TRẦN QUỐC VƯỢNG (Chủ biên) - TÔ NGỌC THANH NGUYEN CHi BEN _ LÂM MỸ DUNG TRẦN THÚY ANH CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM TRAN QUOC VƯỢNG (Chú biên) TÔ NGỌC THANH - NGUYÊN CHÍ BỀN - LAM MY DUNG - TRAN THUY ANH CO SO VAR HOA VIỆT tim (Tái bân lẫn thứ tám) NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC 05-2006/CXB/18-1880/GD Ma s6: 7X274T6 - CND bo LOI NOI DAU Những năm gồn dây, nhận thitc vd vai trd của van héa 6 nước ta được nâng lên đúng uới gió trị dích thục của nó. Nghị quyết Hội nghị lồần thú 4 của Ban chấp hành Trung ương khóa VII đã khẳng định uờn hóa là nền lảng tính thần của xố hội, thể hiện lầm cao va chidu sâu uề trình dộ phát triển của một dân tộc, là sự kết Hnh những giá trị tốt đẹp nhốt trong quan hệ giữa người uới người uới xã hội uà uới thiên nhiên. Nó oùa là một dộng lục thúc đẩy vita la một mục tiêu phát triển kinh tế — xã hội của chúng ta. Cũng uì thế, uiệc giữ gìn, phót huy uà chốn hung van héa dân tộc được dét ra mét cách cấp bách, dòi hồi sự tham gia của nhiều ngành, nhiều gidi.
Giữa tháng 13 năm 1994, Hội nghị lần thú 8 của Ủy ban quốc gia uề Thập kÌ Quốc tế phát triển uẽn hóa của Việt Nam do Phó Thủ tông Nguyễn Khánh làm chủ tịch đã họp. Hội nghị tập trung thảo luộn chủ dề : Bảo uệ uà phái huy di sản uờn hóa Việt Nam, dặc biệt là di sản uăn hóa phí uột thể. Hội nghị này dã có nhiều kiến nghị uới Đảng, Nhà nước, các Bộ, ngành, trong đó có hiến nghị ; "Bộ Giáo dục dù Đào tao dua vaio chương trình giảng dạy ỏ cóc trường học nội dung bdo vé 0à phát huy cúc dị sản uăn hóa, giáo duc cho thanh nién va học sinh uề giá trị của ăn hóa dân tộc 0à di sản uăn hóa Việt Nam, nứng cao lòng tụ hào dân tộc uờ ý thúc bảo uệ dị sửn uăn hóa" Ngày 10 thông 1 năm 1995, B6 Gido duc va Dao tạo dã ki công 0uăn số 173/VP uề uiệc lăng cường giáo dục các giá trị uên hóa dân tộc uà di sản van hoa Viét Nam, yêu cầu các cơ quan chuẩn bị hệ thống giáo trùnh, dưa môn Văn hóa hoc va co sé van héa Việt Nam uào chương trình đại học, cao đẳng, đệ phục uụ vide hee tap của sinh vién. Nhận trách nhiệm trước Bộ Giáo dục uà Đào tạo, chúng tôi biên soạn giáo trình môn Cơ sở uãn hóa Việt Nam.
ss* Khoa Van héa hoc néi chung va mén Co sé van héa Viet Nam nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ trong nhà trường mà còn ở ngoài xã hội. Tuy thế, uới nhờ trường dai hoc va cao đẳng, Văn hóa học lại là môn học còn rất mới mê. Hiện tại, còn có nhiều cách hiểu khác nhau uề lịch sử va đặc điểm uăn hóa Việt Nam, cũng như còn nhiều cách hiểu, cách trình bày uề môn Co sd van héa Việt Nam. Chính uì uậy, chúng tôi thấy rằng, cần trình bày cho sinh vién hiéu cd hai mét lich dai va dồng đại của uăn hóa Việt Nam lên những độc diễm uề ca những kiến thúc cơ bản uề môn Văn hóa học.
Sau lin xuất bản đầu tiên, phục uụ cho hội nghị tập huén uề bộ môn Văn hóa học do Bộ-Giáo dục 0à Đào tạo tổ chúc tại Hà Nội uà Thành phố Hồ Chỉ Minh, chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu của các đồng nghiệp, các thầy giáo, cô giáo 0à bạn đọc các nơi (như PGS, TS Nguyễn Xuân Kinh, TS Nguyễn Thị Minh Thái, ông Nguyễn Hòa, ông Lê Đình Bích, ông Trần Mạnh Hảo trên tạp chỉ Văn hóa dân gian, Tộp sơn Kiến thức ngày nay, báo Thể thao va van hóa, báo Văn nghệ). Chúng tôi xin tô lòng cảm ơn, Ở lần xuốt bản này, chúng tôi dã sửa chữa uà bổ sưng cho hoờn thiện hơn trên cơ sở cóc Ý kiến dóng góp. Tuy nhiên, chúng tôi nghỉ rồng để có cuốn giáo trình uề Văn héa học hoàn chỉnh, bán thân các tác giả còn phải nghiên cứu nhiều uờ cần có thêm nhiều ý biến thảo luận, góp ý của độc giả. Vì uậy rất mong các đồng nghiệp 0uù bạn dọc góp ý, phê bình để cuốn sách ngày một tốt hơn.
Voi hi vong mén Văn hóa học uờ Cơ sở uên hóa Việt Nam sẽ được khẳng định uị thế, như nó uốn cần có, chúng tôi mong rằng giáo trình sơ thảo này sẽ đóng góp tích cục uào uiệc giảng đạy uà học lập trong các trường dai hoc va cao đằng. Ha Noi, thang 8 - 1998 Chủ biên TRẦN QUỐC VƯỢNG x bà CUON SACH DUOC VIET THEO CHUONG TRINH MON CO SO VAN HOA VIET NAM (GIANG DAY TRONG 60 TIET) VOI 4 DON VI HOC TRINH - Don vị học trình I Chuong 1 CAC KHAI NIEM CƠ BẢN (15 tiết) Bài 1: Văn hóa va van hoa hoe (4 tiét) 9 Bai 2: Van héa và môi trường tự nhiên (3 tiết) 25 Bài 3 : Văn hóa và môi trường xã hội (4 tiết) 36 Bài 4 ; Tiếp xúc và giao lưu văn hớa (4 tiết) 49 — Đơn vị học trình 2 Chương 2 CẤU TRÚC, CÁC THIẾT CHẾ VÀ CHỨC NĂNG CỦA VĂN HÓA (15 tiết) Bài 5 ; Hình thái và mô hình văn hớa (4 tiết) 64 Bài 6 : Những thành tố của văn hoa (5 tiét) 73 Bòi 7 : Chức năng và cấu trúc của văn hóa (6 tiết) — 100 — Don vi học trình 3 Chương 3 DIEN TRINH LICH SU CUA VAN. HOA VIET NAM (15 tiết) Bài 8 : Van hóa Việt Nam thời tiên sử và sơ sử (3 tiết 114 Bài 9 ; Văn hóa Việt Nam thiên niên kỉ đẩu công nguyên (3 tiết) 134 Bài 10 : Văn hóa Việt Nam thời tự chủ (3 tiết) 163 7 Bai 11: Văn hóa Việt Nam từ năm 1858 đến nam 1945 (3 tiết) 183 Bai 12 : Văn hóa Việt Nam từ nam 1945 dén nay (3 tiết) 198 — Đơn vị học trình 4 Chương 4 KHÔNG GIAN VĂN HÓA VIỆT NAM 413 tiếu Bài 13: Ving van hóa Tây Bác (1,5 tiết) 213 Bai 14: Vùng văn hơa Việt Bác (1,5 tiết) 226 Bài 15: Vùng văn hóa châu thổ Bác Bộ (3 tiết) 234 Bài 18 : Vang van hoa Trung Bộ (3 tiết) 244 Bài 17: Vùng văn hóa Tây Nguyên (2 tiết) 252 Bài 18: Vùng văn hóa Nam Bộ (2 tiết} 266 Chương kết luận - Bài 19 - Văn hóa và phát triển (2 tiết 278 sey ine ChuongI CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN BÀI 1 VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA HỌC I- CON NGƯỜI - CHỦ/KHÁCH THỂ CỦA VĂN HÓA Một trong những khía cạnh cần xem xét của vấn để là quan hệ giữa con người và vấn hóa. Mối quan hệ này được bộc lộ ra ở ba khía cạnh quan trọng : - Con người với tư cách là chủ thể sáng tạo của vân hóa, - Con người cũng là sản phẩm cửa văn hóa, - Con người cũng là đại biểu mang giá trị văn hóa do con người sáng tạo ra Như vậy, con người vừa là chủ thể nhưng vừa là khách thể của văn hơớa.
Có nhìn nhận văn hóa như một chỉnh thể thống nhất, chúng ta mới lí giải được mối quan hệ hữu cơ giữa con người với xã hội, giữa con người với tự nhiên. Trong những mối quan hệ ấy, con người là chủ thể, là trung tâm, như mô hinh sau : “8 “a Thể nhưng, từ trước đến nay cả ba thành tố trong mỏ hình này, không phải đã được mọi người, mọi thời nhìn nhận một cách nhất quán 1. Những dịnh nghĩa khác nhau về con người Trong trường kỉ lịch sử, những câu hỏi "Ta từ đâu đến ? Ta đi đến đâu ?”', là những câu hỏi ám ảnh loài người từ muôn đời nay. Và loài người luôn tìm cách giải đáp những eâu hỏi này bằng các huyền thoại, sáng thế luận, học thuyết triết học, tôn giáo v.
Trong tư tưởng phương Đông, con người là vũ trụ thu nhò "Nhân thân tiểu thiên địa" (Lão Tử). Con người là sự thống nhất của không gian và thời gian. Con người bao gồm cả vũ - không gian (trên dưới) va tru ~ thời gian (xưa qua nay lại) Theo mô hình tam phân (bệ ba) hay thuyết Tam- Tài, con người là một trong ba ngôi ba thế lực của vũ trụ bao la tức Thiên - Địa - Nhân. Người nối liến trời với đất, dung hòa bai cực đối lập ấy để đạt được sự hài hòa hợp lí : "Thiên thời ~ địa lợi - nhân hòa", Trong hệ thống quan niệm của Phật giáo, người và muôn loài là bỉnh đảng, khác với quan niệm phương Tây cổ truyền cho con người là trung tâm vũ trụ, chúa tể của muôn loài Quan niệm vẽ con người của triết học phương Đông là : "Tam tài, "Vạn vật tương đống", "Thiên nhân hợp nhất" và quan niệm của Phật giáo cho rằng con người bình đẳng với muôn loài, hoàn toàn tương đồng với xu thế phát triển của sinh thái học hiện đại và sinh thái học vân hóa Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử nhìn con người như một thành tổ đã tổn tại trong nhiều mối quan hệ xã hội như định nghĩa của Các Mác : "Trong tính thực tiễn của nở, con người là sự tổng hòa các quan hệ xã hội".
Một số nhà nghiên cứu cho rằng định nghĩa này đúng nhưng để hiểu Các Mác hơn cần nhớ, năm 1865, khi hai cô con gái Laura và Jenny Mác đặt câu hỏi với bố : "Châm ngôn ưa thích nhất 10. we của bố là gì ? ", Mác đã trả lời bằng một câu nổi tiếng của thời cổ đại La Mã : "Không có cải gì của con người, mà tôi lại coi nó như xa lạ đối với tôi" Trong thời đại tín học, người ta hay sử dụng khái niêm con người nhiều chiều (Multidimension). Khái niệm này về thực chất thể hiện quan niệm trên của Các Mác. Con người nhiều chiều ở đây có thể hiểu con người trong các chiêu hướng tự nhiên xã hội, gia đình xã hội, hành động tâm lính, con người chính mình Trong khoa học sinh thái, con người được đặt trong sinh quyển, là một thành viên đặc biệt trong sinh quyển, do bản chất sinh vật phát triển hoàn hảo nhất và do bản chất văn hóa.
chỉ có ở con người. Con người cùng với quả đất là một hệ sinh thái.