Chương 1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TÍN NGƯỠNG NÔNG NGHIỆP CỦA NGƯỜI THÁI Ở TỈNH LAI CHÂU 1. Khái quát về lý luận * Về tín ngưỡng và phân loại tín ngưỡng Trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng thường được hiểu theo nghĩa chung nhất đó là niềm tin của con người vào lực lượng siêu nhiên, thần thánh. Theo cách hiểu này, khái niệm tín ngưỡng bao gồm việc tin theo các tôn giáo và các hình thức tín ngưỡng khác. Trong đó, niềm tin, sự ngưỡng vọng vào lực lượng siêu nhiên là dấu hiệu cơ bản.
Khi tín ngưỡng được hiểu là niềm tin tôn giáo thì cốt lõi của niềm tin đó chính là tư tưởng của mỗi tôn giáo, từ đó mà hình thành thiết chế tôn giáo, con người tôn giáo. Đối với người có tín ngưỡng, lực lượng siêu nhiên được xem là có thật, họ tin, tôn thờ và sùng bái lực lượng siêu nhiên ấy. Theo Giáo sư Ngô Đức Thịnh “Tín ngưỡng là một hình thức thể hiện niềm tin vào cái thiêng liêng của con người, của một cộng đồng người nào đó ở một trình độ phát triển xã hội cụ thể. Từ quan điểm này có thể đưa ra một cách hiểu chung về tín ngưỡng đó là: Tín ngưỡng là sự tin tưởng, ngưỡng mộ và sùng bái những thần thánh, vật thiêng hoặc linh hồn người chết do con người tưởng tượng ra hoặc do con người suy tôn, gán cho những phẩm chất siêu phàm.
Tín ngưỡng là một thành tố của văn hóa tổ chức cộng đồng, thuộc phạm vi đời sống cá nhân, được hình thành tự phát nhưng có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người. Trong nghiên cứu lí luận về tín ngưỡng, việc phân loại tín ngưỡng có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó không chỉ giúp xác định một hiện tượng tín ngưỡng thuộc loại nào, mà còn làm rõ những biểu hiện cụ thể của tín ngưỡng. Việc phân loại tín ngưỡng được các nhà nghiên cứu dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau, tùy thuộc vào tính chất vốn có của mỗi loại hình tín ngưỡng và nhu cầu, mục đích của chủ thể nghiên cứu.
Người ta đã từng đưa ra cách phân loại tín ngưỡng theo các hình thức phát triển khác nhau của tiến trình lịch sử. Một số khác lại từ bỏ nguyên tắc lịch sử mà đi vào đặc trưng địa lý và chủng tộc; theo các khu vực văn hóa; theo nội dung tín ngưỡng, tôn giáo và đối 10 tượng sùng bái; theo hình thái học của tôn giáo, tín ngưỡng… Mỗi cách phân loại như vậy đều chứa đựng những hạt nhân hợp lý tuy nhiên cũng không tránh khỏi sự phiến diện và nhiều lúc cực đoan. Nếu dựa vào đối tượng tham gia tín ngưỡng và không gian thực hiện thì có các loại hình tín ngưỡng sau: Tín ngưỡng cộng đồng, tín ngưỡng trong dòng họ, tín ngưỡng trong gia đình, tín ngưỡng của cá nhân. Dựa trên tiêu chí hình thái học gồm các hình thức tín ngưỡng sau: Thờ cúng tổ tiên; Tín ngưỡng cá nhân (vòng đời người); Tín ngưỡng nghề nghiệp; Tín ngưỡng thờ thần.
Dựa theo sức mạnh, vai trò các vị thần có thể chia thành: tín ngưỡng thờ cúng trong gia đình (thần bình dân); tín ngưỡng thờ cúng ngoài cộng đồng (thần quan trọng). Sự phân loại này có lẽ phải bàn thêm song nó đã bàn đến góc độ mối quan hệ giữa người và Thần - Thánh có các cấp độ khác nhau, từ tình cảm, lòng tin đến sự ngưỡng mộ. Dựa vào chức năng, vai trò của tín ngưỡng với con người - xã hội: tín ngưỡng thánh nhân định hướng nhân cách, tâm lý cộng đồng; tín ngưỡng thần linh thể hiện ước vọng, cầu mong và tâm lý cộng đồng. * Về tín ngưỡng nông nghiệp Tín ngưỡng nông nghiệp tương đồng với thuật ngữ “tín ngưỡng liên quan đến nông nghiệp” và được hiểu là hình thức tôn sùng, thờ phụng các yếu tố thiêng, cầu mong cho hoạt động sản xuất nông nghiệp thận lợi với mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, gia súc, gia cầm sinh sôi nảy nở.
Theo Tocarep “Sự thờ cúng nghề nông được phát triển lên từ thời bình minh của xã hội có giai cấp. Nó là sự phản ánh hình thái có ý thức của công xã nông thôn với những lợi ích kinh tế của nó, sự thờ cúng thần bảo vệ các công xã ở địa phương, đồng thời cũng là thần bảo vệ nông nghiệp và các nguồn kinh tế khác” (Tocarep, 1956, dẫn lại từ [48]). Tác giả Đàm Thị Uyên trong một nghiên cứu về các hình thức tín ngưỡng liên quan đến nông nghiệp của người Tày ở Cao Bằng tuy không đưa ra định nghĩa trực tiếp về “tín ngưỡng liên quan đến nông nghiệp” nhưng có giới thuyết chung như sau: “Từ lâu, khoa học đã xác nhận rằng có những nghi lễ liên quan đến trồng trọt. Từ cây hoang dại thuần hóa thành cây trồng là một thành tựu vĩ đại của loài người nhưng lúc đó, do sự hạn chế của sức sản xuất mà trồng trọt phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên…từ đó nảy sinh quan niệm vật linh hóa, nhân cách hóa cây trồng, đất đai, thời 11 tiết khí hậu… và nhiều hành động mang tính chất nghi lễ, tín ngưỡng tôn giáo để làm vừa lòng các lực lượng siêu nhiên mong giúp cho sản xuất nông nghiệp thuận lợi”.
[48] Tín ngưỡng nông nghiệp có biểu hiện vô cùng đa dạng, gắn với từng dân tộc, địa phương. Có thể hệ thống hóa các nội dung cơ bản của tín ngưỡng nông nghiệp như sau: Về đối tượng thờ cúng, tín ngưỡng nông nghiệp thể hiện sự sùng bái, tôn thờ đối với Thần Nông (hiểu theo nghĩa một vị thần cụ thể); các vị thần bảo vệ mùa màng, vật nuôi; các yếu tố tự nhiên có vai trò đặc biệt đối với mùa màng (đất, nước, mây, mưa, sấm, sét…); hồn lúa/ vía lúa; hồn vía gia súc, gia cầm và những vật thiêng khác trong đời sống nông nghiệp. Thờ Thần Nông: Nhắc đến tín ngưỡng nông nghiệp, trước tiên phải nói đến ý niệm về các vị thần gắn với hoạt động sản xuất nông nghiệp, bao gồm cả trồng trọt và chăn nuôi, song với đặc thù không gian văn hóa Việt Nam, hệ thống thần linh gắn với hoạt động trồng trọt bao giờ cũng đa dạng, phong phú và phổ biến hơn. Đứng đầu trong các vị thần nông nghiệp là thần Nông - vị thần cai quản toàn bộ hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người.
Trong những nền văn hóa phương Đông chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa thì Viêm Đế Thần Nông được xem là vị thần cai quản nông nghiệp, có vai trò mở mang hiểu biết về các cây thuốc, dạy dân làm đồ gốm, chỉ dạy các phương thức sinh sống cho người dân… Vì vậy, thờ cúng Thần Nông là tín ngưỡng lâu đời, là nét văn hóa đặc sắc của cư dân trồng lúa nước. Tín ngưỡng này được thể hiện bằng nhiều nghi lễ khác nhau ở mỗi dân tộc, vùng miền như: lễ cầu mùa, xuống đồng, cầu mưa, cúng cơm mới, tịch điền. Các nghi thức này được thực hiện ở đền thờ hay miếu Thần Nông, những nơi không có miếu đền riêng thì Thần Nông được thờ cúng chung ở đình làng. Trước đây, người Việt chỉ lưu giữ ký ức về Thần Nông trong dòng văn hóa dân gian (quan niệm, truyền thuyết, nghi lễ…).
Đến thời nhà Trần, việc thờ cúng này được ghi thành văn trong sách “Lĩnh Nam chích quái”: “Tục truyền rằng vua đầu nước ta hiệu Kinh Dương Vương và vua đầu Bắc quốc hiệu Đế Nghi là hai anh em, con ngài Đế Minh, cháu 3 đời Viêm Đế Thần Nông. Viêm Đế Thần Nông là vị thần coi về trồng trọt ngũ cốc cho loài người”. Các vương triều phong kiến trước đây rất coi trọng việc cúng Thần Nông, đặc biệt là triều Nguyễn. Vua Gia Long lên ngôi năm 1802, thì đến năm 1806 đã cho xây 12 đàn Nam Giao ở phía nam kinh thành Huế để tế trời 3 năm một lần và lập đàn Xã Tắc gần hoàng thành để cúng Thần Nông mỗi năm 2 lần vào tháng 2 và tháng 8.
Nhiều địa phương trên cả nước vẫn còn giữ gìn tục thờ cúng Thần Nông và các phong tục cổ liên quan tới Thần Nông. Thờ lúa/hồn lúa: Song song với Thần Nông, trong văn hóa dân gian, cư dân nông nghiệp có ý niệm đậm nét về thần lúa. Lúa gạo là lương thực chính theo người Việt từ khi sinh ra đến lúc mất đi. Ngay cả khi cúng giỗ, vẫn cần có bát cơm, quả trứng.
Về mặt xã hội, người Việt cổ sinh sống cùng với sự tồn tại của cây lúa nước. “Khoai ruộng lạ, mạ ruộng quen” - chính bởi tập quán trồng cấy cố định trong những ruộng nước nên hình thành tổ chức xã hội tiêu biểu nhất cho nền văn minh nông nghiệp là làng xã. Sự thống nhất, gắn kết giữa các làng tạo thành “nước”. Ý nghĩa trên bình diện đời sống và xã hội đã mang đến ý nghĩa trên bình diện văn hóa tâm linh.
Cây lúa, bông lúa, hạt lúa, thậm chí vỏ trấu đều trở thành đối tượng thờ cúng đặc biệt. Tục gọi vía lúa, rước lúa, thờ hạt lúa thần, cầu mưa, rước nước, tịch điền, hạ điền,. là sự biểu hiện lòng tôn kính “Thần Lúa” của người nông dân. Thờ các con vật gắn với yếu tố nước (thuồng luồng, rắn, cóc…): Trong tín ngưỡng dân gian, luôn có sự xuất hiện của các “linh vật”, xuất phát từ tín ngưỡng nguyên thủy vật linh giáo.
Hệ thống linh vật phần nào phản ánh hoạt động sinh kế và đời sống vật chất của cư dân. Đối với người dân nông nghiệp (đặc biệt là nông nghiệp lúa nước) thì yếu tố nước mang ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Do vậy, có hiện tượng thờ động vật dưới nước hoặc nhóm lưỡng cư (ba ba, rắn, rùa, cá sấu, cóc, rái cá). Thuồng luồng, rồng - linh vật nửa có thật, nửa tưởng tượng cũng gắn với yếu tố nước (việc thờ thuồng luồng còn xuất phát từ sự sợ hãi trước sức mạnh của nó).
Thờ các yếu tố tự nhiên có tác động trực tiếp đến đời sống sản xuất nông nghiệp: Bên cạnh yếu tố nước, các yếu tố tự mặt trời, mặt trăng, tinh tú, các hiện tượng tự nhiên như mây, mưa, sấm, chớp cũng trở thành đối tượng thờ phụng của tín ngưỡng nông nghiệp. Những yếu tố này có thể được vật linh hóa, nhân cách hóa thành các vị thần hoặc không, nhưng đều được cư dân ngưỡng vọng trong tâm thức hoặc cụ thể hóa sự thờ phụng thông qua các nghi lễ, lễ hội, hành vi ma thuật. Sinh thực khí và động tác tính giao (tín ngưỡng phồn thực): Tín ngưỡng phồn thức là hình thức tín ngưởng cổ xưa của cư dân nông nghiệp trên khắp thế giới.