Chương 1: Khái quát về tộc người Mông ở huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên. Chương 2: Đời sống kinh tế của tộc người Mông ở huyện Võ Nhai từ năm 1975 đến năm 2015 Chương 3: Đời sống văn hóa của tộc người Mông ở huyện Võ Nhai từ năm 1975 đến năm 2015 8 Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ TỘC NGƢỜI MÔNG Ở HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN 1. Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên Võ Nhai là huyện vùng cao nằm ở khu vực Đông Bắc tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố Thái Nguyên khoảng 38km theo Quốc lộ 1B. Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 83.923,14 ha, địa hình phức tạp chủ yếu là đồi núi dốc và núi đá vôi; phía bắc giáp huyện Nà Rì (tỉnh Bắc Kạn), phía đông giáp huyện Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn), phía nam giáp huyện Yên Thế (tỉnh Bắc Giang), phía tây giáp huyện Đồng Hỷ (tỉnh Thái Nguyên).
Huyện Võ Nhai thời thuộc Đường là huyện Vũ Lễ. Sang thời Lý - Trần (thế kỉ X - XIV), gọi là châu Vạn Nhai. Thời thuộc Minh (1407-1427), đổi thành châu Vũ Lễ. Đầu thời nhà Lê sơ, Vũ Lễ đổi thành huyện Võ Nhai, thuộc phủ Phú Bình, do phiên thần họ Ma nối đời cai quản.
Đến năm Minh Mạng thứ 17 (1836), huyện Võ Nhai gồm 8 tổng và 29 xã, trại, cai trị theo chế độ lưu quan. Đời Đồng Khánh (1886 - 1888), huyện Võ Nhai gồm 8 tổng, 28 xã, trại. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, huyện Võ Nhai được đổi thành châu Võ Nhai, gồm 6 tổng với 22 xã, 1 phố và 5 trại. Ngày 25/3/1948, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kí Sắc lệnh số 148/SL quy định bãi bỏ các danh từ phủ, châu, quận; cấp trên xã và cấp dưới tỉnh tỉnh thống nhất gọi là cấp huyện.
Từ đó, châu Võ Nhai được đổi thành huyện Võ Nhai, gồm 14 xã. Năm 1965, Thái Nguyên sáp nhập với Bắc Kạn thành tỉnh Bắc Thái, Võ Nhai thành huyện của tỉnh Bắc Thái. Năm 1997, Bắc Thái tách thành 2 tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên, Võ Nhai trở thành huyện của tỉnh Thái Nguyên. Ngày nay, huyện Võ Nhai có 15 đơn vị hành chính gồm thị trấn Đình Cả và 14 xã: Sảng Mộc, Nghinh Tường, Thần Sa, Thượng Nung, Vũ Chấn, Cúc Đường, La Hiên, Lâu Thượng, Phú Thượng, Tràng Xá, Liên Minh, Phương Giao, Liên Minh, Bình Long và Dân Tiến.
9 Địa hình Võ Nhai được chia thành 3 vùng rõ rệt: - Vùng núi cao, gồm 6 xã: Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Cúc Đường, Thần Sa, Vũ Chấn, có đất rừng đa dạng với tập đoàn cây, con phong phú, tạo nên cảnh đẹp tự nhiên. Nơi đây có khối núi đá vôi Thượng Nung đồ sộ nhất tỉnh Thái Nguyên, rộng tới 300 km2, độ cao từ 500 đến 600 mét, kéo dài từ Thần Sa qua Nghinh Tường, đến Liêm Thuỷ (huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn). - Vùng thấp, gồm 3 xã La Hiên, Lâu Thượng, Phú Thượng và thị trấn Đình Cả, có địa hình tương đối bằng phẳng, được tạo nên bởi những thung lũng chạy dọc theo Quốc lộ 1B, hai bên là hai dãy núi cao có độ dốc lớn. - Vùng gò đồi, gồm 5 xã: Tràng Xá, Liên Minh, Dân Tiến, Bình Long và Phương Giao, có nhiều đồi đất hình bát úp, bị chia cắt bởi các dòng sông, khe suối và xen lẫn núi đá vôi.
Thời trước, Võ Nhai nổi tiếng là nơi rừng thiêng nước độc. Sách Đồng Khánh địa dư chí, viết: “Trong huyện rừng núi liên tiếp, khí núi nặng nề. Khí trời nhiều lạnh rét. Khí đất ẩm thấp.
Cuối xuân trời vẫn còn lạnh, mùa hè thì chỉ hơi nóng, đầu thu đã bắt đầu lạnh, đến mùa đông thì rét đậm. Hằng ngày khoảng trước giờ Tỵ, sau giờ Thân thì không nhìn thấy núi”. Võ Nhai mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi Bắc Bộ, nhưng có phần khắc nghiệt hơn. Trong năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
Nhiệt độ trung bình hằng năm khoảng 23oC. Chế độ nhiệt này tạo cho Võ Nhai có thế mạnh trong việc phát triển các loại cây trồng nhiệt đới, cận nhiệt đới, nhất là các loại cây ăn quả như vải, na, bưởi.Lượng mưa trung bình hằng năm 1.941,5 mm và phân bổ không đều, chủ yếu tập trung vào các tháng mùa mưa, khoảng 1. Huyện Võ Nhai có mật độ song, suối khá lớn, nhưng phân bố không đều. Ngoài nguồn nước mặt từ sông, suối, còn có các mạch nước ngầm.
Võ Nhai có 10 hai con sông nhánh thuộc hệ thống sông Cầu và sông Thương, được phân bố ở khu vực phía Bắc và phía Nam huyện. Sông Nghinh Tường có chiều dài 46 km, bắt nguồn từ những dãy núi của vòng cung Bắc Sơn (Lạng Sơn), chảy qua các xã Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Thần Sa, rồi đổ ra sông Cầu. Khoảng 40% chiều dài dòng chảy là vùng đá vôi, thung lũng thường hẹp và sâu, vách đá dựng đứng. Sông Rong bắt nguồn từ xã Phú Thượng, chảy qua thị trấn Đình Cả, Tràng Xá, Dân Tiến, Bình Long, sang địa phận tỉnh Bắc Giang và đổ về sông Thương.
Trong lòng đất có các mỏ chì, kẽm ở Thần Sa với quy mô, trữ lượng nhỏ, không tập trung; vàng ở Thần Sa, Sảng Mộc, Liên Minh; phốt pho ở La Hiên (trữ lượng khoảng 60. Ngoài ra, còn có đá xây dựng, cát, sỏi, sét xi măng ở La Hiên, Cúc Đường. Huyện Võ Nhai có những thắng cảnh nổi tiếng, như quần thể hang động Phượng Hoàng, suối Mỏ Gà, hang Nà Kháo, hang Huyền. Ngoài ra, Võ Nhai còn có những di tích lịch sử, văn hoá như mái đá Ngườm, rừng Khuôn Mánh.
Nguồn gốc tộc ngƣời 1. Khái quát về tộc ngƣời Mông trƣớc khi đến huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên Tộc người Mông là một trong 54 thành phần dân tộc Việt Nam, cư trú tại 62 trên tổng số 63 tỉnh thành của cả nước; chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Điện Biên, Sơn La. Theo số liệu cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, Việt Nam có 1.189 người thuộc tộc người Mông, đứng thứ 8 trong bản danh sách các dân tộc ở Việt Nam. Các nhà nghiên cứu dân tộc học đều có ý kiến cho rằng, phần lớn tộc người Mông di cư vào Việt Nam từ Quảng Tây, Quý Châu, Vân Nam (Trung Quốc), sớm nhất khoảng 350 năm và muộn nhất là 100 năm về trước, theo 3 đợt lớn.
Đợt thứ nhất, cách đây trên 300 năm, người Mông từ Quý Châu di cư 11 sang Đồng Văn, Mèo Vạc của tỉnh Hà Giang. Cuộc thiên di này được dân ca Mông ghi lại: Người HMông ta ở Qúi Châu đến/ Vì người HMông ta không biết chữ/ Thua kiện người Hán ta mới đi. Đợt thứ hai, cách ngày nay khoảng 200 năm, sau thất bại của phong trào khởi nghĩa của người Mông ở Quý Châu (1776 - 1820). Họ vào theo hai hướng chính: Một hướng tiếp tục tràn vào cao nguyên Đồng Văn rồi đi sang Bảo Lạc (Cao Bằng), Bắc Mê, Xín Mần, Hoàng Su Phì (Hà Giang); một hướng vào vùng đất Xi Ma Cai và Mường Khương rồi xuống Văn Bàn (Lào Cai), Phong Thổ, Sìn Hồ, Điện Biên (Lai Châu).
Đợt thứ ba là cuộc thiên di lớn nhất cách đây khoảng từ 120 đến 160 năm. Từ Phong Thổ (Lai Châu), Xi Ma Cai và Mường Khương (Lào Cai), họ đi sâu vào vùng Tây Bắc, đến Tủa Chùa, Tuần Giáo (Lai Châu), Thuận Châu, Sông Mã (Sơn La). Một bộ phận từ Mù Căng Chải sang Bắc Yên, Phù Yên rồi xuống vùng núi Mộc Châu (Sơn La) và điểm dừng cuối cùng là vùng núi Tây Thanh Hóa. Cũng trong thời gian này, một nhóm người Mông ở Xiêng Khoảng (Lào) đã tràn vào vùng núi Thanh - Nghệ và cư trú tập trung ở huyện Kỳ Sơn tỉnh Nghệ An.
Quá trình di cư của tộc người Mông luôn mang tính dòng họ và lịch sử di cư của tộc người này luôn gắn liền với lịch sử di cư của các dòng họ. Thậm chí, chỉ cần nghe bài cúng “Chỉ đường” cho người chết về với tổ tiên của các dòng họ là ta có thể biết nguồn gốc của họ bắt đầu từ nơi nào (bởi lẽ đơn giản, thầy cúng của các dòng họ bao giờ cũng cúng đưa hồn người chết của dòng tộc qua các miền đất mà họ đã sinh sống, đến tận vùng đất cuối cùng mà họ còn nhớ, và từ đó hồn người chết mới lên trời về “đất tổ tiên”). Không chỉ tộc người Mông ở cao nguyên Đồng Văn mà nhiều nhóm Mông từ biên giới đến nội địa, từ Đông Bắc sang Tây Bắc Việt Nam đều nhớ cái tên Pàn Tầu Làng. Điều đó chứng tỏ địa danh này gắn bó chặt chẽ với lịch sử di cư của nhiều nhóm tộc người Mông ở Việt Nam.
Nếu giai đoạn di cư thứ nhất và thứ hai là quá trình hình thành những vùng tộc người Mông chính ở Việt Nam, thì đến giai đoạn ba, những vùng có tộc người Mông tiếp tục được củng cố và trở nên khá ổn 12 định như ngày nay. Quá trình di cư của tộc người này vào Việt Nam thể hiện rõ niềm mong ước to lớn của họ là tìm được mảnh “đất lành” để sinh sống. Tộc người Mông đã coi nơi này như quê hương mới của mình. Trước khi di cư đến Việt Nam, người Hán gọi người Mông là Mèo.
Tộc danh Mèo theo âm Hán - Việt là Miêu. Đây là một tộc người sớm biết trồng lúa nước ở vùng hồ Bành Lãi và hồ Động Đình (Trung Quốc), dần dần trở thành tên gọi chính thức. Theo truyền thuyết, tổ tiên của tộc người Mông đã ở vùng Bành Lãi (Giang Tây) và Động Đình (Hồ Nam) ở Trung Quốc từ hàng nghìn năm trước Công nguyên. Trong suốt hàng chục thế kỉ, tộc người Mông di cư theo hướng tây - tây nam, tập trung đông ở Hồ Nam, Tứ Xuyên, Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và trung tâm là Quý Châu.
Người Mông vốn có gốc gác là những cư dân trồng lúa nước. Tên gọi Miêu theo Hán tự trên có bộ thảo là cây cỏ, dưới có chữ điền là ruộng phần nào khẳng định tộc người Mông có nguồn cội cư trú ở lưu vực các con sông với nghề trồng lúa nước. Văn học dân gian của tộc người Mông cũng luôn nhắc tới ruộng, trâu, sông nước,. như một sự phản ánh quá khứ họ từng sinh sống ở những vùng đất đai có sông ngòi và làm nhiều ruộng như một ước mơ, như một sự phản ánh hiện thực xa xưa với một sự luyến tiếc, hàm chứa sự so sánh giữa quá khứ và thực tại.
Cũng theo truyền thuyết thì xưa kia, tộc người Mông cũng có một quốc gia riêng với biểu tượng là hình đôi sừng trâu và màu cờ đỏ.