tả, tiền giả định, và phương thức chơi chữ. Chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể về cấu trúc ngữ nghĩalập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt. Điều này tạo ra khoảng trống lớn trong việc hiểu sâu hơn về đặc điểm ngôn ngữ của câu đố.

II. Đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt

Chương này tập trung phân tích cấu trúcngữ nghĩa của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt. Cấu trúc của câu đố được xem xét qua mô hình đồng dạng và cách thức triển khai chủ đề. Ngữ nghĩa được phân tích qua hệ thống chủ đề và các miêu tả tố được sử dụng trong lời đố. Kết quả cho thấy câu đố về động thực vậtcấu trúc đặc biệt, phản ánh tư duy sáng tạo và văn hóa dân gian của người Việt.

2.1. Đặc điểm cấu trúc của câu đố về động thực vật

Cấu trúc của câu đố về động thực vật được phân tích qua mô hình đồng dạng, bao gồm cấu trúc nghi vấn và trần thuật. Các câu đố thường có cấu trúc khép kín, với lời đố và lời giải tạo thành một văn bản hoàn chỉnh. Mô hình đồng dạng giúp nhận diện các đặc điểm chung trong cấu trúc của câu đố, đồng thời làm nổi bật sự sáng tạo trong cách triển khai chủ đề.

2.2. Đặc điểm ngữ nghĩa của câu đố về động thực vật

Ngữ nghĩa của câu đố được phân tích qua hệ thống chủ đề và các miêu tả tố. Các chủ đề thường xoay quanh động thực vật quen thuộc trong đời sống nông nghiệp của người Việt. Các miêu tả tố được sử dụng để đánh lạc hướng người giải, tạo ra sự hấp dẫn và thách thức trong việc giải mã ẩn số. Điều này phản ánh tư duy sáng tạo và nghệ thuật ngôn từ trong câu đố.

III. Đặc điểm lập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt

Chương này tập trung phân tích lập luận trong câu đố về động thực vật. Lập luận được xem xét qua các thành phần như kết luận và luận cứ, cũng như cấu trúc lập luận tường minh và hàm ẩn. Kết quả cho thấy câu đố sử dụng lập luận theo lẽ thường và tư duy sáng tạo, tạo ra sự hấp dẫn và thách thức trong việc giải mã.

3.1. Đặc điểm các thành phần lập luận

Các thành phần lập luận trong câu đố bao gồm kết luận và luận cứ. Kết luận thường là ẩn số cần giải mã, trong khi luận cứ là các thông tin được cung cấp trong lời đố. Các thành phần này được sắp xếp một cách logic, tạo ra sự hấp dẫn và thách thức trong việc giải mã câu đố.

3.2. Cấu trúc lập luận của câu đố

Cấu trúc lập luận của câu đố được phân tích qua hai dạng: tường minh và hàm ẩn. Lập luận tường minh sử dụng các thông tin rõ ràng, trong khi lập luận hàm ẩn dựa vào sự suy luận và tư duy sáng tạo. Điều này làm nổi bật sự độc đáo trong cách thức đố và giải của câu đố.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ ngôn ngữ đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa và lập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng việt

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận Chương 2: Đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt Chương 3: Đặc điểm lập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN Chương đầu của luận án, chúng tôi tìm hiểu tổng quan tình hình nghiên cứu và một số vấn đề lí luận chung, liên quan trực tiếp đến đề tài: Vài nét về câu đố, lý thuyết văn bản, lập luận, nghĩa chiếu vật (sở chỉ), quy chiếu và định danh – Đây chính là cơ sở nền tảng cho việc nghiên cứu sâu hơn (đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa và lập luận), gắn với đối tượng cụ thể (câu đố về động thực vật trong tiếng Việt) ở các chương sau. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Công trình nghiên cứu câu đố dưới góc độ văn học Câu đố là một giá trị văn hóa, một kho tàng trí tuệ dân gian. So với các thể loại văn học dân gian khác, trước kia câu đố chưa được nhìn nhận và quan tâm thích đáng.

Song từ những năm 80 của thế kỉ XX trở lại đây, các nhà nghiên cứu, giảng dạy và những người yêu thích văn học dân gian đã dành sự quan tâm nhiều hơn cho thể loại này. Nghiên cứu câu đố nói chung Trước hết, chúng ta phải kể đến một số công trình chủ yếu mang tính chất sưu tầm về câu đố, tiêu biểu: Câu đố Việt Nam (Thiên Lữ, Võ Hồng sưu tầm), Nxb Thanh Hoá, 2000, Câu đố Việt Nam (Hồ Anh Thái biên soạn), Nxb Hải Phòng, Câu đố Việt Nam (Ninh Viết Giao), Câu đố dân gian Việt Nam (Xuân Thu), Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1998, Câu đố dân gian (Lữ Huy Nguyên, Trần Gia Linh, Nguyễn Đình Chỉnh sưu tầm), Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 1989, Câu đố Việt Nam (Ninh Viết Giao sưu tầm), Nxb Khoa học Xã hội, 1990, Câu đố Việt Nam (Nguyễn Văn Trung biên soạn), Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1986; Câu đố người Việt (Triều Nguyên biên soạn), Nxb Thuận Hoá, 2007. Nhìn nhận vai trò quan trọng của thể loại câu đố, viện KHXH Việt Nam cũng đã cho ra đời bộ sưu tầm câu đố người Việt và câu đố các dân tộc thiểu số: Tổng tập văn học dân gian người Việt, (tập 3, Câu đố), Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số. Trong số các công trình kể trên, có ba công trình được chú ý nhiều hơn cả là công trình của Ninh Viết Giao, Triều Nguyên và Nguyễn Văn Trung.

7 Ninh Viết Giao [36] khi tìm hiểu về Câu đố Việt Nam đã lí giải nguồn gốc ra đời của câu đố, phạm vi đề tài, đặc điểm chủ yếu của nội dung và giới thiệu về một số biện pháp nghệ thuật của câu đố. Tác giả đã nhận thấy vai trò và vị trí riêng của thể loại này trong đời sống tinh thần của dân tộc. Nó đã đáp ứng được những yêu cầu nào đó của nhân dân và có tác động, ảnh hưởng nhất định tới văn học viết. Ông nhận thấy “Trong những lúc đố nhau, câu đố đã đem lại cho người bình dân Việt Nam những tràng cười thoải mái không chỉ ở sự giảng được mà ngay ở bản thân câu đố.

Hầu như câu đố nào đọc lên, ta cũng thấy ngộ nghĩnh, hóm hỉnh, tươi mát, đôi khi thấy tục tĩu nữa, song hiện thực sự vật, sự việc lại không tục tĩu chút nào” [36, tr. Tác giả cũng xem xét những phương tiện nghệ thuật làm nên chất trí tuệ, tính hài hước ở câu đố (ẩn dụ, phép so sánh, người hóa, vật hóa, thực vật hóa…). Tìm hiểu về Câu đố người Việt về tự nhiên, Triều Nguyên [92] trình bày một cách tương đối đầy đủ, hệ thống, toàn diện và có những kiến giải thấu đáo những vấn đề thuộc bình diện thể loại: xác định câu đố trên cơ sở phân biệt nó với một số thể loại văn học dân gian khác, phân biệt các kiểu dạng đố thường gặp, tìm hiểu về cách đố - giải, hình thức và nội dung, phân loại câu đố. Có nhiều vấn đề được đặt ra lần đầu như: “trường và hiện tượng xuất nhập trường trong câu đố”,“mô hình câu đố”,“câu đố tá ý”… Công phu và chuyên sâu hơn cả là cuốn Câu đố Việt Nam của Nguyễn Văn Trung [119].

Trong công trình này, bên cạnh việc tập hợp một số lượng khá lớn giới thiệu 1.513 câu đố sắp xếp theo đối tượng phản ánh và một vài kiểu đố khác, tác giả đã đi sâu phân tích xuất xứ, nguồn gốc, hoàn cảnh sử dụng, mục đích, chức năng, cách cấu tạo câu đố về mặt tổng quát, về mặt ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ điệu, tần số câu đố, tư tưởng và lối nhìn trong câu đố, khía cạnh văn chương. Ông cũng chỉ ra rằng, qua câu đố, “chúng ta có thể phác họa được những nét lớn nền văn minh vật chất của người Việt Nam. Mỗi câu đố phản ánh hoặc cách sống, hoặc cách ăn uống, làm việc, hoặc tinh thần, tâm tình của người Việt” [119, tr. Là một thể loại văn học dân gian mang đậm tư duy và bản sắc dân tộc, câu đố có sức thu hút không nhỏ với các nhà nghiên cứu dân gian: Đinh Gia Khánh, Mã Giang Lân, Lê Chí Quế, Hoàng Tiến Tựu, Đỗ Bình Trị… Những công trình nghiên cứu của họ chủ yếu tập trung khai thác câu đố dưới góc nhìn văn học, câu đố được 8 bàn đến hết sức sơ lược dưới dạng chương, mục.

Nó trở thành đối tượng để nhìn nhận, khám phá về khái niệm và đặc trưng thể loại, trong cái nhìn so sánh với các thể loại văn học dân gian khác. Nhóm tác giả Đinh Gia Khánh, Võ Quang Nhơn, Chu Xuân Diên [73] trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam đã dành 12 trang (257 – 269) để sơ lược, nêu lên những nét khái quát nhất về đối tượng phản ánh, đặc điểm nội dung, chức năng câu đố cũng như vị trí của nó trong đời sống tinh thần của nhân dân, giới thiệu tóm lược nghệ thuật sử dụng câu đố, so sánh sự giống và khác nhau trong ẩn dụ của câu đố và tục ngữ, phân biệt hát đố và câu đố. Câu đố được xem là “một phương tiện nhận thức, vừa thoả mãn được nhu cầu tri thức, vừa thoả mãn được nhu cầu vui chơi, giải trí của nhân dân lao động”. Dễ nhận thấy, ở góc độ văn học, việc nghiên cứu câu đố nói chung khá phong phú (khoảng 40 công trình) nhưng các tác giả chủ yếu đi vào sưu tầm, biên soạn lại câu đố Việt Nam (11 công trình) và chú trọng bàn về nội dung hay đối tượng phản ánh.

Bên cạnh đó, còn có một số công trình nghiên cứu câu đố cho những đối tượng cụ thể. Nghiên cứu câu đố cho những đối tượng cụ thể Tác giả Đinh Thị Thu Hương [70] trong luận văn thạc sĩ Câu đố Việt – Tày những tương đồng và khác biệt đã chỉ ra các điểm giống và khác nhau giữa câu đố của người Việt – người Tày. Qua việc so sánh câu đố của người Việt và người Tày về các phương diện (thế giới vật đố, cách thức tư duy cũng như thể thơ, cách gieo vần); tác giả luận văn đã khám phá những điểm tương đồng, khác biệt về văn hoá, phong tục, đời sống kinh tế, xã hội của hai dân tộc Việt - Tày; giải mã và khám phá những bản sắc trong nền văn hoá của hai dân tộc, nhờ chìa khóa là câu đố. Nguyễn Thị Hường [71], trong luận văn tốt nghiệp đại học năm 2008 đã tìm hiểu Không gian làng quê trong thế giới hình ảnh vật đố của câu đố người Việt.

Ở luận văn này, sau khi tìm hiểu vài nét khái quát về câu đố và vấn đề khảo sát các hình ảnh thuộc không gian làng quê xuất hiện trong thế giới hình ảnh vật đố; tác giả đã nghiên cứu không gian làng quê Việt Nam và một số đặc điểm nghệ thuật của câu đố; qua đó giúp người đọc thấy được đời sống lao động, sinh hoạt, những quan niệm, tâm tư, tình cảm của con người thời điểm thể loại này ra đời, từ đó có cái nhìn khái quát về hình ảnh làng quê Việt Nam mọi thuở. 9 Trần Thị Lan (1996) [77] tìm hiểu Một số vấn đề về bản chất thể loại câu đố Việt Nam với trẻ em. Theo tác giả, đề tài của câu đố luôn là “sự vật, hiện tượng cụ thể, quen thuộc của thế giới xung quanh, những cái nhìn mà con người ta có thể cảm nhận trực tiếp bằng giác quan" [77; 20]. Điểm đóng góp riêng của luận văn này là sau khi hệ thống lại một số vấn đề về bản chất thể loại câu đố (đặc trưng thi pháp thể loại câu đố đặc biệt là phương pháp ẩn dụ, phân loại câu đố; một vài suy nghĩ về sự hình thành câu đố… để làm rõ cái chung và cái riêng của câu đố so với các thể loại khác trong tổng thể văn học dân gian); tác giả đã đi sâu tìm hiểu sự gặp gỡ giữa thể loại này với trẻ em, tìm hiểu sự phát triển của thể loại câu đố từ câu đố cổ truyền đến câu đố hiện đại: sự biến đổi sâu sắc của thể loại này trên nhiều bình diện: mục đích sáng tác, đối tượng tiếp nhận, phương pháp quan sát, phương pháp miêu tả vật đố, hình thức đố.

Dựa trên đặc điểm tâm sinh lí trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo – tiểu học với việc tiếp nhận câu đố, chương trình và phương pháp dạy câu đố hiện nay; tác giả cũng đã đưa ra một số đề xuất về chương trình và cách dạy. Như vậy, tác giả luận văn đã nghiên cứu về bản chất thể loại của câu đố trong việc ứng dụng với đối tượng cụ thể (trẻ em). Đặng Thị Mân [88] khi nghiên cứu Câu đố và vai trò của câu đố trong góp phần phát triển tư duy của học sinh tiểu học, đã trình bày khái quát chung về câu đố (khái niệm, nguồn gốc, nội dung và đặc trưng cơ bản); đồng thời chỉ ra vai trò của câu đố trong việc phát triển tư duy gắn với đối tượng cụ thể - học sinh tiểu học. Ngoài ra, có thể kể đến một số luận văn tìm hiểu nghệ thuật câu đố đặt trong việc dạy – học thể loại văn học dân gian này như: Nghệ thuật câu đố Việt Nam và việc dạy – học câu đố ở tiểu học của Đinh Thị Phương [100], Nghệ thuật câu đố về loài vật của Nguyễn Thu Hồng [57].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa và lập luận của câu đố động thực vật tiếng Việt" phân tích sâu về cách thức cấu trúc ngữ nghĩa và lập luận trong các câu đố liên quan đến động thực vật trong tiếng Việt. Nó giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách ngôn ngữ được sử dụng để tạo ra những câu đố thú vị, đồng thời khám phá sự phong phú của văn hóa dân gian Việt Nam. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến ngôn ngữ học và văn hóa truyền thống.

Để mở rộng kiến thức về ngôn ngữ và văn hóa dân gian, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong tục ngữ ca dao tiếng hán và tiếng việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận, nghiên cứu về cách ngôn ngữ phản ánh văn hóa qua từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ ngôn ngữ và văn hóa nước ngoài ẩn dụ ý niệm trong ca dao nam bộ cung cấp góc nhìn thú vị về ẩn dụ trong ca dao Nam Bộ. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học đặc điểm ca từ trong hát xoan phú thọ sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về ngôn ngữ trong văn hóa dân gian qua hát Xoan. Hãy khám phá để có cái nhìn toàn diện hơn về chủ đề này!