Chương I. Môi trường tự nhiên, kinh tế & văn hóa - xã hội C'tu - chủ nhân của nhà Gươi. Môi trường tự nhiên - địa bàn cư trú: 1. Địa bàn cư trú: Tại Việt Nam, theo điều tra dân số 1999 dân tộc Ctu có dân số 50.458 người, cư trú chủ yếu trên dãy núi Trường Sơn, tại các huyện Nam Đông, A Lưới, Phú Lộc (Thừa Thiên - Huế), Đông Giang, Tây Giang, (Quảng Nam), Hòa Vang (Đà Nẵng).
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Ctu ở Việt Nam có dân số 61.588 người, cư trú tại 3§ trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người CHu cư trú tập trung tại các tỉnh: Quảng Nam (45715 người, chiếm 74,2% tổng số người Cttu tai ing song Ci Long Việt Nam), Thừa Thiên - Huế (14.629 người, chiếm 23,8% tổng số Hình 1.1: Vị trí địa bàn cư trú của người C'tu tại Việt Nam), Đà Nẵng người C'tu ở miền Trung Việt Nam (950 người), thành phố Hồ Chí Minh (Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng) (54 người). Tại Lào, theo Ethnologue thi năm 1998 dân tộc này có 14.700 người, cư trú chủ yếu tại thượng nguồn sông Xê Kông, trong các tỉnh Xekong, Saravan, Champasak. Địa bàn cư trú của người Ctu là vùng núi non trùng điệp, phần lớn đỗ theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.
[5] Xét chung, ở Việt Nam, người C°tu phân bố chủ yếu ở cả Bắc & Nam Trung Bộ, qua đó môi trường họ sinh sống mang đẩy đủ các điều kiện tự nhiên của vùng Trung Bộ. Dia hình: Trung Bộ có độ cao thấp dần từ khu vực miền núi xuống đồi gò trung. du, xuôi xuống các đồng bằng phía trong dải cồn cát ven biển rồi ra đến các đảo ven bờ. - Khu vực Bắc Trung Bộ: bao gồm các dãy núi phía Tây.
có độ cao trung bình và thấp. Riêng miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hoá có độ cao từ 1000 - 1500m. Khu vực miền núi Nghệ An - Hà Tĩnh là đầu nguồn của dãy Trường Sơn có địa hình rất hiểm trở, phần lớn các núi cao nằm rải rác ở đây. Các miền đồng bằng có tông diện tích khoảng 6.200km2, trong đó đồng bằng Thanh Hoá do nguồn phù sa từ sông Mã và sông Chu bồi đắp, chiếm gần một nửa diện tích và là đồng bằng rộng nhất của Trung Bộ.
~ Khu vực Nam Trung Bộ: thuộc khu vực cận giáp biển. Địa hình ở đây bao gồm đồng bằng ven biển và núi thấp, có chiều ngang theo hường Đông - Tây (trung bình 40 - 50 km), hạn hẹp hơn so với Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên. Có hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, bờ biển sâu với nhiều đoạn khúc. khuỷu, thêm lục địa hẹp.
Các miền đồng bằng có diện tích không lớn do các day núi phía Tây trải dọc theo hướng Nam tiến dẫn ra sát biển và có hướng thu hẹp dần diện tích lại. Đồng bằng chủ yếu do sông và biển bồi đắp, nên thường bám sát theo các chân núi. Khí hậu: Trung Bộ được chia ra làm hai khu vực chính là Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Nam Trung Bộ. Đặc điểm nổi bật của khí hậu Trung Bộ là có mùa 10 mưa và mùa khô không cùng xảy ra vào một thời kỳ trong năm như hai vùng khí hậu Bắc Bộ và Nam Bộ.
- Khu vực Bắc Trung Bộ: (bao gồm toàn bộ phía Bắc đèo Hải Vân). 'Vào mùa đông, do gió mùa thổi theo hướng Đông Bắc mang theo hơi nước từ biển vào nên toàn khu vực chịu ảnh hưởng của thời tiết lạnh kèm theo mưa. Đây là điểm khác biệt với thời tiết khô hanh vào mùa Đông vùng Bắc Bộ. Đến mùa Hè không còn hơi nước từ biển vào nhưng có thêm gió mùa Tây Nam (còn gọi là gió Lào) thổi ngược lên gây nên thời tiết khô nóng, vào thời điểm này nhiệt độ ngày có thể lên tới trên 40°C, trong khi đó độ âm không khí lại rất thấp.
Thừa Thiên - Huế là một trong các tỉnh có lượng mưa nhiều nhất ở Việt Nam với lượng mưa trung bình năm vượt trên 2.600mm, có nơi lên đến 4. Hàng năm có từ 200 - 220 ngày mưa ở các vùng núi, 150 - 170 ngày mưa ở khu vực đồng bằng duyên hải. Vào mùa mưa, mỗi tháng có 16 - 24 ngày mưa. Những đợt mưa kéo dài nhiều ngày trên diện rộng thường gây ra lũ lụt lớn Địa hình phía Tây từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên - Huế bao gồm các dãy.
Các dòng sông ở đây có dòng chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam đỗ ra biển thường có lòng sông hẹp, độ dốc lớn, diện tích lưu vực nhỏ nên với lượng mưa tương đối lớn trút xuống sẽ sinh ra lũ, lên nhanh và gây lụt lội cho các khu vực đồng bằng thấp phía Đông. Với lượng mưa chiếm 68 - 75% lượng mưa trong năm, sẽ phát sinh lũ lụt lớn và gây thiệt hại sản xuất, tài sản, tính mạng cư dân, tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái. Ngược lại, trong mùa ít mưa thì nước lại không đủ cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất của một số địa phương trong vùng. Mùa mưa lũ ở Bắc Trung Bộ thường xảy.
ra từ tháng 7 đến tháng 10. 11 - Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ: (bao gồm khu vực đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ thuộc phía Nam đèo Hải Vân). Gió mùa Đông Bắc khi thôi đến đây thường suy yếu đi do bị chặn lại bởi dãy Bạch Mã. Vì vậy vào mùa hè khi xuất hiện gió mùa Tây Nam thổi mạnh từ vịnh Thái Lan và tràn qua dãy núi Trường Sơn sẽ gây ra thời tiết khô nóng cho toàn bộ khu vực.
Lũ lụt ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ thường xảy ra từ tháng 10 đến tháng 12 'Những trận lũ lụt lớn đã xảy ra ở miền Trung vào các năm: 1952, 1964, 1980, 1983, 1990, 1996, 1998, 1999, 2001, 2003. Có lúc xảy ra lũ chồng lũ như. các đợt lũ tháng 11, 12/1999; tháng 10, 11/2010. [22] Chính từ những đặc điểm của môi trường tự nhiên đó, con người bản địa tiền trú hay đến đây trong quá trình Nam tiến, Đông tiến hay Tây tiến với biển núi cận kể không thể không hình thành những lối ứng xử phù hợp, kết hay kế thừa những thành tựu của người đi trước trong sinh hoạt kinh tế văn hoá, đề tồn tại và phát triển.
Môi trường văn hóa - xã hộ 1. Lịch sử tộc người C*tu: 'Về nguồn gốc dân tộc C'tu nói chung, một số nhà ngôn ngữ cho rằng: ngành ngôn ngữ C'tu gần gũi nhất với các ngành ngôn ngữ Việt và Bahnar. Cách đây khoảng 4000 năm đã có một ngôn ngữ tổ tiên chung cho các ngành trên. Các bằng chứng khảo cổ học, dân tộc học cho phép đoán định rằng: cách đây hơn 4000 năm, tổ tiên chung của người Việt, Mường, Katu (Ctu), Bahna những người trồng lúa đã cư trú và dần lan tỏa khắp vùng lưu vực sông Hong (bao gồm cả Vân Nam và miền Bắc Việt Nam ngày nay).
Họ đã trở thành những chủ nhân quan trọng của nền văn hóa Đông Sơn. Dần dần, do sự tăng. dân số và các cuộc chiến tranh nhiều nhóm nhỏ của cư dân Đông Sơn từ miền Bắc Việt Nam đã di cư sang phía Tây và về phía Nam thành nhiều đợt, bằng 12 nhiều con đường khác nhau. Con cháu họ giờ đây đã trở thành nhiều tộc người khác nhau về tên gọi và ngôn ngữ ở Việt Nam và Đông Nam Á.
Do sống lâu trong rừng thảm và núi cao, người C'tu đã bảo lưu nhiều nét văn hóa cội nguồn. Cho đến thời gian gần đây ngôi nhà đàn ông (nhà Gươi) của dân tộc C'tu còn mang nhiều đặc điểm của hai dạng nhà khắc trên trống đồng Đông Sơn cùng với nhiều phong tục được coi là thuộc thời kì văn hóa Đông Sơn như: đóng khó, cởi trần, xăm mình, cà răng, nhuộm răng đen, ăn trầu, trang trí ng lông chim, đánh trồng đồng, cồng chiêng, dùng tên tâm thuốc độc,. Đồng thời hiện tượng các tộc người ngành C'tu sống gần kề liền một dải với các tộc ít người ngành ngôn ngữ Việt ở phía Bắc và các tộc ngành ngôn ngữ Bana (Giẻ Triêng, Xơ Đăng) ở phía Nam cho phép đoán rằng, đó là các tộc người đã tách ra từ một khối Việt cô di cư từ phía Bắc. Trong khi đó truyền thuyết của người Ctu đã kê rằng tô tiên của họ có một thời ở các khu vực Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế.
Trong phạm vi nghiên cứu về người C'tu ở Việt Nam hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định rằng: “Vùng sinh sống của người Ctu vốn ở vùng Duyên Hải và di cư đến vùng đất hiện nay là do áp lực của tộc người Việt trong quá trình Nam Tiến”. [14] Riêng tộc người Ctu ở huyện Hòa Vang (Đà Nẵng) có khoảng hơn 1000 người ng tập trung ở các thôn Giàn Bí, Tà Lan thuộc xã Hòa Bắc và thôn Phú Túc xã Hòa Phú. Bộ phận người Ctu ở đây không phải là cư dân bản địa mà đó là kết quả của sự di cư từ bộ phận người Ctu ở Tây Bắc Quang Nam sang, chủ yếu vào thế ki XX sau khi hòa bình lập lại. Đây là kết quả của lối sống hỏa canh truyền thống của người C'tu và dần họ đã định cư tại đây, do ở đây có nhiều điều kiện thuận lợi phù hợp với lối sống của họ.
Bởi vậy, ta có thể nhận thấy sự tương đồng về đời sống văn hóa của người Ctu ở Hòa Vang va người Cttu ở phía Tây tỉnh Quảng Nam 13 Tộc người này luôn tồn tại với nhiều tên gọi khác nhau như: K’Tu, Kha Tu, Ka Tu, Teu, Cao, Khat, Ha, Thap, Kao To, Kanto, Ta Rier - Van Kieu, tên gọi của người Katu (với biến thê là người Cttu hay Ktu) cũng gây ra nhiều tranh cãi với nhiều cách lí giải khác nhau. Theo cách lí giải của người Cttu thì tu có nghĩa là: “người ở đầu nguồn, trên cao (Cơ = người, Tu = đầu nguồn nước)”. Đây là cách gọi cộng đồng mình với địa danh, đặc điểm cư trú là hiện tượng phô biến ở Việt Nam và chính họ cũng chia ra là người Cu sống ở vùng cao, vùng thấp và ở giữa, đó cũng chính là nhóm địa phương của người Cu. Cũng theo các nhà nghiên cứu, họ nhận thấy rằng: “từ Tu trong ngôn ngữ Ctu nhằm đề chỉ vị trí ở đầu ngọn, chăng hạn như: Tulong: ngọn cay, Tutơm: nói có đầu, có đuôi, Tudak: đầu nguồn nước; còn Coh là từ nhằm đẻ chỉ phương hướng, phương vị, chẳng hạn như Cohping: ở trên, Coh Jub: & dưới.
Sự kết hợp giữa Coh & Tu là cách đề lí giải dễ chấp nhận trong ý nghĩa kết hợp, nhằm dé xác định nơi cư trú về phía (Coh) và nguồn nước (Tu).