Tóm tắt luận án tiến sĩ kiến trúc tổ chức không gian làng và kiến trúc truyền thống dân tộc xơ đăng tỉnh kon tum

Tóm tắt luận án tiến sĩ về kiến trúc làng truyền thống dân tộc Xơ Đăng tại Kon Tum, khám phá giá trị văn hóa và kiến trúc độc đáo.

Trường đại học

Viện Kiến Trúc Quốc Gia

Chuyên ngành

Kiến Trúc

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

43
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về không gian làng và kiến trúc truyền thống dân tộc Xơ Đăng tỉnh Kon Tum

Nghiên cứu về kiến trúc tổ chức không gian làng và văn hóa dân tộc Xơ Đăng tại Kon Tum mang lại cái nhìn sâu sắc về sự phát triển và biến đổi của các yếu tố văn hóa trong bối cảnh hiện đại. Không gian làng của người Xơ Đăng không chỉ là nơi cư trú mà còn là biểu tượng của bản sắc văn hóa. Các làng thường được tổ chức theo hình thức bầu dục hoặc hình tròn, với các nhà sàn và nhà Rông là những kiến trúc đặc trưng. Theo nghiên cứu, sự biến đổi trong kiến trúc dân gian đã diễn ra do nhiều yếu tố như kinh tế, xã hội và môi trường. Điều này dẫn đến việc cần thiết phải bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Xơ Đăng trong bối cảnh hiện đại.

1.1. Khái quát chung về dân tộc Xơ Đăng vùng Tây Nguyên

Dân tộc Xơ Đăng cư trú chủ yếu tại các huyện Đăk Hà và Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum. Họ có một lịch sử phong phú và văn hóa đa dạng, với các phong tục tập quán đặc sắc. Văn hóa địa phương của người Xơ Đăng thể hiện qua các nghi lễ, phong tục tập quán và đặc biệt là trong kiến trúc truyền thống. Nhà Rông, một biểu tượng văn hóa, không chỉ là nơi sinh hoạt cộng đồng mà còn là nơi diễn ra các nghi lễ quan trọng. Sự thay đổi trong không gian làngkiến trúc đã phản ánh sự thay đổi trong lối sống và tư duy của người dân nơi đây.

1.2. Thực trạng không gian làng và kiến trúc truyền thống dân tộc Xơ Đăng

Hiện nay, không gian làng của người Xơ Đăng đang đối mặt với nhiều thách thức. Sự phát triển kinh tế và đô thị hóa đã dẫn đến sự biến đổi trong cấu trúc làng. Các nhà sàn và nhà Rông, mặc dù vẫn được duy trì, nhưng hình dáng và vật liệu xây dựng đã có sự thay đổi đáng kể. Nhiều ngôi nhà truyền thống đã bị thay thế bởi các công trình hiện đại, làm mất đi bản sắc văn hóa. Việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Xơ Đăng là cần thiết để giữ gìn di sản văn hóacộng đồng dân tộc trong bối cảnh hiện đại.

II. Cơ sở khoa học về tổ chức không gian và kiến trúc truyền thống dân tộc Xơ Đăng tỉnh Kon Tum

Nghiên cứu về tổ chức không giankiến trúc truyền thống của dân tộc Xơ Đăng cần dựa trên các cơ sở lý thuyết vững chắc. Các yếu tố tác động đến không gian làng bao gồm điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội. Việc phân tích các yếu tố này giúp xác định được những biến đổi trong cấu trúc làng và kiến trúc. Các chính sách quốc gia về bảo tồn văn hóa cũng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Xơ Đăng. Nghiên cứu này không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc xây dựng các mô hình phát triển bền vững cho cộng đồng.

2.1. Cơ sở pháp lý

Luận án đã nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc thiểu số. Các chính sách này nhằm hỗ trợ cho việc phát triển bền vững và bảo tồn di sản văn hóa của dân tộc Xơ Đăng. Việc áp dụng các tiêu chí quốc gia về nông thôn mới cũng là một phần quan trọng trong việc tổ chức không gian làng và kiến trúc truyền thống. Điều này giúp tạo ra một môi trường sống tốt hơn cho cộng đồng, đồng thời bảo tồn các giá trị văn hóa độc đáo.

2.2. Cơ sở lý thuyết

Luận án đã phân tích các lý thuyết về tổ chức không gianbiến đổi văn hóa. Các lý thuyết này giúp hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa không gian sống và văn hóa của người Xơ Đăng. Sự tương tác giữa các yếu tố vật thể và phi vật thể trong cấu trúc làng là rất quan trọng. Nghiên cứu này không chỉ giúp nhận diện các vấn đề hiện tại mà còn đề xuất các giải pháp phù hợp để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Xơ Đăng trong tương lai.

III. Giải pháp tổ chức trong không gian và kiến trúc truyền thống dân tộc Xơ Đăng tỉnh Kon Tum

Để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Xơ Đăng, cần có các giải pháp tổ chức không gian và kiến trúc phù hợp. Các giải pháp này bao gồm việc phát triển các mô hình tổ chức không gian làng, bảo tồn kiến trúc truyền thống và phát huy các giá trị văn hóa. Việc áp dụng các chính sách quản lý hiệu quả cũng là một yếu tố quan trọng trong việc duy trì bản sắc văn hóa. Nghiên cứu này sẽ cung cấp cơ sở cho việc xây dựng các mô hình phát triển bền vững, đồng thời góp phần tạo nên thương hiệu cho vùng đất Tây Nguyên.

3.1. Quan điểm và nguyên tắc

Các giải pháp tổ chức không gian làng cần dựa trên các nguyên tắc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa. Việc kết hợp giữa hiện đại và truyền thống trong kiến trúc là rất quan trọng. Các mô hình tổ chức không gian cần phải linh hoạt, phù hợp với nhu cầu sống hiện đại của người dân, đồng thời vẫn giữ được bản sắc văn hóa. Điều này sẽ giúp tạo ra một môi trường sống hài hòa, bền vững cho cộng đồng.

3.2. Đề xuất các tiêu chí tổ chức

Đề xuất các tiêu chí tổ chức không gian làng và kiến trúc truyền thống cần phải dựa trên các yếu tố văn hóa, xã hội và môi trường. Các tiêu chí này sẽ giúp đánh giá sự biến đổi trong không gian làng và kiến trúc của dân tộc Xơ Đăng. Việc áp dụng các tiêu chí này sẽ hỗ trợ cho việc xây dựng các mô hình phát triển bền vững, đồng thời bảo tồn các giá trị văn hóa độc đáo của dân tộc Xơ Đăng.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ KHÔNG GIAN LÀNG VÀ KIẾN TRÚC TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC XƠ ĐĂNG, TỈNH KON TUM 1. Khái quát chung về dân tộc Xơ Đăng vùng Tây Nguyên a. Lịch sử phát triển vùng Tây Nguyên Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1776), Tây Nguyên lúc đó được gọi là “Nước Nam Bàn” có khoảng 50 thôn nằm ở phía tây Phú Yên, có hai vua gọi là Hỏa Xá và Thủy Xá ngự trị. Người Pháp đã dành sự chú ý đặc biệt đến Tây Nguyên, trước khi sang xâm lược nước ta.

Cuốn sách Địa chí Gia Lai (1999) ghi lại: vào năm 1775, người Pháp đã sử dụng những đoàn truyền đạo đến vùng đất này để xây dựng các cơ sở tôn giáo chính trị. Sau khi chiếm Tây Nguyên vào năm 1898, thực dân Pháp đã lập ra chế độ trực trị, đặt Tòa Đại lý hành chính tại Kon Tum và ủy quyền cho linh mục Viallenton làm đại lý [33]. Nhà nghiên cứu Lưu Hùng viết trong cuốn “Buôn làng cổ truyền xứ Thượng” (1994) cho rằng thuở sơ khai tộc người Tây Nguyên thuộc hai ngữ hệ Nam Á (Môn Kheme) và Nam đảo (MãLaio-Poly nêdi) [25]. Theo một số tài liệu về dân tộc học cho thấy, một điều gây ngạc nhiên là số lượng dân tộc ở Tây Nguyên vẫn còn tranh cãi.

Có thể do quan điểm phân chia các tộc người của các nhà nghiên cứu khác nhau, nhiều dân tộc lại chia thành những nhóm nhỏ hơn nên đã dẫn tới sự không thống nhất này. Sự đa dạng của vùng đất Tây Nguyên vẫn còn nhiều bí ẩn để được khám phá. - Văn hóa, tín ngưỡng: +Tổ chức xã hội ở cấp cơ sở là các làng, buôn, bon, plei, non… + Chế độ mẫu hệ: Một nét văn hóa độc đáo và phổ biến ở các dân tộc Tây Nguyên là chế độ mẫu hệ. Chế độ mẫu hệ tồn tại trong dòng họ và gia đình Tây Nguyên từ hàng trăm năm nay, hình thành từ đặc điểm quần hôn nguyên thủy.

4 9a3f31 93f39f8323 b7c7bda 5203 f0b7cfc8a c3 f0f81bf915 5a0f4ac5 d8ccf40c 9ad4424 f89 c65 43b7d34 d53 b38a2a3 9fe6 b66 c26 c305 fca4 9a3c4eb5 1abf55f8 0700b7a c6a4 5f9a c00a 0780 4c0e 4706 f58e f34 f4e 1d01 beb f4d539ab2fe7 2f5 b fb5225288a 8a06 f7fda9338 0380 3efb56b3d3a d4680 f23 e90abcc8a38 c23fcd2 51a0663 7b4 c4a20 104dc58 ee9e c3358 fa7d28b0 be58 c90a 6d7 d8a86 b865 52a6d 6e21c6e5ac96df3e c0e4 ba33 d28bbd1a 77d5 c8a2 275a70 1b94 bfae 8f4 720ff3 f 83ff16454 d0ff6fcfdbe1 f08 e06e5a 6cd3b1 d29 b9dca760 db7 f556 09c19b6825 5eb1ed 75b67ec4b3 b724ea 3df9a79ee fed 76173 5a128 1900e 0583 282baa 080ae f63 cf3 5b45 14a0 c2044 2ad20 8079 6f6 21eb 87ff30d3dbd7 f42b05b2 2642 df6a5 1542c8c8 9b7 d27 cd5 c6e4 6a36f0d7 fde f4a69a 3f4 f9e8 4338 c49 d5bb12 f0d7 2e 1dbd4e07a9 1c7 7d20 1f6 7f1 65a7 f0c61ad6 df3847e 1ccdb5b90 e55d132e2 0091 83b3df3 b9c9b0a b9a32e 9c3 1d17 42070 6f9 c33 be4 fc1ae 74a0 c925a c2abfb d9c b7f2 6ed3 145d0590e e1b3 7b30 baa4 f57b256 ce438 96e0 c368 7e01 f543 f03 e2b7 37e1d7 8ef3 d65a 0d2 dfe5 d520 d3a7 c33e4 8616 1c1 b19 c079aa f860 76df75 8aaf 4ae631e b7f0c1 86eaad2 c0e 6da48 ec1 0486 d93aa2 b8ee3 f47 e8aa258 5cf946 46 4eaf5 c63b2742 99306 4530 f7d12e f440 d783a0 6390 b97e c6 cc7 2bf3e9df7 f50 c c9a261 d2d34b1 efbbfb7384 77f7a47 c4a6a6 b238 d80 d82 c788 c191 9164 f6aa3 9 4f93 cd1 7a6554 3d1 803b33cb1b0aaac28 737ff67 eeb6 d176 38e03 7bfa 2d26 7d6 9bc7 1d71 3c1 5f4 b0e2e 94a1a2 6b9 c145 69b1 b468 87d5d0 c3ae4 db99 e612 dbf4e 60b7d9e7b725dd9 f50 c9d7 492d37c83dfeef4c1 3a54 c46ab8b8 b76d37b5 ba073 9b50b3a4b1 3035a 2090 fe268 5c6 f34 e2c6 8c7 22b2f8 1e8e30 3a5a41e e60e6 c3 d 3c4e9 c15 4862 b190e 839a2 4b65 f52 c9 c748 2d8b0cde295 0f8 cd2344a b0d0 1a3e c0436 79c9eb0 35f44646 e76db058 e3ab1 69e0 8b8 f6a7 f4f7a709 9cbf7e4 d9d18 48d75e 1a7b3 d5e3 d2e3 e3b9a d7e5a 4a3208ff 6a14 f2e1 cde7 6ae8ab3eb4e f91 5 651275 5a4512 dbfeaa8e0 c007 31b7 93c9fb06e3 bbf5451 b51 754a04 4cc62ae2 3 ff88a1cbdbcf9 e618 9f8 f6d2ceae 7271 0729 fae7 c225a c51 b4b0 8a6b1 d8d1a0f 5c1b3da8 b4d1 3cb1d8 42b0 31b0 c1 d4866 f33 06e49a 758 c5e1 f6d9b6 bcb0ab0 b7 e96c2 6ff6cf34 bb20 f31 2b5aa7 d385 b70e 5dc1dc9c7598 53e1a5 687a7 b87d7c7 e3e5c3 fe58 b4bb6fb04 0e9e1 7c5e 6d8 f65 d4d0a 892e cad7 550bb49 f5d5b15 853 fcb8 3a671 1d63 8f3 f9ee 7a6ce801 da406 40601 63f4cf649 89d3 f70 06a71 19c1e 60fc9a3568 5c2 f07a d8ae cc5 c6 c0b053 f5e51 0c5 2d72fb b8f78a8fc6 f6bb5a50 dd0 f7f2e735 dbb70b67e24 f8d49d37ef9b07 65fa4 2fc4a398 3b9 2f5 56098 3a26 77b722 c4 fae8b59b5 9d83 9de6 b1b2ffcf49e1 b8e68 7ef1 868 cb81 fa6 f59b8dc7 e0139ad11e2 f920 9375e 71ad4ec2 2d1 c08a6 0e5b9b10 bb1 f83 e3659 d02 06359 d b20c9a7bb9bfe635 b043 55e4 cc6 72273 d1d79b7276 bbf45a67 0bc6d24a 4c7 755 15e7a2 f607a4 f08 57e99 957e 98995fb 6a2727 f5a c8e5 8f9 1e92b4444 8e711 ec2 79b746 615a7 5776a7 2a0e7aa 3ff897afe 5a8c580 c38a7 69f8dd1 e477 0e2d52a4 + Văn hóa cồng chiêng: Dân tộc Tây Nguyên có hai loại nhạc cụ chính là cồng 1b9c74ab4a 2c2 99439 d6db85 3d45 2d8 bb4 b5db54f2dce47 c50e d23a3 56d7 c33 4 f8580 5c0 59f50a73 09dc4e33 c49 80aa85 b19 d0761 7ec0544aa4 2f0 632d8493 f2 b9a21a9 fc3a 5b6 b2908 cc6e38 f2b920 fc5 dbba 12c04c4ee52 b94b5fe7 353d7a7 d51760 f2 f3 c4b2 5b45 12c999b7db65c158dcba b7d2e5e8 8914a d13 f4f82856 55 70b476 6952 4967 472eb 9b1 1d0 d9534 8e65 b6fb150 e08e9 6375 cf24e2ffb d904 5 91b408 5421 d8efc3 c2b046fda430 d2c2a5da 83725 0e70 db16 8c7 71cd59a6 9aae c5fe8 3a106 f37 c8 f17fc4e 1e5c0e1 f29b0942 c58 c5 f6a131 7d6 c681 0a7be 6667 và chiêng. Cồng làm bằng đồng có cái núm ở giữa, còn nếu phẳng, không có núm thì gọi là chiêng. Nhà nghiên cứu âm nhạc Bùi Trọng Hiền khẳng định giá trị nghệ thuật sâu sắc và độc đáo của cồng chiêng, khác với các nước khác. Chính những nét độc đáo này đã khiến Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Di sản phi vật thể thế giới [29].

- Hình thái định cư, không gian làng và kiến trúc truyền thống buôn làng Tây Nguyên Mật độ phân bố buôn làng và quy mô không chỉ gắn với yếu tố địa hình mà còn quan hệ tới trình độ kinh tế và mức độ ổn định cuộc sống, chia ra ba cấp độ chính như sau: + Các vùng canh tác rẫy trên địa hình kém thuận lợi, độ dốc lớn, phải du canh du cư luôn. Địa bàn của người Giẻ Triêng, Xơ Đăng. Làng họ thường nhỏ bé về dân số, nhà cửa tạm bợ. + Các vùng canh tác rẫy trên địa hình có điều kiện hạn chế việc du canh du cư (quỹ đất dồi dào, đất màu mỡ, ít dốc.

Điển hình là nơi cư trú của người Bahnar, Kbang, Mang Yang… Làng của họ khá đông dân, nhà cửa bền chắc, chỗ ở ổn định khoảng 20 đến 30 năm. + Các vùng canh tác lúa nước hoặc làm rẫy trên đất bằng, dốc nhỏ, làm nà thô. Tiêu biểu ở những khu vực này là người Jrai, Ê Đê, M’Nông… b. Lịch sử phát triển dân tộc Xơ Đăng Dân tộc Xơ Đăng cư trú trong các huyện Đăk Tô, Đăk Glây, Kon Plông và thành phố Kon Tum, thuộc tỉnh Kon Tum; huyện Trà My, tỉnh Quảng Nam và huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi.

Các các nhà khoa học nghiên cứu về nguồn gốc dân tộc thông qua ngôn ngữ cho thấy tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á - Xem hình 4)). Tuy nhiên, các ngôn ngữ của họ gần gũi với các cư dân Mông - Dao và một số nhóm Tạng - Miến, chứng tỏ xa xưa tổ tiên họ có thể ở quá về phía Bắc. Một giả thiết cho rằng tổ tiên người Chăm đã tách họ ra với tổ tiên người Việt - 5 9a3f31 93f39f8323 b7c7bda 5203 f0b7cfc8a c3 f0f81bf915 5a0f4ac5 d8ccf40c 9ad4424 f89 c65 43b7d34 d53 b38a2a3 9fe6 b66 c26 c305 fca4 9a3c4eb5 1abf55f8 0700b7a c6a4 5f9a c00a 0780 4c0e 4706 f58e f34 f4e 1d01 beb f4d539ab2fe7 2f5 b fb5225288a 8a06 f7fda9338 0380 3efb56b3d3a d4680 f23 e90abcc8a38 c23fcd2 51a0663 7b4 c4a20 104dc58 ee9e c3358 fa7d28b0 be58 c90a 6d7 d8a86 b865 52a6d 6e21c6e5ac96df3e c0e4 ba33 d28bbd1a 77d5 c8a2 275a70 1b94 bfae 8f4 720ff3 f 83ff16454 d0ff6fcfdbe1 f08 e06e5a 6cd3b1 d29 b9dca760 db7 f556 09c19b6825 5eb1ed 75b67ec4b3 b724ea 3df9a79ee fed 76173 5a128 1900e 0583 282baa 080ae f63 cf3 5b45 14a0 c2044 2ad20 8079 6f6 21eb 87ff30d3dbd7 f42b05b2 2642 df6a5 1542c8c8 9b7 d27 cd5 c6e4 6a36f0d7 fde f4a69a 3f4 f9e8 4338 c49 d5bb12 f0d7 2e 1dbd4e07a9 1c7 7d20 1f6 7f1 65a7 f0c61ad6 df3847e 1ccdb5b90 e55d132e2 0091 83b3df3 b9c9b0a b9a32e 9c3 1d17 42070 6f9 c33 be4 fc1ae 74a0 c925a c2abfb d9c b7f2 6ed3 145d0590e e1b3 7b30 baa4 f57b256 ce438 96e0 c368 7e01 f543 f03 e2b7 37e1d7 8ef3 d65a 0d2 dfe5 d520 d3a7 c33e4 8616 1c1 b19 c079aa f860 76df75 8aaf 4ae631e b7f0c1 86eaad2 c0e 6da48 ec1 0486 d93aa2 b8ee3 f47 e8aa258 5cf946 46 4eaf5 c63b2742 99306 4530 f7d12e f440 d783a0 6390 b97e c6 cc7 2bf3e9df7 f50 c c9a261 d2d34b1 efbbfb7384 77f7a47 c4a6a6 b238 d80 d82 c788 c191 9164 f6aa3 9 4f93 cd1 7a6554 3d1 803b33cb1b0aaac28 737ff67 eeb6 d176 38e03 7bfa 2d26 7d6 9bc7 1d71 3c1 5f4 b0e2e 94a1a2 6b9 c145 69b1 b468 87d5d0 c3ae4 db99 e612 dbf4e 60b7d9e7b725dd9 f50 c9d7 492d37c83dfeef4c1 3a54 c46ab8b8 b76d37b5 ba073 9b50b3a4b1 3035a 2090 fe268 5c6 f34 e2c6 8c7 22b2f8 1e8e30 3a5a41e e60e6 c3 d 3c4e9 c15 4862 b190e 839a2 4b65 f52 c9 c748 2d8b0cde295 0f8 cd2344a b0d0 1a3e c0436 79c9eb0 35f44646 e76db058 e3ab1 69e0 8b8 f6a7 f4f7a709 9cbf7e4 d9d18 48d75e 1a7b3 d5e3 d2e3 e3b9a d7e5a 4a3208ff 6a14 f2e1 cde7 6ae8ab3eb4e f91 5 651275 5a4512 dbfeaa8e0 c007 31b7 93c9fb06e3 bbf5451 b51 754a04 4cc62ae2 3 ff88a1cbdbcf9 e618 9f8 f6d2ceae 7271 0729 fae7 c225a c51 b4b0 8a6b1 d8d1a0f 5c1b3da8 b4d1 3cb1d8 42b0 31b0 c1 d4866 f33 06e49a 758 c5e1 f6d9b6 bcb0ab0 b7 e96c2 6ff6cf34 bb20 f31 2b5aa7 d385 b70e 5dc1dc9c7598 53e1a5 687a7 b87d7c7 e3e5c3 fe58 b4bb6fb04 0e9e1 7c5e 6d8 f65 d4d0a 892e cad7 550bb49 f5d5b15 853 fcb8 3a671 1d63 8f3 f9ee 7a6ce801 da406 40601 63f4cf649 89d3 f70 06a71 19c1e 60fc9a3568 5c2 f07a d8ae cc5 c6 c0b053 f5e51 0c5 2d72fb b8f78a8fc6 f6bb5a50 dd0 f7f2e735 dbb70b67e24 f8d49d37ef9b07 65fa4 2fc4a398 3b9 2f5 56098 3a26 77b722 c4 fae8b59b5 9d83 9de6 b1b2ffcf49e1 b8e68 7ef1 868 cb81 fa6 f59b8dc7 e0139ad11e2 f920 9375e 71ad4ec2 2d1 c08a6 0e5b9b10 bb1 f83 e3659 d02 06359 d b20c9a7bb9bfe635 b043 55e4 cc6 72273 d1d79b7276 bbf45a67 0bc6d24a 4c7 755 15e7a2 f607a4 f08 57e99 957e 98995fb 6a2727 f5a c8e5 8f9 1e92b4444 8e711 ec2 79b746 615a7 5776a7 2a0e7aa 3ff897afe 5a8c580 c38a7 69f8dd1 e477 0e2d52a4 Mường và sau đó những xung đột nội bộ của cư dân Môn - Khơ me, những cuộc xung 1b9c74ab4a 2c2 99439 d6db85 3d45 2d8 bb4 b5db54f2dce47 c50e d23a3 56d7 c33 4 f8580 5c0 59f50a73 09dc4e33 c49 80aa85 b19 d0761 7ec0544aa4 2f0 632d8493 f2 b9a21a9 fc3a 5b6 b2908 cc6e38 f2b920 fc5 dbba 12c04c4ee52 b94b5fe7 353d7a7 d51760 f2 f3 c4b2 5b45 12c999b7db65c158dcba b7d2e5e8 8914a d13 f4f82856 55 70b476 6952 4967 472eb 9b1 1d0 d9534 8e65 b6fb150 e08e9 6375 cf24e2ffb d904 5 91b408 5421 d8efc3 c2b046fda430 d2c2a5da 83725 0e70 db16 8c7 71cd59a6 9aae c5fe8 3a106 f37 c8 f17fc4e 1e5c0e1 f29b0942 c58 c5 f6a131 7d6 c681 0a7be 6667 đột với người Chăm (thế kỷ XII - XV), với người Lào (thế kỷ XVI), người Xiêm (thế kỷ XVIII - XIX), sự tràn lấn của các nhóm Môn - Khơ me như Cơ tu, Bru, Tà Ôi. từ Lào sang đã thu hẹp phạm vi cư trú của họ.

Họ tìm thấy một nơi sinh sống sau những thế kỷ biến động xung quanh vùng núi Ngọc Linh [23]. Dân tộc Xơ Đăng có khả năng đã có một cuộc thiên di lớn trong lịch sử từ phương Bắc nhưng ngày nay đã sinh sống ổn định dưới chân núi Ngọc Linh, Tây Nguyên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu kiến trúc tổ chức không gian làng và văn hóa dân tộc xơ đăng tại Kon Tum" khám phá cách mà kiến trúc tổ chức không gian làng của người Xơ Đăng phản ánh văn hóa và lối sống của họ. Tác giả phân tích các yếu tố như cấu trúc làng, mối quan hệ giữa con người và môi trường, cũng như các phong tục tập quán đặc trưng của dân tộc này. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về văn hóa Xơ Đăng mà còn giúp độc giả hiểu rõ hơn về sự đa dạng văn hóa của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các khía cạnh văn hóa và kinh tế của các dân tộc khác, hãy tham khảo bài viết Luận văn đời sống kinh tế văn hoá của tộc người mông ở huyện võ nhai tỉnh thái nguyên từ năm 1975 đến năm 2015, nơi bạn sẽ tìm thấy thông tin về đời sống của người Mông. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ nghiên cứu tri thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc tày tại xã hữu khánh huyện lộc bình tỉnh lạng sơn sẽ giúp bạn hiểu thêm về tri thức bản địa trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ ngành dân tộc học ẩm thực của người nùng ở xã hoàng việt huyện văn lãng tỉnh lạng sơn sẽ mang đến cho bạn cái nhìn thú vị về ẩm thực của một dân tộc khác. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết về văn hóa và phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam.