Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm di sản văn hóa Theo cách hiểu thông thường, “di sản văn hoá dân tộc là toàn bộ sản phẩm văn hoá do các thế hệ người kế tiếp nhau trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc đã tạo ra và trao truyền lại cho các thế hệ tương lai”. Một cách đơn giản nhất có thể hiểu di sản là sản phẩm của thời trước truyền lại cho thời sau, cũng như là lời dặn của người trước lúc đi xa trao cho người ở lại.
Ở đây, từ “di sản” được kết hợp với từ “văn hóa” để tạo thành thuật ngữ “di sản văn hóa”. Văn hóa có thể được hiểu như một hệ thống các giá trị và chuẩn mực xã hội được tổng hợp từ toàn bộ sự hiểu biết mà xã hội loài người đã đạt được trong quá trình hoạt động thực tiễn, nó có khả năng chi phối sự điều và ảnh hưởng đến đời sống tâm lý mọi hoạt động của con người. ạo ra bản sắc riêng cho mỗi cộng đồng xã hội. Đảng và Nhà nước ta cũng đưa ra quan niệm hết sức rõ ràng về di sản văn hoá: “Di sản văn hoá là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc văn hóa dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hoá.
Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống (bác học và dân gian), văn hoá cách mạng, bao gồm cả văn hoá vật thể và phi vật thể” (Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc). Trong Luật Di sản văn hóa năm 2001, di sản văn hóa được hiểu là “những giá trị vật chất, tinh thần có ý nghĩa đặc biệt về khoa học, văn hóa, lịch sử và được bảo tồn, truyền từ thế hệ trước cho thế hệ mai sau” [12]. Có 2 dạng di sản văn hóa theo luật này: di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi 7 vật thể. Cụ thể, Di sản văn hóa vật thể, theo Điều 4 khoản 2 của luật được hiểu là “sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di tích, cổ vật, bảo vật quốc gia”.
Và di sản văn hóa vật thể này bao gồm: danh lam thắng cảnh; di tích lịch sử của đất nước; di tích, bảo vật, cổ vật quốc gia. UNESCO trong Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới ngày 16/11/1972 đã nêu rõ “Di sản văn hóa vật thể bao gồm các di tích, tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc hoặc tranh vẽ, các yếu tố hoặc cấu trúc có tính chất khảo cổ, tài liệu, hang động và nhóm yếu tố lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học" [9]. Về di sản văn hóa phi vật thể, theo Điều 4, Luật Di sản văn hóa năm 2001, là “sản phẩm tinh thần thể hiện bản sắc của cộng đồng, có giá trị lịch sử, khoa học, văn hóa và gắn liền với cộng đồng hoặc cá nhân, đồ vật và hàng hóa văn hóa liên quan”. Di sản văn hóa phi vật thể được bảo tồn và truyền từ thế hệ trước sang thế hệ tương lai chủ yếu thông qua truyền miệng, biểu diễn hoặc các hình thức khác.
Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: ngôn ngữ nói hoặc chữ viết; nghệ thuật biểu diễn truyền thống; Phong tục và truyền thống; niềm tin phổ biến; lễ hội truyền thống; làng nghề; trí thức bình dân. Trong Công ước UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể năm 2003, di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là “các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ” [9]. Thông qua những quan niệm khác nhau về di sản văn hoá ta nhận thấy rất rõ được tầm quan trọng của di sản văn hoá đối với sự trường tồn và phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Di sản văn hóa, có thể hiểu là toàn bộ sản phẩm sáng tạo của các thành viên trong cộng đồng, được thể hiện ra dưới dạng những đối tượng vật thể và phi vật thể mang tính biểu tượng, được trao 8 truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ cộng đồng này sang cộng đồng khác.
Do vậy, việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá là một công việc lớn, cấp thiết, cần sự quan tâm của toàn xã hội. Đây cũng là vấn đề quan trọng mang ý nghĩa chiến lược về văn hoá nhằm bảo tồn và phát huy tác dụng của di sản văn hoá trong đời sống xã hội. Giá trị di sản văn hóa Trong tiếng Việt, “giá trị” là cái làm cho một vật trở nên hữu dụng, có ý nghĩa và có giá trị về mặt nào đó.A Radughin trong Bách khoa toàn thư về nghiên cứu văn hóa, giá trị là thuộc tính của một vật thể, một hiện tượng xã hội nhất định, nhằm thỏa mãn một nhu cầu, mong muốn, một lợi ích của một chủ thể xã hội (cá nhân, nhóm xã hội, toàn bộ xã hội) [15]. Tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng “giá trị là tính chất của khách thể, được chủ thể đánh giá là tích cực xét trong so sánh với các khách thể khác cùng loại trong bối cảnh không gian - thời gian cụ thể" [11].
Tóm lại, giá trị có thể hiểu là cái làm cho một một vật trở nên hữu ích và có ý nghĩa tích cực, đề cập đến những phẩm chất của sự vật, hiện tượng nhất định như giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Giá trị di sản văn hóa có thể được hiểu là những đặc điểm, phẩm chất, hoặc ý nghĩa đặc biệt mà một di sản văn hóa mang lại cho con người, cho cộng đồng, hoặc cho nhân loại nói chung. Đây là những yếu tố tinh thần, vật chất hoặc tinh thần-vật chất, được xem là quan trọng và đáng quý, và thường được coi là giữ gìn và bảo tồn qua các thế hệ. Cách hiểu giá trị di sản văn hóa có thể phụ thuộc vào ngữ cảnh văn hóa, lịch sử và xã hội cụ thể của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc cộng đồng.
Tuy nhiên, một số khía cạnh chung của giá trị di sản văn hóa có thể bao gồm: Giá trị lịch sử: Di sản văn hóa thường mang lại thông tin về quá khứ của một cộng đồng, về lịch sử, văn hóa và truyền thống của họ. Chúng có thể giúp hiểu rõ hơn về các sự kiện, nhân vật và thay đổi xã hội qua các thời kỳ. 9 Giá trị văn hóa: Di sản văn hóa thường phản ánh các giá trị, niềm tin, tín ngưỡng và cách sống của một cộng đồng. Chúng là biểu hiện của sự sáng tạo, sự tưởng tượng và cái nhìn về thế giới của con người.
Giá trị nghệ thuật: Một số di sản văn hóa được coi là tác phẩm nghệ thuật, bao gồm kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc, văn học và biểu diễn. Chúng có thể đại diện cho sự sáng tạo và tinh thần nghệ thuật của một cộng đồng. Giá trị xã hội: Di sản văn hóa thường đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra và duy trì mối quan hệ xã hội trong cộng đồng, cũng như trong việc tạo ra sự đoàn kết và nhận thức về danh tính và tinh thần đoàn kết của một nhóm người. Giá trị kinh tế: Một số di sản văn hóa có thể mang lại lợi ích kinh tế, bao gồm du lịch văn hóa, thương mại sản phẩm truyền thống và các ngành nghề thủ công truyền thống.
Chúng có thể tạo ra cơ hội việc làm, tăng cường thu nhập và phát triển nền kinh tế địa phương. Bảo tồn giá trị di sản văn hóa Theo định nghĩa Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, “bảo tồn” có nghĩa là bảo tồn có nghĩa là giữ lại để không bị mất đi (bảo tồn di tích lịch sử, bảo tồn nền văn hóa dân tộc. Từ đây có thể hiểu, bảo tồn di sản văn hóa bao gồm những nỗ lực nhằm bảo vệ, gìn giữ sự tồn tại của di sản ở dạng nguyên thủy. Bảo tồn di sản văn hóa là thực hiện chức năng giáo dục của văn hóa, đáp ứng yêu cầu xây dựng, trau dồi tư tưởng nhân văn, đạo đức, lối sống và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng nhằm thúc đẩy phát triển con người, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
Khi nói đến việc bảo tồn di sản văn hóa, chúng ta phải hiểu rằng không chỉ là ngăn chặn sự mất mát mà ngoài việc bảo tồn còn phải có sự phát triển. Để bảo tồn và phát triển, đòi hỏi phải mở rộng giao lưu với các nền văn hoá 10 khác, từ đó có thể tiếp thu những cái hay, cái tốt, đồng thời cũng phải biết loại bỏ những cái xấu, cái tiêu cực. Mỗi quốc gia, dân tộc đều phải bảo tồn nền văn hoá và vốn di sản văn hoá quý báu của mình, đấy không phải là nguyên tắc, mà chính là nội lực bản thân mỗi quốc gia, dân tộc. Vì vậy, chúng ta phải nỗ lực kế thừa và phát huy những giá trị tinh thần, đạo đức, thẩm mỹ và di sản văn hóa của dân tộc.
Di sản văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc là lực lượng nội sinh tiềm tàng thúc đẩy sự phát triển bền vững của một dân tộc. Vì vậy, việc bảo tồn di sản văn hóa không chỉ là nghĩa vụ mà còn là quyền thiết thực của mỗi người. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chúng ta phải tiếp thu tinh hoa văn hóa của các dân tộc trên thế giới, làm phong phú và tô đẹp nền văn hóa Việt Nam, nhưng cũng phải đấu tranh chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa có hại, xu hướng yêu ngoại, căng thẳng, mất cội nguồn. Phát huy di sản văn hóa Về “phát huy”, theo Từ điển tiếng Việt có nghĩa là làm cho cái tốt, cái hay phát huy tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm (phát huy lợi ích, phát huy đầy tác dụng.