Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Hạnh đặt vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, bám sát các chủ trương và đường lối văn hóa của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Cụ thể, tác giả dẫn chiếu Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (năm 1998) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó bảo tồn và phát huy di sản là một trong mười nhiệm vụ trọng tâm; đồng thời trích dẫn Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhằm khẳng định di sản văn hóa là nguồn lực nội sinh quan trọng thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước và nền công nghiệp văn hóa.
Về bối cảnh thực tiễn địa phương, Ninh Bình là vùng đất thuộc phía nam đồng bằng Bắc Bộ có bề dày lịch sử và văn hóa phong phú, gắn liền với các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý. Tỉnh sở hữu gần 2.000 di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh, 81 di tích cấp quốc gia, 314 di tích cấp tỉnh, 3 di tích quốc gia đặc biệt và 1 di sản thế giới hỗn hợp. Mặc dù công tác quản lý và khai thác di sản đã đạt nhiều thành tựu, thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương, nhưng thực tế quản lý di sản tại Ninh Bình vẫn còn một số bất cập, đòi hỏi phải có hệ thống giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả bảo vệ và phát huy giá trị.
Mục tiêu nghiên cứu:
Đánh giá hiện trạng công tác bảo tồn các di sản văn hóa tại tỉnh Ninh Bình, nhận diện các giá trị văn hóa đặc sắc cần được gìn giữ, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát huy giá trị của chúng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống một số vấn đề lý thuyết về di sản văn hóa, giá trị di sản văn hóa, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa.
- Phân tích, đánh giá thực trạng bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa tại tỉnh Ninh Bình.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tỉnh Ninh Bình.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tại tỉnh Ninh Bình.
- Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính tỉnh Ninh Bình.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2001 (năm ban hành Luật Di sản văn hóa Việt Nam, xác lập khuôn khổ pháp lý mới cho công tác di sản) cho đến năm 2024.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu thông qua hệ thống các văn bản pháp luật, công ước quốc tế và các quan niệm lý luận chuyên ngành:
- Cơ sở pháp lý và văn bản quản lý: Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/6/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản; Công ước UNESCO năm 1972 về bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên thế giới; Công ước UNESCO năm 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể; các nghị quyết của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình và định hướng của Tổng cục Du lịch.
- Khung lý thuyết và quan niệm khoa học:
- Khái niệm di sản văn hóa vật thể và phi vật thể theo Điều 4 Luật Di sản văn hóa năm 2001 và các định nghĩa của UNESCO.
- Khái niệm và cấu trúc giá trị di sản văn hóa: tác giả sử dụng quan niệm về giá trị của A. Radughin và Trần Ngọc Thêm, phân tích các giá trị cốt lõi gồm: giá trị lịch sử, giá trị văn hóa, giá trị nghệ thuật, giá trị xã hội và giá trị kinh tế.
- Bốn đặc trưng cơ bản của di sản văn hóa theo Trần Ngọc Thêm (tính nhân sinh, tính lịch sử, tính giá trị, tính hệ thống) cùng ba đặc trưng bổ trợ theo TS. Hoàng Vinh (tính hiểu biết, tính biểu tượng, tính sử liệu).
- Phân loại di sản: theo nhu cầu/mục đích sử dụng (vật chất và tinh thần); theo lĩnh vực hoạt động của con người (4 phân hệ của Trần Ngọc Thêm; hoặc 4 lĩnh vực của TS. Phạm Duy Khuê: văn hóa tài nguyên, văn hóa kỹ thuật/hành vi, văn hóa thân tộc/thể chế, văn hóa tư tưởng/tinh thần); theo hình thức biểu hiện (vật thể, phi vật thể và con người/báu vật nhân văn sống).
- Quan điểm bảo tồn và phát huy theo TS. Nguyễn Hữu Thức: 3 quan điểm bảo tồn (bảo tồn nguyên vẹn/dạng tĩnh, bảo tồn trên cơ sở kế thừa/dạng động, bảo tồn có phát triển) và 3 quan điểm phát huy (lập trường chưa khai thác, lập trường khai thác có giới hạn, quan điểm khai thác toàn diện và chuyên sâu), khẳng định mối quan hệ biện chứng thống nhất giữa bảo tồn và phát huy.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích tài liệu (nguồn dữ liệu thứ cấp): Thu thập và xử lý các công trình nghiên cứu đi trước (như nghiên cứu của Nguyễn Hồng Thủy năm 2023 về khảo cổ học Hoa Lư gắn với du lịch, Đỗ Đức Hoạt năm 2017 về nghệ thuật chạm khắc đền Đinh - Lê, Trần Thị Thanh Dung năm 2018 về hát Xẩm), sách chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo, văn bản báo cáo chuyên ngành của Sở Văn hóa và Thể thao (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tỉnh Ninh Bình.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Trực tiếp điền dã, thu thập dữ liệu hiện vật, khảo sát hiện trạng cảnh quan, không gian kiến trúc di tích, các làng nghề thủ công và hình thức diễn xướng dân gian tại các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa
Chương này tập trung xác lập hệ thống cơ sở lý thuyết làm nền tảng cho việc phân tích thực trạng ở chương kế tiếp. Tác giả làm rõ nội hàm các khái niệm: di sản văn hóa, giá trị di sản văn hóa, bảo tồn di sản văn hóa và phát huy di sản văn hóa. Phân tích chỉ rõ di sản văn hóa không chỉ là sản phẩm tĩnh của quá khứ trao truyền lại mà còn là động lực nội sinh cho sự phát triển hiện tại và tương lai.
Tác giả trình bày các tiêu chí phân loại di sản văn hóa theo nhiều góc độ học thuật: phân loại theo nhu cầu/mục đích sử dụng (vật chất và tinh thần); phân loại theo lĩnh vực hoạt động sống (4 phân hệ: văn hóa nhận thức, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên, văn hóa quản lý môi trường xã hội, văn hóa tổ chức cuộc sống hàng ngày theo Trần Ngọc Thêm; hoặc văn hóa tài nguyên, kỹ thuật, thân tộc, tư tưởng theo TS. Phạm Duy Khuê); phân loại theo hình thức biểu hiện (vật thể, phi vật thể và biểu hiện qua con người theo GS. Hoàng Vinh). Về mặt đặc trưng, di sản văn hóa mang tính nhân sinh, tính lịch sử, tính giá trị, tính hệ thống, tính hiểu biết, tính biểu tượng và tính sử liệu.
Về quan điểm bảo tồn, chương 1 phân tích ba khuynh hướng: bảo tồn nguyên vẹn (dạng tĩnh, đòi hỏi kỹ thuật ghi nhận 3D, lưu giữ bảo tàng), bảo tồn trên cơ sở kế thừa (dạng động, thích ứng nhu cầu đương đại) và bảo tồn có phát triển (thêm các yếu tố thẩm mỹ mới nhưng tiềm ẩn rủi ro sai lệch nguyên gốc). Về quan điểm phát huy, tác giả dẫn luận 3 cách tiếp cận của TS. Nguyễn Hữu Thức: chưa khai thác, khai thác có giới hạn, và khai thác toàn diện - chuyên sâu. Cuối chương, tác giả thống kê 20 di sản thế giới tại Việt Nam được UNESCO công nhận (gồm 2 di sản thiên nhiên, 6 di sản văn hóa vật thể, 8 di sản phi vật thể và 4 di sản tư liệu) để minh họa vai trò của di sản trong giao lưu văn hóa và kinh tế du lịch.
Chương 2: Thực trạng bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa tỉnh Ninh Bình
Chương 2 cung cấp số liệu thực chứng toàn diện về điều kiện tự nhiên, dân cư, lịch sử, văn hóa và hiện trạng tài nguyên di sản của tỉnh Ninh Bình. Tỉnh có diện tích tự nhiên 1.412 km², địa hình chia làm 3 vùng sinh thái (núi phía Tây, đồng bằng xen núi đá vôi, đồng bằng bãi ngập ven biển). Dân số tính đến ngày 31/12/2012 đạt gần 1 triệu người, trong đó dân tộc Kinh chiếm trên 98,2%, dân tộc Mường chiếm 1,7% (tập trung tại Nho Quan, Tam Điệp); dân số nông thôn chiếm 84,7% và thành thị chiếm 15,3%.
Về di sản văn hóa vật thể, toàn tỉnh có 1.821 di tích, trong đó có 395 di tích đã được xếp hạng (314 di tích cấp tỉnh, 81 di tích cấp quốc gia, 3 di tích cấp quốc gia đặc biệt gồm Cố đô Hoa Lư, Tràng An - Tam Cốc - Bích Động, Núi Non Nước; và 1 di sản thế giới Quần thể danh thắng Tràng An được UNESCO công nhận năm 2014 với tư cách là di sản hỗn hợp đầu tiên của Đông Nam Á). Tỉnh cũng lưu giữ 5 bảo vật quốc gia. Khóa luận mô tả chi tiết các di tích và danh thắng tiêu biểu:
- Cố đô Hoa Lư: Diện tích quy hoạch khoảng 400 ha (đô thành 300 ha), chứa hơn 30 di tích với đền Vua Đinh Tiên Hoàng và đền Vua Lê Đại Hành sở hữu nghệ thuật điêu khắc gỗ, đá thế kỷ XVII.
- Quần thể danh thắng Tràng An: Diện tích 1.566 ha với 48 hang động thủy động. Chùa Bái Đính nằm trong khu vực có diện tích quy hoạch 390 ha, nắm giữ nhiều kỷ lục (tượng đồng 100 tấn, 500 tượng La Hán).
- Vườn Quốc gia Cúc Phương: Thành lập ngày 7/7/1962, diện tích 22.200 ha, chứa 1.944 loài thực vật, 71 loài thú, hơn 300 loài chim, 33 loài bò sát, 16 loài lưỡng cư.
- Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long: Bảo vệ loài voọc mông trắng (quần trắng), gồm 457 loài thực vật, 39 loài động vật có xương sống và 32 hang động.
- Các di tích, danh thắng khác: Động Địch Lộng (phát hiện năm 1739), Tam Cốc (gồm hang Cả, hang Hai, hang Ba trên sông Ngô Đồng), Núi Dục Thủy (núi Non Nước cao gần 70m với các bài thơ khắc đá cổ), Chùa Bích Động và Nhà thờ đá Phát Diệm (xây dựng 1875 - 1898).
Về di sản văn hóa phi vật thể, theo đợt kiểm kê năm 2011 do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện theo Thông tư 04/2010/TT-BVHTTDL, toàn tỉnh ghi nhận 312 di sản. Đến năm 2024, Ninh Bình có 6 di sản văn hóa phi vật thể được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục cấp quốc gia. Tỉnh có 225 lễ hội truyền thống (Lễ hội Trường Yên từ ngày 8 đến 13 tháng 3 âm lịch, Lễ hội chùa Bái Đính từ mùng 6 tháng Giêng đến hết tháng 3 âm lịch, Lễ hội đền Thái Vi từ 14 đến 17 tháng 3 âm lịch, Lễ hội chùa Địch Lộng ngày 6 và 7 tháng 3 âm lịch). Về làng nghề, nổi bật có nghề Thêu ren Ninh Hải (xuất hiện từ năm 1285 do bà Trần Thị Dung truyền dạy), Chạm khắc đá Ninh Vân và Mỹ nghệ cói Kim Sơn. Về nghệ thuật dân gian, khóa luận phân tích nghệ thuật Hát xẩm (gắn với tên tuổi nghệ nhân Hà Thị Cầu và truyền dạy của ông Vũ Văn Phó) và nghệ thuật Chèo truyền thống.
| Loại hình di sản phi vật thể (kiểm kê 2011) |
Số lượng di sản |
Tỷ lệ (%) |
| Lễ hội truyền thống |
106 |
33,97% |
| Nghệ thuật trình diễn dân gian |
91 |
29,17% |
| Tập quán xã hội |
46 |
14,74% |
| Nghề thủ công truyền thống |
39 |
12,50% |
| Tri thức dân gian |
24 |
7,69% |
| Ngữ văn dân gian |
04 |
1,28% |
| Tiếng nói, chữ viết |
02 |
0,64% |
| Tổng cộng |
312 |
100,0% |
| Đơn vị hành chính cấp huyện (kiểm kê 2011) |
Số lượng di sản |
Số lượng loại hình ghi nhận |
| Huyện Gia Viễn |
72 |
06 loại hình |
| Huyện Yên Khánh |
52 |
05 loại hình |
| Huyện Nho Quan |
50 |
07 loại hình |
| Huyện Yên Mô |
45 |
05 loại hình |
| Huyện Kim Sơn |
43 |
05 loại hình |
| Huyện Hoa Lư |
23 |
07 loại hình |
| Thành phố Ninh Bình |
15 |
05 loại hình |
| Thị xã Tam Điệp |
12 |
06 loại hình |
| Toàn tỉnh Ninh Bình |
312 |
07 loại hình |
| STT |
Tên di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia |
Năm công nhận |
Địa bàn ghi nhận |
| 1 |
Lễ hội Trường Yên |
2014 |
Xã Trường Yên, huyện Hoa Lư |
| 2 |
Nghề chạm khắc đá Ninh Vân |
2019 |
Xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư |
| 3 |
Nghệ thuật dân gian Hát Xẩm |
2022 |
Địa bàn tỉnh Ninh Bình |
| 4 |
Lễ hội làng Bình Hải |
2022 |
Xã Yên Nhân, huyện Yên Mô |
| 5 |
Nghề truyền thống Thêu ren Ninh Hải |
2024 |
Xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư |
| 6 |
Tập quán xã hội và tín ngưỡng Mo Mường |
2024 |
Huyện Nho Quan |
Về công tác bảo tồn và phát huy: Công tác xếp hạng, khoanh vùng bảo vệ di tích được duy trì. Hoạt động khai quật khảo cổ học diễn ra qua nhiều giai đoạn từ năm 1970 đến năm 2021. Trong giai đoạn 2020 - 2021, tỉnh đã giải ngân nguồn kinh phí lên đến hàng trăm tỷ đồng để tu bổ, tôn tạo các hạng mục kiến trúc xuống cấp và nâng cấp hạ tầng các khu di tích; xây dựng phương án kỹ thuật chuyên biệt bảo quản 5 bảo vật quốc gia; thường xuyên phối hợp liên ngành kiểm tra, xử lý vi phạm trật tự xây dựng và xâm lấn đất di tích.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa của tỉnh Ninh Bình
Chương 3 trình bày các định hướng và nhóm giải pháp dựa trên kết quả khảo sát thực trạng:
- Định hướng bảo tồn và phát huy: Xác định định hướng chung dựa trên quan điểm văn hóa của Đảng và các định hướng cụ thể của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình về phát triển công nghiệp văn hóa gắn với bảo vệ tài nguyên sinh thái và nhân văn.
- Một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh: Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng và học sinh, sinh viên; đào tạo nhân lực chuyên môn cho ngành văn hóa; bảo tồn nguyên trạng các yếu tố cấu thành di tích lịch sử - văn hóa; mở các lớp truyền dạy nghệ thuật hát xẩm, nghệ thuật chèo và hỗ trợ nghệ nhân dân gian tại các làng nghề chạm khắc đá Ninh Vân, thêu ren Ninh Hải, mỹ nghệ cói Kim Sơn.
- Một số giải pháp tăng cường hoạt động du lịch: Gắn kết di sản văn hóa với các tuyến, điểm tham quan du lịch trọng điểm; khai thác giá trị lễ hội truyền thống phục vụ du khách có kiểm soát; nâng cấp dịch vụ và cơ sở hạ tầng; quản lý lượng khách tham quan nhằm bảo đảm tính bền vững (dựa trên việc theo dõi chuỗi số liệu khách du lịch vào tham quan tỉnh Ninh Bình từ năm 2017 đến năm 2023 tại Bảng 2 của khóa luận).
Kết quả và đóng góp
- Hệ thống hóa số liệu định lượng về di sản Ninh Bình: Khóa luận tập hợp đầy đủ số liệu kiểm kê thực tế: 1.821 di tích, 395 di tích xếp hạng (314 cấp tỉnh, 81 cấp quốc gia, 3 di tích quốc gia đặc biệt, 1 di sản thế giới Quần thể danh thắng Tràng An), 5 bảo vật quốc gia, 312 di sản văn hóa phi vật thể kiểm kê năm 2011 phân bổ trên 8 đơn vị hành chính cấp huyện, 6 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia tính đến năm 2024 và 225 lễ hội truyền thống.
- Làm rõ thực tiễn quản lý và đầu tư công: Cung cấp thông tin về công tác trùng tu, cải tạo cơ sở hạ tầng di tích trong giai đoạn 2020 - 2021 với nguồn vốn đầu tư hàng trăm tỷ đồng; ghi nhận chuỗi hoạt động nghiên cứu khảo cổ học liên tục từ năm 1970 đến năm 2021; và theo dõi biến động lượng khách du lịch giai đoạn 2017 - 2023.
- Đóng góp so với các công trình nghiên cứu trước: Các công trình tiền nhiệm tại Ninh Bình thường tiếp cận đơn lẻ theo từng di tích hoặc loại hình chuyên biệt (như Nguyễn Hồng Thủy năm 2023 chỉ nghiên cứu di tích khảo cổ cố đô Hoa Lư; Đỗ Đức Hoạt năm 2017 chuyên sâu về mỹ thuật điêu khắc gỗ, đá đền vua Đinh - vua Lê; Trần Thị Thanh Dung năm 2018 tập trung vào hát Xẩm). Khóa luận của Trần Thị Hạnh đã cung cấp một góc nhìn tổng hợp, hệ thống hóa đồng thời cả hai bộ phận cấu thành là di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trên toàn địa bàn tỉnh, cập nhật dữ liệu quản lý và danh mục di sản quốc gia đến năm 2024.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của khóa luận: Đề tài chủ yếu khai thác các nguồn dữ liệu thứ cấp từ văn bản của cơ quan quản lý nhà nước (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình, UBND tỉnh Ninh Bình) và các tài liệu xuất bản trước đó. Số liệu dân cư phụ thuộc vào mốc thống kê năm 2012, và số liệu thống kê di sản phi vật thể tổng thể dựa trên kết quả kiểm kê năm 2011. Khóa luận chưa triển khai khảo sát xã hội học định lượng diện rộng về mức độ hài lòng hoặc sự tham gia kinh tế của cộng đồng dân cư địa phương tại các điểm du lịch di sản.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Cần cập nhật số liệu kiểm kê di sản văn hóa mới nhất sau các đợt rà soát định kỳ của ngành văn hóa; mở rộng nghiên cứu thực nghiệm đánh giá tác động của biến đổi môi trường và áp lực du lịch đại chúng lên tính nguyên gốc của di sản đá vôi và công trình kiến trúc cổ; phân tích chuyên sâu cơ chế chia sẻ lợi ích kinh tế giữa doanh nghiệp du lịch và cộng đồng bản địa trong Quần thể danh thắng Tràng An.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo: Tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Văn hóa học, Quản lý văn hóa, Văn hóa truyền thông, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Việt Nam học; cán bộ quản lý văn hóa cấp cơ sở tại các địa phương có mật độ di tích dày đặc; các nhà nghiên cứu đang chuẩn bị đề tài về mối quan hệ giữa bảo tồn di sản và phát triển du lịch bền vững.
- Nội dung có giá trị tham khảo chuyên môn:
- Khung lý luận về các cấp độ bảo tồn (nguyên vẹn, kế thừa, có phát triển) và lập trường khai thác (chưa khai thác, có giới hạn, toàn diện) của TS. Nguyễn Hữu Thức.
- Bảng số liệu kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể năm 2011 chi tiết theo 7 loại hình và 8 địa bàn cấp huyện của tỉnh Ninh Bình.
- Hệ thống dữ liệu tổng hợp về các di tích trọng điểm (Hoa Lư, Cúc Phương, Vân Long, Tràng An, Địch Lộng, Non Nước) và danh mục 6 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia tính đến năm 2024.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận căn cứ vào cột mốc pháp lý nào để xác định phạm vi thời gian nghiên cứu từ năm 2001 đến nay?
Tác giả chọn năm 2001 làm mốc khởi đầu vì đây là năm Luật Di sản văn hóa của Việt Nam chính thức được ban hành, mở ra giai đoạn mới cho công tác quản lý nhà nước, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trên quy mô cả nước nói chung và tỉnh Ninh Bình nói riêng.
2. Tính đến năm 2024, tỉnh Ninh Bình có bao nhiêu di sản văn hóa phi vật thể được công nhận cấp quốc gia?
Tính đến năm 2024, tỉnh Ninh Bình có 6 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, gồm: Lễ hội Trường Yên (công nhận năm 2014), Nghề chạm khắc đá Ninh Vân (năm 2019), Nghệ thuật dân gian Hát Xẩm (năm 2022), Lễ hội làng Bình Hải (năm 2022), Nghề thủ công truyền thống Thêu ren Ninh Hải (năm 2024) và Tập quán xã hội, tín ngưỡng Mo Mường (năm 2024).
3. Theo kết quả kiểm kê năm 2011, loại hình di sản phi vật thể nào chiếm tỷ lệ cao nhất và huyện nào có số lượng di sản nhiều nhất tại Ninh Bình?
Trong tổng số 312 di sản văn hóa phi vật thể kiểm kê năm 2011, loại hình Lễ hội truyền thống chiếm tỷ lệ cao nhất với 106 di sản (tương đương 33,97%). Về địa bàn phân bố, huyện Gia Viễn là đơn vị có số lượng di sản văn hóa phi vật thể nhiều nhất với 72 di sản thuộc 6 loại hình khác nhau.
4. Khóa luận nêu các quan điểm lý luận nào của TS. Nguyễn Hữu Thức về công tác bảo tồn di sản?
Khóa luận viện dẫn 3 quan điểm bảo tồn của TS. Nguyễn Hữu Thức: (1) Bảo tồn nguyên vẹn (dạng tĩnh), giữ nguyên vẹn cả hình thức và ý nghĩa của sản phẩm quá khứ; (2) Bảo tồn trên cơ sở kế thừa (dạng động), bảo tồn chọn lọc và thích ứng với nhu cầu xã hội đương đại; (3) Bảo tồn có phát triển, cho phép bổ sung yếu tố mới nhằm đáp ứng thị hiếu thẩm mỹ hiện đại nhưng có nguy cơ làm biến dạng mô hình truyền thống.
5. Cơ cấu xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng của tỉnh Ninh Bình được văn bản thống kê như thế nào?
Toàn tỉnh Ninh Bình có 1.821 di tích được ghi nhận. Trong đó có 395 di tích đã được xếp hạng, bao gồm: 314 di tích cấp tỉnh, 81 di tích cấp quốc gia, 3 di tích cấp quốc gia đặc biệt (Cố đô Hoa Lư, Tràng An - Tam Cốc - Bích Động, Núi Non Nước), và 1 di sản thế giới (Quần thể danh thắng Tràng An). Ngoài ra, tỉnh lưu giữ 5 hiện vật được công nhận là bảo vật quốc gia.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Hạnh là công trình nghiên cứu chuyên ngành Văn hóa Truyền thông, tổng hợp và phân tích có hệ thống thực trạng quản lý di sản tại một địa bàn trọng điểm văn hóa của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Thông qua việc kết hợp giữa lý luận văn hóa học, cơ sở pháp lý di sản và các số liệu kiểm kê thực tế, công trình đã phác họa bức tranh toàn cảnh về nguồn tài nguyên di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của tỉnh Ninh Bình. Các số liệu và giải pháp trình bày trong khóa luận cung cấp cơ sở dữ liệu hữu ích cho hoạt động học tập, nghiên cứu và quản lý văn hóa du lịch địa phương.