Mở đầu cho giai đoạn tiền sử là văn hóa Núi Đọ (tên di chỉ khảo cổ học thuộc sơ kỳ thời đại đồ đá cũ (cách đây khoảng 300.000 năm) phát hiện ở núi Đọ - Thiệu Hóa – Thanh Hóa). Sau văn hóa Núi Đọ, các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra di chỉ khảo cổ học thuộc hậu kỳ đá cũ ở Việt Nam, đó là văn hóa Sơn Vi – Lâm Thao, Phú Thọ (tồn tại trong khoảng từ 30.000 năm cách ngày nay). Trong giai đoạn Tiền sử, cách đây khoảng một vạn năm, loài người cũng bước vào thời đại đá mới. Thời kỳ này con người nhận biết, tận dụng và sử dụng nhiều loại nguyên vật liệu như đá, đất sét, xương, sừng, tre, gỗ… Kĩ thuật chế tác đá được hoàn thiện và đạt tới đỉnh cao, loại hình công cụ nhiều.
Đặc biệt con người đã biết làm gốm, thuần dưỡng động vật và cây trồng, bắt đầu sống định cư, dân số gia tăng. Tiêu biểu cho giai đoạn này là văn hóa Hòa Bình. Cư dân văn hóa Hòa Bình sống chủ yếu trong các hang động núi đá vôi, nhất là khu vực gần cửa hang thoáng đãng, có ánh sáng. Người Hòa Bình cũng sống chủ yếu bằng săn bắt và hái lượm theo phổ rộng.
Sự xuất hiện của nông nghiệp trồng trọt và muộn hơn một chút trong các văn hóa thuộc trung kỳ và hậu kỳ đá mới, việc sản xuất đồ gốm đã đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng trong đời sống con người, từ kinh tế khai thác sang kinh tế sản xuất. Cũng nhờ phương thức sản xuất mới mà con người đã mở rộng không gian sinh tồn, họ đã chinh phục được hai vùng sinh thái là núi, trước núi và ven biển. 15 Thời kỳ này cũng để lại những dấu vết của nghệ thuật như những hiện vật bằng xương có vết khắc hình cá, hình thú và những hình vẽ trên vách hang Đồng Nội, những mảnh thổ hoàng… Tư duy về thời gian vũ trụ được con người thể hiện bằng những hoa văn kí hiệu biểu thị mặt trời như hình tròn, hình chữ… vẽ trên đồ gốm. Thời kỳ này cũng xuất hiện những tín ngưỡng nguyên thủy.
Là cư dân nông nghiệp nên mưa, gió và đặc biệt là mặt trời đã trở thành những thần linh quan trọng đối với con người. Thời Sơ sử Cách đây 4.000 năm, các cộng đồng cư dân từ lưu vực sông Hồng đến lưu vực sông Đồng Nai đã bước vào thời đại kim khí/ thời đại đồ đồng. Thời kỳ này trên lãnh thổ Việt Nam có ba trung tâm văn hóa: - Văn hóa Đông Sơn (miền Bắc) được coi là cốt lõi của người Việt cổ. - Văn hóa Sa Huỳnh (miền Trung) được coi là tiền nhân tố của người Chăm và vương quốc Chămpa.
- Văn hóa Đồng Nai (miền Nam) là một trong những cội nguồn hình thành văn hóa Óc Eo của cư dân thuộc nhóm Mã Lai – Đa Đảo sinh sống vào những thế kỉ sau công nguyên ở vùng Đông và Tây Nam Bộ. Hiện nay văn hóa Óc Eo thường được gắn với vương quốc Phù Nam, một nước tồn tại từ thế kỉ II đến thế kỉ VII ở châu thổ sông Cửu Long. * Văn hóa Đông Sơn - Quá trình hình thành Quá trình hình thành và phát triển của văn hóa Đông Sơn ở miền Bắc là một quá trình hình thành nên cái cốt lõi của người Việt cổ và Nhà nước đầu tiên của người Việt cổ. Quá trình này là một sự phát triển có ý nghĩa nhảy vọt trong lịch sử Việt Nam.
Bởi lẽ, về mặt xã hội sự phát triển từ xã hội công xã nguyên thủy sang xã hội phân hóa giai cấp sơ kỳ, từ bộ lạc đến liên minh bộ lạc, tiến đến hình thành Nhà nước sơ khai là Nhà nước Văn Lang của các vua Hùng, rồi Nhà nước Âu Lạc của An Dương Vương. Về mặt văn hóa thì từ những tiền đề của văn hóa thời Tiền sử đã hình thành nên nền văn minh đầu tiên của người Việt cổ là văn minh sông Hồng – quá trình văn hóa bộ lạc mất dần tính địa phương để hòa chung vào một nền văn hóa thống nhất trên một vùng rộng lớn từ biên giới Việt – Trung cho đến bờ sông Gianh (Quảng Bình) với chủ nhân là một cộng đồng cư dân nhiều thành phần tộc người (54 tộc người) thuộc 4 ngữ hệ lớn: Nam Á, Thái, Tạng – Miến, Nam Đảo. - Thành tựu văn hóa Đông Sơn + Văn hóa tổ chức xã hội Xã hội Đông Sơn là một xã hội đã có phân hóa nhưng chưa sâu sắc, Nhà nước thì mới hình thành. Đơn vị cơ sở của xã hội là công xã nông thôn – một tổ chức mang tính chất vùng địa lý, tập hợp một số gia đình gần gũi nhau cùng chung sống, quan hệ huyết thống dòng họ được duy trì.
Đơn vị kinh tế là gia đình nhỏ. 16 Ở phạm vi quốc gia, ngay từ thời kỳ này đã xác lập thể kết hợp “Nhà – Làng – Nước” mang sắc thái riêng của xã hội truyền thống Việt Nam. Trong đó, làng là đơn vị xã hội – văn hóa giữ vai trò chủ yếu trong sáng tạo, bảo tồn và tái tạo các truyền thống văn hóa. + Văn hóa vật chất Nền kinh tế nông nghiệp lúa nước dùng cày với sức kéo trâu bò phát triển, với sản phẩm chủ yếu là lúa.
Bên cạnh đó là các ngành sản xuất thủ công như luyện kim, chế tạo đồ gốm, thủy tinh, nghề mộc, nghề dệt vải cũng phát triển. Cơ cấu bữa ăn là Cơm – Rau - Cá. Có tục uống nước chè, uống rượu, tục ăn trầu, nhuộm răng, xăm mình… Y phục: sau một thời kỳ dùng vỏ cây làm áo, người Việt cổ tiến tới trồng gai, đay, trồng dâu chăn tằm, ươm tơ, dệt vải lụa. Từ các chất liệu đó, người xưa làm ra khố, váy, yếm, thắt lưng, khăn đội đầu… Nhà ở chủ yếu là nhà sàn có nhiều kiểu dáng, vật dụng sinh hoạt chủ yếu bằng gốm, tre nứa… Phương tiện đi lại là bằng thuyền, bè, mảng… Ngoài ra còn có đi bộ, gánh gồng mang vác trên vai trên lưng, con người cũng biết thuần dưỡng voi để chuyển chở.
Nghề mộc phát triển nên người xưa đã đóng được những thuyền lớn chở được vài chục người, họ còn đóng cả thuyền chiến, thuyền đua… + Văn hóa tinh thần Tín ngưỡng người Đông Sơn chủ yếu liên quan đến nông nghiệp trồng lúa. Đó là hình thái tín ngưỡng sùng bái tự nhiên với tục thờ mặt trời, thờ thần sông, thần biển… Tiếp đến là tín ngưỡng phồn thực biểu hiện ở tục thờ cơ quan sinh dục nam nữ và thờ hành vi giao phối. Tục thờ cúng tổ tiên, sùng bái các anh hùng và thủ lĩnh, tín ngưỡng thờ Thành hoàng… + Văn hóa nghệ thuật Các nghệ thuật âm nhạc, nhảy múa thời Đông Sơn khá phát triển. Nhạc khí phong phú và đa dạng như trống các loại, chiêng, cồng, chuông, sênh, phách, khèn… Nghệ thuật múa gồm có múa hóa trang và múa vũ trang.
Lễ hội là một sinh hoạt quan trọng của cư dân nông nghiệp Đông Sơn. Tính chất của lễ hội là lễ hội làng, thường mở vào mùa xuân và mùa thu, có nội dung cầu mùa, cầu bình an vô sự. Các thần thoại, truyền thuyết cũng hình thành trong thời gian này, biểu hiện tư duy của người Đông Sơn trong sự nhận thức về thế giới với đặc điểm chính là tư duy lưỡng phân. Biểu tượng của văn hóa Đông Sơn, văn minh sông Hồng là trống đồng Đông Sơn.
* Văn hóa Sa Huỳnh - Quá trình hình thành Trung tâm hay đỉnh cao của văn hóa thời đại kim khí Việt Nam ở miền Trung (từ đèo Ngang đến Đồng Nai) được gọi theo tên một địa điểm khảo cổ học ven biển tỉnh Quảng Ngãi, đó là văn hóa Sa Huỳnh. Văn hóa Sa Huỳnh tồn tại từ sơ kỳ thời đại đồng thau (hơn 4.000 năm cách ngày nay) cho tới sơ kỳ thời đại sắt sớm (những thế kỉ 7-6 T.CN tới thế kỉ 1-2 S. Chủ nhân văn hóa Sa Huỳnh có quan hệ cội nguồn với chủ nhân văn hóa Bàu Tró là người tiền Mã Lai – Pôlinêdi 17 và chủ nhân của văn hóa sơ kì đồng thau miền cao nguyên Lâm Đồng là người tiền Môn – Khơme hay tiền Nam Á. Ngoài ra còn có những mối giao lưu rộng rãi với các cư dân kim khí Đông Nam Á hải đảo và lục địa.
Qua đó có thể thấy chủ nhân của nền văn hóa này nói tiếng Nam Đảo hay Malai – Pôlinêdi với nhiều yếu tố Nam Á. - Thành tựu văn hóa Một đặc trưng tiêu biểu của văn hóa Sa Huỳnh là hình thức mai táng bằng chum gốm với nhiều hình dạng như hình cầu, hình trứng, hình trụ… Trong và ngoài chum chứa nhiều đồ tùy táng với các chất liệu đá, thủy tinh, đồng, sắt… Công cụ lao động và vũ khí chủ yếu bằng đồng, sắt như dao, rựa, giáo, mai, liềm, thuổng, kiếm, qua… Cùng với việc đạt đến trình độ cao của kĩ thuật chế tạo đồ sắt, cư dân văn hóa Sa Huỳnh còn đạt đến bước phát triển cao với các nghề se sợi, dệt vải, chế tạo đồ gốm, làm đồ trang sức. Nền kinh tế của cư dân văn hóa Sa Huỳnh là nền kinh tế đa thành phần. Bên cạnh làm nông họ còn biết khai thác những nguồn lợi từ biển, rừng, biết phát triển các nghề thủ công, mở rộng quan hệ buôn bán với các cư dân trong khu vực Đông Nam Á lục địa và hải đảo, và rộng hơn là với Ấn Độ, với Trung Hoa.
* Văn hóa Đồng Nai Cư dân Đồng Nai có mặt ở vùng đồng bằng Nam Bộ cách ngày nay khoảng 4.000 với không gian sinh sống gắn chặt với vùng đất cửa sông, giáp biển. Các cư dân ấy là lớp người đầu tiên đến lập nghiệp ở vùng đất này và xây dựng nên văn hóa Đồng Nai, đặt nền móng cho thời kì chinh phục vùng châu thổ sông Cửu Long, tức thời kì của văn hóa Óc Eo vào những thế kỉ đầu công nguyên sau này. Hoạt động kinh tế chủ yếu của cư dân Đồng Nai là nghề nông và nghề thủ công. Trong trồng trọt, lúa là loại cây lương thực chính.
Người Đồng Nai còn khai thác các sản vật rừng và săn bắn. Nghề thủ công của họ khá phát triển, thể hiện ở chế tác các đồ trang sức bằng đá, thủy tinh, sắt, đồng… Đời sống tinh thần của cư dân Đồng Nai còn nặng tín ngưỡng bái vật giáo được thể hiện qua nghệ thuật tạo hình: các di vật như tượng lợn rừng, rùa bằng sa thạch, tượng chó săn mồi bằng đồng… Ngoài ra còn phải kể tới sưu tập đàn đá hơn 60 thanh.