chương 1 đã cung cấp những nội dung cơ bản về cơ sở lý luận phù hợp nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu khái quát cho đề tài “ Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa khu di tích bà Triệu, tỉnh Thanh Hóa” để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của khu di tích Bà Triệu trong thời gian tới. 17 CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA KHU DI TÍCH BÀ TRIỆU 2.1 Giá trị của khu di tích 2.1 Giá trị kiến trúc 2.1 Đền Bà Triệu Đền Bà Triệu được xây dựng vào thế kỷ Vl, do vua Lý Nam Đế lập để tưởng nhớ Bà Triệu. Khu di tích đã trải qua vô vàn thăng trầm lịch sử, tới thời vua Minh Mạng (hoàng đế thứ 2 triều Nguyễn, trị vì năm 1820 – 1841), đền được di chuyển về vị trí hiện tại và có diện mạo như ngày nay. Đền Bà Triệu nằm trên núi Gai, thuộc địa phần làng Phú Điền, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Đền được xây dựng hướng Bắc, về phía núi Tùng, nơi đặt Lăng tháp Bà Triệu. Đền gồm các công trình: Nghi môn ngoại, Hồ nước, Bình phong, Nghi môn trung, Nghi môn nội, Tả Hữu mạc, Điện thờ và các công trình phụ trợ. Nghi môn ngoại: Nghi môn ngoại của đền Bà Triệu được xây kiểu tứ trụ bằng các phiến đá nguyên khối. Trên đỉnh cột trụ cao là hình tứ phượng, trụ thấp hình nghê chầu.
Thân trụ là lồng đèn chạm hình tứ linh. Tường hai bên trụ biểu là hai bức chạm nổi tượng voi chầu. Sau Nghi môn ngoại là hồ nước hình chữ nhật rộng 30m, dài 42m, ba mặt của hồ được xây dựng lan can thấp, mặt hồ đối diện với khu đền chính được xây bậc lên xuống, bậc thềm và rồng chầu. Nghi môn trung: Phía sau hồ có một tấm bình phong lớn bằng đá nguyên khối, tạo tác theo kiểu hình cuốn thư dài 4,07m, cao 2,37m.
Sau bình phong là Nghi môn trung, kiến trúc kiểu tứ trụ truyền thống, tương tự như Nghi môn ngoại Nghi môn nội: Đối diện với Nghi môn trung qua khoảng sân trước đền là Nghi môn nội. Sân trước Nghi môn nội dài 49,8m rộng 12, lát gạch. Hai bên sân có miếu Sơn thần và Thổ thần. Nghi môn nội nằm trên một bậc thềm cao 17 bậc so với sân trước đền.
Nghi môn nội có kiểu dáng như tam quan của chùa, ba lầu cổng ra vào. Lầu cổng chính giữa cao 2 tầng. Mái của cả 3 lầu cổng dạng 2 tầng 18 mái, 8 mái, lợp ngói âm dương. Mỗi lầu cổng có hai trụ biểu hai bên.
Hai bên cửa chính của Nghi môn nội đặt hai tượng nghê chầu cổ bằng đá. Điện thờ: Điện thờ đền Bà Triệu gồm 3 tòa đặt song song với nhau: Tiền đường, Trung đường và Hậu đường. Tiền đường nằm sau Nghi môn nội, trên nền cao 9 bậc so với sân. Sân trước nhà Tiền đường dài 51,4m, rộng 11,5m, nền lát bằng đá tảng đục nhám.
Trên sân đặt 1 bát hương đá hình tròn, hai bên có 2 cây đèn đá hình trụ, phía ngoài đặt 2 tượng voi chầu bằng đá khối. Hai bên sân có nhà Tả mạc, Hữu mạc, mỗi nhà 5 gian, tường hồi bít đốc, 2 mái, là nơi khách sửa soạn đồ lễ. Tòa Tiền đường 3 gian, 2 chái, tường hồi bít đốc, 2 mái. Hệ cột đỡ kèo bằng đá.
Kết cấu mái đơn giản, ít trang trí, mang đậm kiến trúc thời Nguyễn. Bên trong Tiền đường có ban thờ Công đồng và các Thánh quan. Trung đường nằm phía sau Tiền đường, trên nền cao 9 bậc so với sân lát đá. Trên bậc có hàng lan can là rồng và mây bằng đá xanh nguyên khối, theo phong cách thời Lê.
Công trình dạng 3 gian, 2 chái, 2 tầng mái, 8 mái. Kết cấu cột kèo bằng gỗ kiểu “chồng rường, giá chiêng” được trang trí các bức chạm khắc đề tài tứ linh, tứ quý. Chính giữa tòa Trung đường là nơi thờ Bà Triệu cùng người anh ruột là tướng quân Triệu Quốc Đạt. Bên trái là ban thờ Hội đồng quan võ và ba tướng họ Lý, bên phải là bàn thờ Hội đồng quan văn.
Một chiếc trống đồng được bày trang trọng phía trước ban thờ chính giữa tòa Trung đường. Hậu đường nằm sau tòa Trung đường, trên nền cao 13 bậc so với sân. Đây là công trình nằm tại vị trí cao nhất trong quần thể đền Bà Triệu. Trên bậc có hàng lan can rồng và mây như tòa Trung đường.
Công trình dạng 3 gian, 2 tầng mái, 8 mái. Kết cấu cột kèo bằng gỗ kiểu “chồng rường, giá chiêng” được trang trí các bức chạm khắc đề tài tứ linh, tứ quý. Chính giữa Hậu đường có ban thờ với linh vật là tượng Vua Bà ngồi trên ngai. Bên phải thờ phụ thân của bà, bên trái thờ phụ mẫu của bà.2 Lăng Bà Triệu Lăng tháp Vua Bà hay Lăng Bà Triệu nằm trên núi Tùng, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Lối vào Lăng bắt đầu từ Nghi môn nằm dưới chân núi với 4 trụ biểu, có hình thức như Nghi môn trung đền Bà Triệu: 2 trụ 19 biểu chính giữa cao, đỉnh trụ hình tứ phượng. Đỉnh của trụ biểu hai bên hình nghê chầu. Thân trụ là lồng đèn chạm hình tứ linh. Chân trụ hình cổ bồng.
Sau Nghi môn, cạnh lối lên Lăng tháp có ba ngôi mộ của anh em họ Lý, người làng Bồ Điền (xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa), là tuỳ tướng của bà Triệu. Lối lên Lăng có cặp voi đá trấn giữ hai bên. Qua một đường dốc với 312 bậc đá lên tới khu vực Lăng tháp. Khu vực Lăng tháp có 3 tòa tháp đá: Tháp vua, Tháp chúa và Tháp bà.
Tháp vua hay Tháp chính là một ngọn tháp 2 tầng, cao 5,8m. Bên trong tháp đặt bàn thờ bằng đá. Đây là nơi thờ chung của Vua Bà và các quan tướng. Tháp chúa đặt phía sau Tháp vua, là một tháp đặc, có cấu trúc hình trụ vuông bốn mặt làm bằng đá nguyên khối, cao 1,45m, 4 mặt được chạm khắc trang trí.
Trên đỉnh tháp đặt bát hương. Tháp bà hay mộ phần Bà Triệu, là một ngôi tháp thấp, vuông bốn mặt, có kích thước 1,5m x 4m, chiều cao 2,3m, cao hơn 0,50m so với nền. Tháp được mở cửa hình vòm ra 4 phía, mái tạo dáng cong ở các góc, đỉnh tháp gắn quả cầu tròn.3 Đình làng Phú Điền Đình Phú Điền thuộc làng Phú Điền, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa. Đình được xem là một loại công trình kiến trúc truyền thống đặc trưng của làng quê Việt Nam, thường được sử dụng làm nơi hội họp cộng đồng và để thờ cúng Thành Hoàng làng.
Ở làng Phú Điền, Bà Triệu Thị Trinh được xem là Thành Hoàng làng ở nơi đây. Đình được dựng vào năm 1772, hướng Tây Bắc, về phía núi Tùng, nơi đặt Lăng tháp Bà Triệu. Đình gồm Nghi môn, Chính điện với 2 tòa Tiền đường và Hậu đường đặt sát cạnh nhau tạo thành hình chữ “đinh” hay chữ T. Nghi môn gồm 4 trụ biểu, có hình thức như Nghi môn trung đền Bà Triệu: 2 trụ biểu chính giữa cao, đỉnh trụ hình tứ phượng.
Đỉnh của trụ biểu hai bên hình nghê chầu. Thân trụ là lồng đèn chạm hình tứ linh. Chân trụ hình cổ bồng. Nghi môn đặt trên nền cao 5 bậc so với sân trước.
Tòa Tiền đường gồm 3 gian, 2 chái, 2 mái, đầu hồi bít đốc, mái hiên phía trước, cửa bức bàn. Tại tường hồi nhô 20 ra hai trụ biểu với đỉnh trụ có trang trí nghê chầu. Tòa Hậu cung gồm 3 gian, 2 mái, đầu hồi bít đốc. Trong đình có nhiều mảng chạm khắc gỗ, đá hình tượng tứ linh (long, ly, quy, phụng), tứ quý (mai, lan, cúc, trúc), cá chép hóa rồng, hoa sen, chim sáo, hươu nai, gà trống, hình tượng người trong sinh hoạt đời thường.vô cùng đẹp đẽ, tinh xảo, thể hiện trình độ nghệ thuật chạm khắc ở mức độ cao thời bấy giờ.
Đặc biệt, tại đình Phú Điền hiện vẫn còn lưu giữ 64 sắc phong cổ có ấn chỉ của nhiều triều đại phong kiến, được xem như là một trong những báu vật của cộng đồng.4 Đền Đệ Tứ Đền được xây dựng ở vực núi Eo. Tại đây còn giữ lại ba đạo sắc phong, trong đó có một bản niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 5 (1797). Đền được xây dựng gồm hai gian xây dọc, có chiều dài 6,12m, chiều rộng trung bình 2,88m, và chiều cao 3,85m, bao gồm Hậu điện và Tiền đường, được xây dựng theo kiểu cuốn vòm, với nền lát bằng gạch bát màu đỏ cổ. Di tích Đền Bà Triệu lưu giữ tổng cộng 297 di vật, bao gồm cổ vật thuộc nhiều loại hình và chất liệu khác nhau như giấy, gỗ, đồng, gốm,.
với niên đại từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX. Những tài liệu và hiện vật này, được bảo quản tại di tích, đều mang giá trị lịch sử và văn hóa, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về nguồn gốc và quá trình tồn tại của di tích, cũng như về truyền thống văn hóa, tín ngưỡng và phong tục của địa phương. Đây cũng là nơi nhân dân làng Phú Điền tổ chức các sinh hoạt động văn hóa tín ngưỡng theo các phong tục cổ truyền như lễ hội, ngày lễ và Tết cổ truyền, cũng như các sự kiện kỷ niệm ngày mất của các nhân vật lịch sử. Lễ hội đền Bà Triệu được tổ chức trong ba ngày (từ ngày 19 đến ngày 22 tháng Hai âm lịch) với các hoạt động bao gồm lễ tế, lễ rước kiệu và các trò diễn dân gian, thu hút sự tham gia đông đảo từ cộng đồng địa phương và thu hút hàng vạn du khách đến tham quan và tham gia lễ hội.5 Khu mộ ba ông tướng họ Lý Thuộc trong khuôn viên của Quần thể Di sản Lịch sử Văn hóa và Nghệ thuật Kiến trúc của Đền Bà Triệu, khu mộ ba ông tướng họ Lý tại núi Tùng đặt cách đền Bà Triệu khoảng 500 mét về phía Tây.
Khu lăng mộ của ba ông tướng họ Lý được sắp xếp theo một hàng ngang. Ngôi mộ trung tâm nằm trên trục chính của lối đi, có hình dạng đế mộ vuông vức, với 3 bậc và đỉnh mộ tròn. Đặc biệt, mộ này được đặt ở phía trước và cao hơn so với hai mộ bên cạnh. Cả hai mộ bên tả và hữu cũng có cấu trúc tương tự, với đế mộ hình vuông, 3 bậc và đỉnh mộ tròn, có kích thước đồng đều.
Ở phía trước của ngôi mộ trung tâm, trên trục chính của con đường, có một bàn thờ đá hình chữ nhật để sắp đặt đồ lễ. Phía sau là một nhà bia vuông bốn mặt, mái nhà được làm từ ngói.