Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LUẬT TỤC VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DAO ĐỎ Ở HUYỆN BẮC HÀ TỈNH LÀO CAI 1. Một số khái niệm * Khái niệm luật tục Luật tục là phong tục, tập quán trong quá trình hình thành và phát triển của một cộng đồng dần dần chuyển hóa thành luật lệ, quy ước chung của cộng đồng đó. Luật tục là một hình thức của tri thức bản địa, tri thức địa phương được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài qua kinh nghiệm ứng xử với môi trường và xã hội đã được định hình dưới nhiều dạng thức khác nhau, được truyền từ đời này sang đời khác qua trí nhớ, qua thực hành sản xuất và thực hành xã hội. Nó hướng đến việc hướng dẫn, điều chỉnh và điều hoà các quan hệ xã hội, quan hệ con người với môi trường thiên nhiên.
Những chuẩn mực ấy được cả cộng đồng thừa nhận và thực hiện tạo nên sự thống nhất và cân bằng xã hội của mỗi cộng đồng [24]. Một điều dễ nhận biết là Luật tục vừa mang một số yếu tố của Luật pháp, như quy định các hành vi phạm tội, các tội phạm, bằng chứng, việc xét xử và hình phạt ., lại vừa mang tính chất của lệ tục, phong tục, như các quy ước, lời răn dạy, khuyên răn mang tính đạo đức, hướng dẫn hành vi cá nhân, tạo dư luận xã hội để điều chỉnh các hành vi ấy. Như vậy, Luật tục như là hình thức phát triển cao của phong tục, tục lệ và là hình thức phát triển sơ khai, hình thức tiền luật pháp. Với sự hiểu biết hiện nay, có thể phân chia các luật tục của các dân tộc ở Việt Nam theo các dạng tồn tại khác nhau: Luật tục được cố định dướng dạng lời nói vần (văn vần) được truyền miệng từ đời này sang đời khác; Luật tục đã được cố định và ghi chép bằng văn tự, đó là hương ước của người Việt; Luật tục hay Lệ tục đã tương đối định hình, những chưa cố định thành lời văn vần hay thành văn bản, mà vẫn chỉ là sự ghi nhớ và thực thi của cộng đồng.
Loại này phổ biến ở hầu hết các tộc người, rất khó phân biệt nó với phong tục và lệ 8 Luan van tục cổ truyền. Dù tồn tại dưới hình thức nào thì hiện nay luật tục của các dân tộc cũng đang đứng trước sự mai một, phá hoại bởi thời gian và con người [24]. * Khái niệm hôn nhân Hôn nhân là sự kết hợp của các cá nhân về mặt tình cảm, xã hội, và hoặc tôn giáo một cách hợp pháp. Hôn nhân có thể là kết quả của tình yêu.
Hôn nhân là một mối quan hệ cơ bản trong gia đình ở hầu hết xã hội. Về mặt xã hội, lễ cưới thường là sự kiện đánh dấu sự chính thức bắt đầu của hôn nhân. Về mặt luật pháp, đó là việc đăng ký kết hôn. Hôn nhân thường là sự kết hợp giữa một người đàn ông được gọi là chồng và một người phụ nữ được gọi là vợ.
Ngoài ra còn tồn tại một số biến dị của hôn nhân khác như: Hôn nhân đa thê là việc một người đàn ông có thể kết hôn với nhiều vợ cùng lúc, hôn nhân đồng tính là việc hai người cùng giới tính kết hôn, hôn nhân tạm là việc 2 người chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, tảo hôn là việc người chưa đủ tuổi nhưng vẫn kết hôn, hôn nhân cận huyết là 2 người có họ hàng gần kết hôn với nhau [23]. Luật tục hôn nhân: Luật tục hôn nhân là những phong tục tập quán, những quy định và nguyên tắc được hình thành trong hôn nhân qua quá trình phát triển truyền từ đời này sang đời khác. Những quy định và nguyên tắc đó được đặt ra bởi cộng đồng, nhằm đưa vào đời sống hôn nhân cộng đồng dân tộc đó đi vào thành một quy chuẩn luật lệ chung. * Vai trò của luật tục trong đời sống xã hội người Dao Đỏ Luật tục là sản phẩm xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của đời sống xã hội của mỗi dân tộc, phụ thuộc nhiều vào trình độ, ý chí chủ quan của các thành viên sống trong cộng đồng đó, trong đó có người đứng đầu (chủ làng, trưởng họ), do đó Luật tục có ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội của người Dao Đỏ.
Nội dung luật tục thể hiện tính nhân văn, tinh thần đoàn kết, cộng đồng dân tộc rất cao. Tuỳ theo từng dân tộc, nội dung của các luật tục thường quy định các vấn đề liên quan đến điều chỉnh các mối quan hệ gia đình như: quan hệ vợ chồng, con cái, cha mẹ, ông bà, anh chị em. Con cái phải thương yêu, 9 Luan van kính trọng, phụng dưỡng ông bà, cha mẹ; anh chị em phải thương yêu đùm bọc lẫn nhau; Hầu hết các luật tục đều khuyên dạy vợ chồng phải yêu thương quý trọng lẫn nhau, sống với nhau thuỷ chung Các quy định của luật tục góp phần điều hoà các mối quan hệ xã hội trong thôn, làng, xóm, quan hệ giữa các dòng họ, giữ gìn trật tự an ninh, phòng chống các tệ nạn xã hội (trộm cắp, nghiện ngập, ngoại tình,…) đại diện và bảo vệ quyền lợi chính đáng của con người. Tổng quan về người Dao Đỏ ở huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai 1.
Tên gọi và địa bàn cư trú Người Dao ở Việt Nam có mặt tại nhiều tỉnh thành trong cả nước. riêng ở Miền núi và trung du Bắc Bộ, hầu như tỉnh nào cũng có người Dao, xưa người Dao được gọi là: Mán, Đông, Trại, Dìu Miền, Kìm Miền, Lù Gang, Làn Tẻn, Đại Bản, Tiểu Bản, Cốc Ngáng, Cốc Mùn, Sơn Đầu là một dân tộc có địa bàn cư trú truyền thống là nam Trung Quốc, và lân cận ở bắc phần tiểu vùng Đông Nam Á [1, tr. Trong các dân tộc người thiểu số ở Việt Nam, “người Dao xếp thứ 9 với khoảng 751.067 người năm 2009” [1, tr.191], cư trú phân tán ở nhiều địa phương chủ yếu ở các tỉnh miền rừng núi phía Bắc (Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Tuyên Quang,.) đến một số tỉnh trung du như: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình và miền biển Quảng Ninh (người Dao Thanh Y). Ngoài ra, người Dao còn chia ra thành nhiều nhóm khác nhau, với những nét riêng về phong tục tập quán mà biểu hiện rõ rệt nhất là trên trang phục của họ như: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Thanh Y, Dao Áo dài, Dao Quần Trắng [1, tr.
Trong số 7 nhóm người Dao địa phương thì ở Lào Cai có 3 nhóm là: Dao Đỏ, Dao Tuyển và Dao Nga Hoàng phân bố tại các huyện Bắc Hà, Bảo Thắng, Văn Bàn, Sa Pa, Mường Khương, Bát Xát, Si Ma Cai. Trong đó người Dao Đỏ là nhóm có số lượng đông nhất sinh sống tại Bắc Hà. Người Dao Đỏ ở Bắc Hà sinh sống tập trung chủ yếu ở các xã Nậm Đét và xã Nậm Mòn. Trong đó tập trung đông nhất là ở xã Nậm Đét, “toàn xã có 520 hộ, 2.619 10 Luan van khẩu với 4 dân tộc (Dao, Phù Lá, Mông, Kinh) chung sống đoàn kết tại 8 thôn bản (Tống Thượng, Tống Hạ, Cốc Đào, Bản Lùng, Bản Lắp, Nậm Cài, Nậm Đét, Nậm Bó).
Trong đó có 316 hộ gia đình là người Dao Đỏ chiếm 81% dân số của xã, tập trung ở các thôn (Nậm Đét, Nậm Cài, Tống Hạ, Bản Lắp)”2. Người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét huyện Bắc Hà tự nhận mình là Kiềm miền (kiềm là rừng, miền là người, “kiềm miền” nghĩa là người sống ở trong rừng) với 5 dòng họ chính là: họ Bàn, Triệu, Đặng, Lò, Lý. Người Dao Đỏ ở đây vẫn duy trì tục thờ cúng Bàn Vương hàng năm để nhớ về quê hương cội nguồn của mình. Người Dao Đỏ ở đây làm nhà và sống ở lưng chừng núi, họ sản xuất, làm nương, thổ canh trên hốc đá và canh tác ruộng.
Cây lương thực chính của họ là lúa, ngô và các loại rau màu như bầu, bí, khoai. Người Dao Đỏ ở đây cũng có nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức. Mặc dù sống ở khu vực núi và địa bàn riêng biệt, nhưng phương tiện vận chuyển của đồng bào Dao Đỏ ở đây vẫn có nhiều nét tương đồng với các dân tộc khác về chủng loại, cách thức chế tác và chức năng sử dụng. Để chuyển hàng họ thường dùng địu, có hai quai đeo phía sau, để lên rừng hái quả hoặc thu hoạch nông sản.
Người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét, huyện Bắc Hà có đời sống văn hóa tinh thần rất phong phú với nhiều phong tục, nghi lễ, nghệ thuật đặc sắc. Vẫn còn lưu giữ được những nét bản sắc văn hóa độc đáo riêng, cùng với nhiều phong tục truyền thống tốt đẹp, như các nghi lễ tín ngưỡng, thờ cúng, hát giao duyên. Đặc biệt trong sinh hoạt cộng đồng của đồng bào dân tộc Dao vẫn mang tính chất khép kín, thể hiện qua phong tục tập quán qua hôn nhân. Khi dựng vợ gả chồng cho con cái, đồng bào Dao chỉ mong gả trong cộng đồng dân tộc mình.
Nguồn gốc lịch sử Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc của người Dao. Năm 2005 học giả Xu Songdan thì tin rằng là ở tỉnh Giang Tô, vùng Chiết. Tư liệu điền dã ngày 1 tháng 5 năm 2019 2 11 Luan van Giang. Những năm 1950, 1960 của thế kỷ 20 hầu hết các học giả ủng hộ là người Dao là từ thời Tần và Hán ở Wuling, Trường Sa, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc.
Người ta cũng cho rằng, nó bao gồm các bộ phận của Hồ Bắc, Tứ Xuyên, An Huy, Hà Nam, Giang Tây, Thiểm Tây, Quý Châu và các tỉnh khác. Năm 1980 xem xét lại vấn đề xuất xứ người Dao, các học giả đã được tranh luận là từ nơi nào đó của Dongyi (Đông Di, của tỉnh Sơn Đông. Một số người lập luận người Dao từ những người Việt cổ, nguồn gốc là Giang Tô, khu vực An Huy. Một số người lập luận từ khu vực "Qiang long’’ ở Tứ Xuyên, Cam Túc [5, tr.
Ngoài ra cũng đã được lập luận là rằng nơi sinh của người Dao, Hmong, "Ba Miao" là khu vực sông Dương Tử. Tháng 11 năm 2000, Hội nghị dân tộc Dao Quảng Tây đã tổ chức một hội nghị chuyên đề dành cho vấn đề nguồn gốc dân tộc Dao tại Huyện dân tộc Dao tự trị Cung Thành (Quảng Tây), người tham gia (bao gồm cả học giả người H’mông) Sau khi thảo luận, và sự đồng thuận đạt được là dân tộc Dao, Miao, Ba Miao có một mối quan hệ nguồn gốc chung, ở nơi sinh của sông Hoàng Hà, khu vực sông Dương Tử.