Chương 1. Cơ sở lý luận về quản di tích lịch sử - văn hóa và tổng quan về di tích lịch sử - văn hóa huyện Như Thanh tỉnh Thanh Hóa. Thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa huyện Như Thanh tỉnh Thanh Hóa. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa huyện Như Thanh tỉnh Thanh Hóa.
CƠ SỞ LÝ LUẬN DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA HUYỆN NHƢ THANH TỈNH THANH HÓA 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Di sản văn hóa Về khái niệm “văn hóa”, đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau, tuy nhiên có thể hiểu một cách chung nhất: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trình quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của mình” [29, tr. Về khái niệm “Di sản”, theo Từ điển Tiếng Việt: “Di sản là cái của thời trước để lại; văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” [43, tr.
Như vậy, “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” [9, tr. Đây có thể xem là quan điểm đã được chấp nhận và tác giả luận văn vận dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài. Di tích Từ điển Tiếng Việt cho rằng: “Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt lịch sử, văn hóa” [43; 254], Di tích dù được hiểu dưới khía cạnh nào, ngôn ngữ của dân tộc nào cũng đều có ý nghĩa chung là những hiện vật của quá khứ còn lại, đang hiện hữu như một tất yếu của lịch sử. Điều 29 của Nghị định số 92/2002/NĐ-CP 10 đã quy định tất cả “các di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ, danh lam thắng cảnh thì được gọi chung là di tích” [9].
Di tích lịch sử - văn hóa “Di tích lịch sử - văn hóa” là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa, là dấu tích, vết tích còn lại. Mỗi quốc gia trên thế giới cũng đưa ra những khái niệm về “Di tích lịch sử - văn hóa” của dân tộc mình. Theo Hiến chương bảo tồn và trùng tu di tích và di chỉ năm 1964), tại Điều 1, Hiến chương Vermice có có định nghĩa: “Di tích lịch sử văn hóa bao gồm những công trình xây dựng đơn lẻ, những khu di tích ở đô thị hay nông thôn, là bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay một sự kiện về lịch sử” [40, tr. Xét về văn bản quản lý nhà nước, Luật DSVH do Quốc hội nước CHXH chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2001 và sửa đổi, bổ sung Luật DSVH năm 2009 quy định: “Di tích lịch sử văn hóa là những công trình xây dựng địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [26].
Trong đó, danh lam thắng cảnh được hiểu là “cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ khoa học”. Cổ vật được hiểu “là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên”. Bảo vật quốc gia được hiểu “là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học”. Như vậy, có nhiều khái niệm khác nhau về DTLS-VH, nhưng các khái niệm đều có chung một quan điểm đó là: DTLS-VH là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình của lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân sáng tạo ra trong lịch sử để lại.
Quản lý Theo sách Đại từ điển Tiếng Việt thì: "quản lý được hiểu là việc tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, cơ quan; việc trông coi, gìn giữ và theo dõi việc" [45; tr. Các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra các khái niệm về quản lý, trong đó có các nhà khoa học quản lý đã đưa ra khái niệm một cách cụ thể về quản lý: "là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nắm được mục tiêu đề ra". Để thuận tiện cho nghiên cứu, theo chúng tôi khái niệm “quản lý” có thể được hiểu: là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung. Bản chất của quản lý là một loại lao động để điều khiển lao động xã hội ngày càng phát triển, các loại hình lao động phong phú, phức tạp thì hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng.
Quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước. Mặt khác, quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội đối ngoại của nhà nước. Chủ thể của quản lý nhà nước là tổ chức mang quyền lực nhà nước trong quá trình hoạt động tác động tới đối tượng quản lý. Như vậy, quản lý nhà nước bao gồm hai yếu tố: chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
Chủ thể quản lý nhà nước bao gồm: Nhà nước, cơ quan nhà nước tổ chức nhà nước xã hội và cá nhân được nhà nước ủy quyền thực hiện quyền quản lý nhà nước. Khách thể của quản lý nhà nước: Là trật tự quản lý nhà nước. Quản lý hành chính nhà nước là một hình thức hoạt động của nhà nước được thực hiện trước hết và ủy quyền các cơ quan hành chính nhà nước. Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa Quản Lý Nhà Nước về di tích lịch sử - văn hóa là hoạt động chấp hành, điều hành của các cơ quan quản lý nhà nước được tiến hành trên cơ sở pháp luật và thi hành pháp luật để điều chỉnh hành vi hoạt động của cá nhân, tổ chức trong việc bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử - văn hóa.
Các cơ quan nhà nước là chủ thể quản lý Nhà nước về trùng tu di tích lịch sử - văn hóa, có thẩm quyền trong việc quản lý trùng tu di tích lịch sử - văn hóa. Các tổ chức hoặc cá nhân có liên quan đến lĩnh vực trùng tu di tích lịch sử - văn hóa là đối tượng quản lý Nhà nước về trùng tu di tích lịch sử - văn hóa. Trật tự quản lý trong toàn bộ quá trình trùng tu di tích lịch sử - văn hóa cũng như các hành vi của các cá nhân, tổ chức trong quá trình trùng tu di tích lịch sử - văn hóa nhằm gìn giữ, bảo vệ và khai thác các giá trị của di tích phục vụ sự phát triển xã hội, đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần cho cộng đồng là khách thể quản lý Nhà nước về trùng tu di tích lịch sử - văn hóa. Như vậy, quản lý Nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa chính là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các di tích, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực.
Trong đó tập trung các nội dung như: Bảo quản di tích lịch sử - văn hóa; Tu bổ di tích lịch sử - văn hóa; Phục hồi di tích lịch sử - văn hóa. Việc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải đảm bảo các yêu cầu: Giữ gìn tối đa các yếu tố gốc cấu thành di tích; Cần tiến hành lập quy hoạch, dự án trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, trừ trường hợp sửa chữa nhỏ không ảnh hưởng đến yếu tố gốc cấu thành di tích (Điều 34, Luật Di sản văn hóa) và các quy hoạch, dự án đã được phê duyệt phải được công khai tại địa phương nơi có di tích. Cộng đồng Có nhiều cách tiếp cận và từ những góc độ khác nhau về cộng đồng, song cộng đồng có những dấu hiệu chủ yếu sau: - Cộng đồng phải là tập hợp của một số đông người. - Mỗi cộng đồng phải có một bản sắc hoặc bản thể riêng.
- Các thành viên có sự tự gắn kết với cộng đồng và với các thành viên khác của cộng đồng. - Có nhiều yếu tố tạo nên bản sắc và sức bền gắn kết cộng đồng, nhưng quan trọng nhất chính là sự thống nhất về ý chí, chia sẻ về tình cảm, và tạo nên ý thức cộng đồng. - Mỗi cộng đồng đều có những tiêu chí bên ngoài để nhận biết về cộng đồng và cũng có những quy tắc hoạt động, ứng xử chung của cộng đồng. TS Phạm Hồng Tung, Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội có định nghĩa về “cộng đồng” như sau: “Cộng đồng là tập hợp người có sức bền cố kết nội tại cao, với những tiêu chí nhận biết và quy tắc hoạt động, ứng xử chung dựa trên sự đồng thuận về ý chí, tình cảm, niềm tin và ý thức cộng đồng, nhờ đó các thành viên của cộng đồng cảm thấy có sự gắn kết họ với cộng đồng và với các thành viên khác của cộng đồng”.
Cơ sở pháp lý về công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa 1. Những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Sau cách mạng Tháng tám, ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65-SL về quản lý DSVH. Sắc lệnh có 6 điều, ấn định nhiệm vụ cho Đông phương Bác cổ học viện có nhiệm vụ bảo tồn tất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam và nghiêm cấm việc phá hủy đền, chùa, đình, miếu, điện, thành quách, lăng mộ. Tinh thần của sắc lệnh này đã được quán triệt trong suốt hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quản lý Nhà nước di sản văn hóa được xây dựng từ năm 1945 đến nay.