Luận án tiến sĩ: Tiêu chuẩn đánh giá khuôn mặt hài hòa cho người dân tộc Kinh độ tuổi 18-25

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tiêu chuẩn đánh giá khuôn mặt hài hòa cho người dân tộc Kinh trong độ tuổi 18-25, góp phần vào lĩnh vực thẩm mỹ.

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Răng Hàm Mặt

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

66
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Khái niệm đẹp, hài hòa trong xã hội hiện nay

1.2. Một số quan niệm về thẩm mỹ khuôn mặt hiện nay

1.3. Quan niệm về thẩm mỹ khuôn mặt của người Châu Á

1.4. Quan niệm về thẩm mỹ khuôn mặt của người Châu Âu

1.5. Quan niệm về thẩm mỹ khuôn mặt của người Châu Mỹ

1.6. Quan niệm về thẩm mỹ khuôn mặt của người Châu Phi

1.7. Quan niệm về thẩm mỹ khuôn mặt ở Việt Nam

1.8. Ảnh hưởng của sự tăng trưởng đến thẩm mỹ khuôn mặt

1.9. Các phương pháp nghiên cứu nhân trắc đầu mặt – thẩm mỹ

1.9.1. Đo trên ảnh chụp chuẩn hoá

1.9.2. Đo trên phim X-quang

1.9.3. Phân tích thẩm mỹ khuôn mặt trên phim xquang sọ mặt thẳng từ xa

1.9.4. Đo trên mẫu thạch cao cung răng

1.10. Một số nghiên cứu đặc điểm khuôn mặt trên thế giới và ở Việt Nam

1.10.1. Một số nghiên cứu trên thế giới

1.10.2. Một số nghiên cứu tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1. Địa điểm nghiên cứu

2.1.2. Thời gian nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Thiết kế nghiên cứu

2.4. Chọn mẫu nghiên cứu

2.4.1. Qui trình chọn mẫu

2.5. Các biến số, chỉ số cho mục tiêu 1: Mô tả đặc điểm khuôn mặt hài hòa của người dân tộc Kinh độ tuổi 18 – 25 trên ảnh chuẩn hóa và phim sọ mặt từ xa theo ý kiến đánh giá của hội đồng chuyên môn

2.6. Các biến số, chỉ số cho mục tiêu 2: Phân tích quan điểm KMHH của nhóm đối tượng nghiên cứu trên theo ý kiến của những người không chuyên môn

2.7. Các biến số, nội dung nghiên cứu cho mục tiêu 3: Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá khuôn mặt hài hòa cho người dân tộc Kinh độ tuổi 18 – 25

2.8. Qui trình thu thập thông tin

2.8.1. Nghiên cứu định lượng

2.8.2. Nghiên cứu định tính

2.9. Công cụ thu thập thông tin

2.9.1. Nghiên cứu định lượng

2.9.2. Nghiên cứu định tính

2.10. Kỹ thuật chụp ảnh chuẩn hóa

2.11. Kỹ thuật chụp phim sọ mặt kỹ thuật số thẳng từ xa

2.12. Kỹ thuật chụp phim sọ mặt kỹ thuật số nghiêng từ xa

2.13. Phân tích hình dạng khuôn mặt theo Celébie và Jerolimov

2.14. Các điểm mốc giải phẫu, kích thước cần đo trên ảnh chuẩn hóa thẳng, nghiêng

2.15. Tiêu chuẩn đánh giá khuôn mặt hài hòa trên ảnh chuẩn hóa kỹ thuật số

2.16. Các điểm mốc giải phẫu, kích thước cần đo trên phim sọ thẳng từ xa

2.17. Các điểm mốc giải phẫu, kích thước cần đo trên phim sọ nghiêng từ xa

2.18. Xử lý và phân tích số liệu

2.18.1. Nghiên cứu định lượng

2.18.2. Nghiên cứu định tính

2.19. Sai số và cách khống chế sai số

2.19.1. Nghiên cứu định lượng

2.19.2. Nghiên cứu định tính

2.20. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.2. Đặc điểm khuôn mặt hài hòa của người dân tộc Kinh độ tuổi 18 – 25 trên ảnh chuẩn hóa và phim sọ mặt từ xa theo ý kiến đánh giá của hội đồng chuyên môn

3.3. Đặc điểm khuôn mặt hài hòa của người dân tộc Kinh độ tuổi 18 – 25 trên ảnh chuẩn hóa thẳng nghiêng

3.4. Đặc điểm 6 chuẩn tân cổ điển ở nhóm đối tượng có khuôn mặt hài hòa, dân tộc Kinh độ tuổi 18 – 25

3.5. Đặc điểm khuôn mặt hài hòa của người dân tộc Kinh độ tuổi 18 – 25 trên phim sọ mặt từ xa theo ý kiến của hội đồng chuyên môn

3.6. So sánh giá trị trung bình các kích thước, góc, tỷ lệ và chỉ số giữa phương pháp đo trên ảnh và phương pháp đo trên phim X quang và các phương trình hồi qui tuyến tính

3.7. Quan điểm khuôn mặt hài hòa của nhóm đối tượng nghiên cứu trên theo ý kiến của những người không chuyên môn

3.7.1. Quan điểm của nhóm không chuyên môn

3.7.2. Quan điểm của nhóm chuyên môn

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.2. Đặc điểm khuôn mặt hài hòa của người dân tộc Kinh độ tuổi 18 – 25 trên ảnh chuẩn hoá và phim sọ mặt từ xa theo ý kiến đánh giá của hội đồng chuyên môn

4.3. Đặc điểm chung về hình thái, kích thước khuôn mặt người dân tộc Kinh độ tuổi 18 – 25 trên ảnh chụp chuẩn hóa

4.4. Đặc điểm hình thái, kích thước khuôn mặt hài hòa của người dân tộc Kinh độ tuổi 18 – 25 trên ảnh chuẩn hoá theo ý kiến đánh giá của hội đồng chuyên môn

4.5. Đặc điểm hình thái, kích thước khuôn mặt hài hòa của người dân tộc Kinh độ tuổi 18 – 25 trên phim sọ mặt từ xa

4.6. Đặc điểm khuôn mặt hài hòa người dân tộc Kinh độ tuổi 18-25 trên phim sọ mặt thẳng

4.7. Đặc điểm hình thái, kích thước khuôn mặt hài hòa của người dân tộc Kinh độ tuổi 18 – 25 trên phim sọ mặt từ xa

4.8. Mối tương quan giữa các phép đo trên ảnh nghiêng chuẩn hóa và trên phim sọ nghiêng từ xa ở nhóm có khuôn mặt hài hòa

4.9. Quan điểm khuôn mặt hài hoà nhìn từ góc độ của cộng đồng và người chuyên môn

4.10. Quan điểm về khuôn mặt đẹp, khuôn mặt hài hòa? Đẹp có phải là hài hòa?

4.11. Quan điểm về sự cảm nhận cái đẹp giữa các thế hệ trong xã hội hiện nay

4.12. Quan điểm về sự chấp nhận phẫu thuật thẩm mỹ và xu hướng thẩm mỹ hiện nay

4.13. Quan điểm về sự ảnh hưởng của yếu tố phong thủy trên khuôn mặt trong xã hội Việt Nam hiện nay

4.14. Những thuận lợi, khó khăn của người có khuôn mặt hài hòa

4.15. Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá khuôn mặt hài hòa cho người dân tộc Kinh độ tuổi 18 – 25

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về tiêu chuẩn đánh giá khuôn mặt hài hòa

Tiêu chuẩn đánh giá khuôn mặt hài hòa cho người dân tộc Kinh độ tuổi 18-25 là một nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực thẩm mỹ và y học. Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố cấu thành nên một khuôn mặt hài hòa, từ đó xây dựng các tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá. Đánh giá khuôn mặt không chỉ dựa trên các yếu tố hình thể mà còn liên quan đến các yếu tố văn hóa và xã hội. Việc xây dựng tiêu chuẩn này có thể giúp cải thiện nhận thức về thẩm mỹ trong cộng đồng, đồng thời hỗ trợ trong các lĩnh vực như phẫu thuật thẩm mỹ và chỉnh nha.

1.1. Khái niệm khuôn mặt hài hòa

Khuôn mặt hài hòa được định nghĩa là khuôn mặt có sự cân đối và tỷ lệ hợp lý giữa các bộ phận. Tiêu chuẩn khuôn mặt hài hòa thường bao gồm các yếu tố như tỷ lệ giữa chiều rộng và chiều cao của mặt, vị trí của các bộ phận như mắt, mũi, miệng. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khuôn mặt hài hòa không chỉ mang lại vẻ đẹp mà còn có thể ảnh hưởng đến sự tự tin và cảm nhận của cá nhân trong xã hội. Các yếu tố này cần được xem xét kỹ lưỡng trong quá trình đánh giá khuôn mặt.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện thông qua các phương pháp định lượng và định tính. Đối tượng nghiên cứu là người dân tộc Kinh trong độ tuổi 18-25, với tổng số 900 người tham gia. Các phương pháp thu thập dữ liệu bao gồm chụp ảnh chuẩn hóa và phim X-quang. Phân tích khuôn mặt được thực hiện dựa trên các điểm mốc giải phẫu và các chỉ số thẩm mỹ đã được xác định trước đó. Việc sử dụng các công nghệ hiện đại trong nghiên cứu giúp tăng độ chính xác và độ tin cậy của kết quả.

2.1. Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu bao gồm việc lựa chọn mẫu và quy trình thu thập thông tin. Mẫu nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên từ các sinh viên tại các trường đại học. Các biến số được xác định rõ ràng để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu. Đánh giá thẩm mỹ khuôn mặt được thực hiện thông qua ý kiến của hội đồng chuyên môn và nhóm không chuyên môn, từ đó đưa ra các tiêu chuẩn cụ thể cho khuôn mặt hài hòa.

III. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm đối tượng về đặc điểm khuôn mặt hài hòa. Các chỉ số như tỷ lệ chiều rộng mặt, chiều cao mặt và các góc mô mềm được phân tích và so sánh giữa các nhóm. Đặc điểm khuôn mặt hài hòa của người dân tộc Kinh được xác định dựa trên các tiêu chuẩn tân cổ điển, từ đó đưa ra các khuyến nghị cho việc áp dụng trong thực tiễn. Kết quả này không chỉ có giá trị trong lĩnh vực thẩm mỹ mà còn có thể ứng dụng trong y học và phẫu thuật thẩm mỹ.

3.1. Đặc điểm khuôn mặt hài hòa

Đặc điểm khuôn mặt hài hòa của người dân tộc Kinh được xác định qua các chỉ số cụ thể như tỷ lệ giữa chiều rộng và chiều cao của mặt, vị trí của các bộ phận trên khuôn mặt. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những người có khuôn mặt hài hòa thường có sự cân đối giữa các bộ phận, điều này không chỉ tạo nên vẻ đẹp mà còn ảnh hưởng đến sự tự tin và cảm nhận của họ trong xã hội. Đánh giá thẩm mỹ khuôn mặt cần được thực hiện một cách khách quan và khoa học để đảm bảo tính chính xác.

IV. Bàn luận và ứng dụng

Nghiên cứu này mở ra hướng đi mới trong việc xây dựng các tiêu chuẩn thẩm mỹ cho khuôn mặt. Việc áp dụng các tiêu chuẩn này không chỉ giúp nâng cao nhận thức về thẩm mỹ trong cộng đồng mà còn hỗ trợ trong các lĩnh vực như phẫu thuật thẩm mỹ và chỉnh nha. Tiêu chuẩn đánh giá khuôn mặt hài hòa có thể được sử dụng như một công cụ để cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân, đồng thời tạo ra sự đồng thuận trong xã hội về cái đẹp.

4.1. Ứng dụng trong thực tiễn

Các tiêu chuẩn đánh giá khuôn mặt hài hòa có thể được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ y học đến nghệ thuật. Việc hiểu rõ về đặc điểm khuôn mặt hài hòa sẽ giúp các chuyên gia trong lĩnh vực thẩm mỹ có thể đưa ra những quyết định chính xác hơn trong việc tư vấn và điều trị cho khách hàng. Hơn nữa, nghiên cứu này cũng góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của cái đẹp và sự đa dạng trong thẩm mỹ.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. KCác khái niệm đẹp, hài hòa trong xã hội hiện nay, định nghĩa sử dụng trong nghiên cứu 1. Khái niệm đẹp trong xã hội hiện nay Từ xưa cho tới nay, đĐẹp (beautiful) luôn là một khái niệm rất khó để định nghĩa. Trước đây, đã có rất nhiều nhà khoa học đã cố gắng tìm cách để định nghĩa nó.

NCụ thể, nhà văn nổi tiếng William Shakespeare (1564 – 1616) đã từng cho rằng: “vẻ đẹp tự nó sẽ thuyết phục đôi mắt của những người đàn ông mà không cần một nhà hùng biện nào”. Sau đó, tác giả của tác phẩm The Rape of Lucrece (1594) đã định nghĩa “Vẻ đẹp như chúng ta cảm thấy đó là một điều gì đó không thể diễn tả được, không bao giờ có thể nói được”. Còn theo từ điển tiếng Anh Oxford định nghĩa: vẻ đẹp là sự kết hợp của các phẩm chất, chẳng hạn như hình dạng, màu sắc hoặc hình thức, làm hài lòng các giác quan thẩm mỹ, đặc biệt là thị giác…. Nói như vậy để thấy rằng không thể xác định rõ ràng và chính xác “cái đẹp”.

Leon Battista Alberti (1404 - 1472) định nghĩa vẻ đẹp là tổng kết các phần làm việc cùng nhau theo cách không có gì cần phải thêm, lấy đi hoặc thay đổi. Hầu như các định nghĩa về vẻ đẹp, khuôn mặt đẹp đều xoay quanh một số các đặc điểm duyên dáng làm hài lòng nhãn quan và tâm trí của người ngắm nhìn [12]. Chính xác thì có ba đặc điểm luôn tồn tại trong các định nghĩa về cái đẹp, một là các đặc điểm duyên dáng: trên khuôn mặt của con người đó là các bộ phận như mắt, mũi, môi, …. với rất nhiều các hình dạng, kích cỡ, vị trí và màu sắc tương đối khác nhau.; hai là sự kết hợp giữa các bộ phận trên khuôn mặt để hình thành nên một khuôn mặt đẹp; ba là vai trò của người quan sát, cảm nhận vẻ đẹp đó bởi mỗi người sẽ có một sự quan sát và cảm nhận riêng về cùng một vẻ đẹp.

Năm 1993, nhà vật lý học từng đoạt giải Nobel Steve Weinberg đã viết: “Tôi sẽ không cố gắng định nghĩa cái đẹp, tình yêu hay nỗi sợ” càng cho thấy rằng việc định nghĩa “đẹp” là không thể thực hiện được [12] Đẹp là mộtTheo phạm trù mỹ học, trong đóđẹp phản ánh và đánh giá những hiện tượng của hiện thực và những tác phẩm nghệ thuật đem lại cho con người một cảm giác khoái lạc về mặt thẩm mỹ, biểu hiện dưới hình thức cảm tính [13] đồng luan an thời xác định giá trị thẩm mỹ của đối tượng theo quan điểm về sự hoàn thiện, xem chúng là các hiện tượng có giá trị thẩm mỹ cao nhất [14]. Theo đó, cái đẹp là khách quan bởi vì nó là giá trị nhân bản-xã hội, được tạo ra trong sự tương tác của tự nhiên và xã hội, trong quan hệ với nhau của con người trong tiến trình lịch sử xã hội. Tuy vậy, sự đánh giá cái đẹp, bộc lộ qua tình cảm thẩm mỹ, lại mang tính chủ quan và có thể chân thực hay giả dối tùy theo chỗ tương ứng hay không với cái đẹp như là giá trị khách quan. Vì vậy, “Đẹp ” là một khái niệm rất rộng lớn và tr.

Trong sự rộng lớn đó, chúng tôi chỉ giới hạn bàn luận trong phạm vi sắc đẹp, đó cụ thể là nhan sắc của con người, là vẻ đẹp nhìn thấy được, vẻ đẹp ngoại hình… Phạm vi sắc đẹp này đây chính là đối tượng, mục tiêu của giải phẫu thẩmẫm mỹ. Vì vVậy, sắc đẹp là từ dùng để chỉ chung vẻ đẹp của cả phụ nữ và đàn ông. Con người luôn luôn hướng tới cái đẹp và tranh thủ mọi lúc, mọi nơi dể làm cho mình đẹp hơn lên trong mắt những người xung quanh. Cái đẹp nói chung và sắc đẹp nói riêng hết sức đa dạng và và không phải là bất biến mà luôn luôn thay đổi, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nòi giống di truyền, nguồn gốc dân tộc, vùng lãnh thổ địa lý, nền văn hóa, môi trường xã hội, hoàn cảnh gia đình, trình độ học vấn, tuổi tác, sự giao lưu văn hóa xã hội của cá nhân với xã hội và với thế giới, những tố chất bẩm sinhi… Quan niệm “đẹp” ở mỗi vùng miền, mỗi dân tộc trên thế giới là rất khác nhau, mang những nét đặc trưng riêng cho từng dân tộc.

Một bài báo đưa tin kết luận về một thử nghiệm mang tính chất định tính được thực hiện bởi một phóng viên đang hoạt động trong lĩnh vực truyền thông và nghiên cứu con người tại Mỹ - Cô Esther Honig. Cô nhận như sau: thấy rằng ở mỗi nước khác nhau, thì định nghĩa về cái đẹp cũng hoàn toàn khác nhau. Người Srilanka thích một đôi mắt xanh nhẹ và đôi môi màu cam. Người dân Australia thích một khuôn mặt tươi tắn, trẻ trung, đôi má hồng và đôi môi đỏ.

Với Bangladesh, họ yêu thích vẻ đẹp mơ màng và quyến rũ. Đất nước Argentina thích một đôi mắt đen cùng đôi môi hồng có ánh nhũ. Người dân Đức thích vẻ đẹp cổ điển. Người dân Hy Llạp lại thích sử dụng gam màu hồng cho cả mắt và môi.

Ấn Đđộ lại thích các vẻ đẹp khác nhau nhưng riêng đôi chân mày thì luôn được kẻ đậm và nổi bật nhất trên khuôn mặt. Ngược lại, người dân Isarel lại thích làn da của các cô gái hơi ngăm đen một chút còn khuôn mặt thì vẫn giữ được vẻ đẹp tự nhiên. Nước Ý lại yêu thích một đôi chân mày nhỏ gọn, đôi môi có màu hồng nhẹ và đôi mắt được nhấn màu xanh rêu…. Đất nước Anh, họ yêu thích vẻ đẹp tự nhiên khi chỉ cần điểm nhấn chính ở luan an đôi chân mày sắc nét.

Venezuela – đất nước sở hữu nhiều danh hiệu Hoa hậu thế giới – họ cũng thích những gương mặt tự nhiên với những đường nét thu hút. TCòn tại Việt Nam, tác giả cũng nhận thấy người dân nơi đây cũng yêu thích vẻ đẹp tự nhiên không qua chỉnh sửa hay trang điểm quá nhiều [15]. Tại Việt Nam, trong các cuộc thi sắc đẹp, Ban giám khảo chưa có tiêu chuẩn đánh giá khuôn mặt đẹp, chủ yếu vẫn dựa vào nhận định cảm quan của bBan giám khảo, không có cuộc thi nào công bố kích thước cỡ mắt, cỡ mũi của thí sinh dự thi hay khuôn mặt chuẩn, ngay cả các cuộc thi hoa hậu quốc tế. Tuy bBan giám khảo làm việc nghiêm túc, thảo luận khá kỹ về khuôn mặt của mỗi thí sinh, nhưng chỉ số cụ thể không ai đo đạc, mà nhận xétói theo cảm quan.

Trên thực tế đã có một số nghiên cứu về kích thước khuôn mặt của người Việt Nam. Nhưng đó mới là kích thước cho khuôn mặt cân đối còn chưa có tiêu chuẩn cho một khuôn mặt đẹp. Tiêu chuẩn đẹp không chỉ là vấn đề kích thước mà phải phù hợp hình dáng, các nét tương đối phù hợp với người Việt. Chẳng hạn như tiêu chuẩn châu Âu thì miệng phải thật rộng mới đẹp nhưng ở Việt Nam thì ngược lại bởi “Đàn ông miệng rộng thì sang, đàn bà miệng rộng tan hoang cửa nhà” [16].

Quan niệm “đẹp” ở mỗi vùng miền, mỗi dân tộc trên thế giới là rất khác nhau, mang những nét đặc trưng riêng cho từng dân tộc. Khái niệm hài hòa trong xã hội hiện nay Ngày nay, khi nhắc tới thẩm mỹ khuôn mặt, người tachúng ta thường nhắc đến thuật ngữ “hài hoà” hơn. Vậy như thế nào là một khuôn mặt hài hoà? Hài hòa (harmonious) là sự kết hợp cân đối giữa các yếu tố, các thành phần, gây được ấn tượng về cái đẹp, cái hoàn hảo [17]. Theo Pythagore, hài hòa là sự thống nhất và hòa nhập của nhiều yếu tố khác nhau [18].

J, khi đánh giá một khuôn mặt cần phải đánh giá một cách tổng thể tất cả các thành phần của khuôn mặt chứ không xét riêng một yếu tố nào [19]. Theo quan điểm của chuyên gia giải phẫu – nhân trắc học, để đánh giá sự hài hòa của khuôn mặt khi nhìn nghiêng, người ta thường dựa vào việc xác định ba điểm mốc giải phẫu: điểm mũi, dưới mũi và điểm lõm giữa môi dưới và cằm. Khuôn mặt hài hoà thì đường nối ba điểm này là một đường cong lồi ra ngoài. Còn ở khuôn mặt kém hài hoà, 3 điểm nối sẽ là đường thẳng hoặc lõm vào trong.

Ngoài ra còn một số phương pháp xác định tỷ lệ chuẩn cho khuôn mặt. Theo chiều rộng, mặt có thể được chia thành 5 phần bằng nhau bởi các đường thẳng đứng song song đều nhau. Đó là các đường thẳng đi qua phía ngoài tai, đuôi mắt, đầu mắt của hai luan an bên mặt và vuông góc với trục giữa của mặt. Một cách phân chia nữa là: nếu theo chiều đứng, dựa vào các điểm như điểm chân tóc, điểm giao nhau giữa hai cung mày, điểm dưới mũi và cằm, khuôn mặt được chia thành 3 tầng, một khuôn mặt hài hòa thì 3 tầng này phải bằng nhau.

Tuy nhiên cũng có quan điểm cho rằng, chân tóc là điểm không xác định được vì có người hói, chân mày cũng không xác định được vì phụ nữ có thể phun xăm thẩm mỹ. Do đó, các điểm mốc đánh giá phải là các điểm mốc cố định như điểm gốc mũi, điểm nền mũi và cằm, theo cách phân chia này thì chiều cao khuôn mặt tính từ điểm gốc mũi đến điểm nền mũi chiếm 43% chiều cao tính từ điểm gốc mũi đến điểm cằm [20]. Như vậy, trong xã hội hiện nay, Nhìn chung, quan điểm giữa đẹp và hài hòa tuy có những điểm khác biệt nhưng vẫntrong xã hội hiện nay còn chưa được cụ thể, rõ ràng ràng. Khi nhắc tới “đẹp” thường liên quan nhiều tới cảm nhận của người ngắm nhìn vẻ đẹp đó.

Tùy theo cảm nhận, có người cho là đẹp nhưng cũng có người cho là không đẹp. Quan điểm đẹp phụ thuộc khá nhiều vào cảm nhận của người đối diện, thường tập trung vào một số nét gây ấn tượng trên khuôn mặt, đặc biệt phụ thuộc nhiều vào cảm nhận của người quan sát, cảm nhận vẻ đẹp mà cảm nhận của mỗi người thì rất khác nhau và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như văn hóa – xã hội – lịch sử dân tộc…. Với “hài hòa”, quan điểm này được đánh giá dựa trên sự cân đối, tỷ lệ giữa các chi tiết, bộ phận trên khuôn mặt và phải đạt tiêu chuẩn nhất định, có sự thống nhất chứ không cảm tính như quan điểm về cái đẹp.một phần là do nó phụ thuộc và chịu ảnh hưởng nhiều của yếu tố cảm nhận của mỗi cá thể cũng như tác động của yếu tố văn hóa – lịch sử - xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án tiến sĩ: Tiêu chuẩn đánh giá khuôn mặt hài hòa cho người dân tộc Kinh độ tuổi 18-25" của tác giả Hoàng Thị Đợi, dưới sự hướng dẫn của PGS. Võ Trương Như Ngọc và PGS. Nguyễn Thị Thúy Hạnh, được thực hiện tại Trường Đại Học Y Hà Nội vào năm 2020. Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định các tiêu chuẩn đánh giá khuôn mặt hài hòa cho nhóm đối tượng người dân tộc Kinh trong độ tuổi từ 18 đến 25. Bài luận án không chỉ cung cấp những tiêu chí cụ thể mà còn giúp nâng cao nhận thức về thẩm mỹ khuôn mặt trong cộng đồng, từ đó có thể ứng dụng trong lĩnh vực thẩm mỹ và y tế.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến pháp luật và thẩm mỹ, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận văn thạc sĩ về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, nơi đề cập đến các quy định pháp lý liên quan đến quyền lợi của người dân; Luận văn thạc sĩ về pháp luật giá đất và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Ninh, giúp bạn hiểu rõ hơn về các vấn đề pháp lý trong lĩnh vực đất đai; và Luận Văn Thạc Sĩ Về Tuyển Dụng Lao Động Tại Công Ty Cổ Phần Hợp Tác Giáo Dục Việt Nam Educo, cung cấp cái nhìn về quy định pháp luật trong lĩnh vực lao động. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các khía cạnh pháp lý liên quan đến thẩm mỹ và xã hội.