chương I Luật Di sản Văn hóa Việt Nam: Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết và nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Tuy nhiên, sự phân định này thực ra cũng chỉ mang tính tương đối, nhằm để nghiên cứu những đặc tính riêng của từng di sản, còn trong thực tế yếu tố vật thể và phi vật thể gắn kết chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại để làm nên giá trị của một di sản. Khi đó, di sản văn hóa phi vật thể là linh hồn, là cốt lõi, là biểu hiện tinh thần của di sản văn hóa vật thể; còn cái hiện hữu, cái làm nên di sản văn hóa vật thể thì tồn tại như là biểu hiện vật chất của di sản văn hóa phi vật thể ấy.
Khái niệm di tích lịch sử văn hóa, danh thắng Di tích lịch sử văn hóa, danh thắng là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa. - Về di tích lịch sử văn hóa: Giáo trình Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa của Trường Đại học Văn hóa đưa ra một khái niệm khoa học về di tích như sau: Di tích là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử; do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại [24, tr54]. Theo Luật Di sản Văn hóa của Việt Nam, di tích lịch sử - văn hóa được qui định: Là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học [21, tr. Trong đó, Di vật được hiểu là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; Cổ vật được hiểu là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ 100 năm tuổi trở lên; Bảo vật quốc gia được hiểu là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quí hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học.
- Về di sản thiên nhiên (danh thắng): Theo Công ước về Bảo vệ Di sản Văn hóa và thiên nhiên thế giới của UNESCO năm 1972, những loại hình được xem là di sản thiên nhiên (danh thắng) đó là: Các cấu tạo tự nhiên: bao gồm các thành tạo vật lý hoặc sinh học hoặc các nhóm có thành tạo thuộc loại đó mà, xét theo quan điểm thẩm mỹ hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu; Các thành tạo địa chất và địa văn và các khu vực được khoanh vùng chính xác làm nơi cư trú cho các loài động vật và thảo mộc bị đe dọa mà, xét theo quan điểm khoa học hoặc bảo tồn là có giá trị nổi tiếng toàn cầu; 19 Các di chỉ tự nhiên hoặc các khu vực tự nhiên đã được khoanh vùng cụ thể mà, xét theo quan điểm khoa học, bảo tồn hoặc vẻ đẹp thiên nhiên là có giá trị nổi tiếng toàn cầu [89, tr. Theo Luật Di sản Văn hóa của nước ta: Danh lam thắng cảnh được hiểu "là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học" [21, tr. Từ nhận thức trên, có thể đưa ra khái niệm về di tích, danh thắng như sau: Di tích, danh thắng là một không gian vật chất, cảnh quan thiên nhiên cụ thể, khách quan; nó không những là sự kết tinh giữa cảnh quan thiên nhiên và những giá trị lao động do con người trong lịch sử sáng tạo ra mà còn chứa đựng những giá trị điển hình về lịch sử, văn hoá, khoa học. Để làm rõ khái niệm này, cần nhấn mạnh một số điểm sau: - Trước hết, di tích, danh thắng là một không gian vật chất, cảnh quan thiên nhiên cụ thể, khách quan như các công trình, địa điểm, các di vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó và cảnh quan thiên nhiên có sự kết hợp với các công trình kiến trúc hoặc địa điểm ghi dấu hoạt động của con người nằm trong khu vực cảnh quan thiên nhiên đó.
Di tích, danh thắng tồn tại cụ thể trong một không gian và thời gian; các di tích, danh thắng có quy mô, phân bố, kiến trúc. Chúng tồn tại khách quan ngoài ý muốn chủ quan của con người; - Di tích, danh thắng không chỉ kết tinh những giá trị lao động xã hội của con người trong lịch sử sáng tạo ra mà còn kết tinh những giá trị điển hình về lịch sử, văn hóa, khoa học. Điều này hết sức quan trọng, khẳng định trước hết nó thuộc về sở hữu của người lao động sáng tạo ra nó, bảo tồn nó và chính nó lại là tài sản của quốc gia, của con người vì bản thân nó đã chứa đựng những giá trị điển hình của xã hội; bản thân di tích, danh thắng vừa chứa đựng những giá trị vật chất vừa chứa đựng giá trị tinh thần. 20 - Di tích, danh thắng bao gồm những bộ phận cấu thành: Môi trường, cảnh quan thiên; những công trình, địa điểm có liên quan tới các sự kiện lịch sử; hoặc nhân vật lịch sử, địa danh lịch sử, danh nhân văn hóa.
và những giá trị văn hóa tinh thần, hay còn gọi là văn hóa phi vật thể gắn với công trình, địa điểm đó. Phân định di tích và danh thắng thực chất cũng để có thể dễ nhận diện các loại hình di tích và danh thắng mà thôi, còn theo quan niệm của Luật Di sản văn hóa đều thống nhất xếp nó cùng chung một thuật ngữ là Di tích. Theo Luật Di sản văn hóa, di tích được phân loại như sau: Thứ nhất, nếu căn cứ vào giá trị tiêu biểu nhất mà di tích chứa đựng thì di tích được phân thành 4 loại: * Loại hình di tích lịch sử bao gồm: những công trình, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước; gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến. * Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật bao gồm: quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử như di tích Đình làng, di tích Chùa Tháp, di tích Văn miếu, di tích Đạo quán, di tích Đền, Nghè, Miếu, Phủ, di tích Thành lũy, di tích Lăng tẩm, di tích Cầu, di tích kiến trúc dân gian, di tích văn hóa Chăm Pa… * Loại hình di tích khảo cổ học là: những địa điểm, ẩn giấu một bộ phận giá trị văn hóa, thuộc về thời kỳ lịch sử xã hội loài người chưa có văn tự và thời gian nào đó trong thời kỳ lịch sử cổ đại.
* Loại hình di tích danh lam thắng cảnh là: cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu hoặc địa điểm ghi dấu hoạt động của con người 21 trong lịch sử để lại có giá trị về lịch sử, văn hoá, khoa học. Thứ hai, theo đầu mối quản lý và giá trị của di tích, danh thắng thì di tích danh thắng được chia thành 3 loại: * Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia. Các di tích này được địa phương lập hồ sơ xếp hạng và trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt và quyết định đề nghị các tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESO) xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới như: Phong Nha - Kẻ Bàng, Cố đô Huế, Vịnh Hạ Long, Thánh địa Mỹ Sơn. * Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia.
Các di tích này được địa phương lập hồ sơ, trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra quyết định xếp hạng di tích quốc gia. * Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương. Địa phương lập hồ sơ, trên cơ sở đề nghị của Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xếp hạng di tích cấp tỉnh. Bên cạnh phân loại như trên, theo chúng tôi cần thiết phải dựa vào hình thức quản lý và điều kiện khai thác của di tích để phân loại sâu hơn về bản chất của hệ thống di tích hiện có làm căn cứ cho việc xây dựng các chính sách và giải pháp.
Thứ ba, dựa vào hình thức quản lý, di tích được chia thành 3 loại: * Di tích do Nhà nước quản lý: Đó là các di tích quốc gia đặc biệt và di tích quốc gia do các ban quản lý di tích được Nhà nước thành lập trực tiếp quản lý. Nhà nước cấp lương, chi phí cho hoạt động thường xuyên, các chi 22 phí sửa chữa. trực tiếp cho Ban quản lý di tích. * Di tích do cộng đồng dân cư (hình thức tập thể quản lý) trực tiếp quản lý: Đó là các di tích quốc gia, di tích địa phương cấp tỉnh được giao cho tổ chức nhân dân trực tiếp quản lý như Đình làng, các Chùa, Đền thờ.
* Di tích do cá nhân, gia đình trực tiếp quản lý như: Nhà thờ dòng họ, nhà ở dân cư trong các khu phố cổ, sắc phong, bảo vật của dòng họ.