SỞ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH Trƣờng THPT chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định --------------------- SÁNG KIẾN DỰ THI CẤP TỈNH BÁO CÁO SÁNG KIẾN CHUYÊN ĐỀ Văn hóa Việt Nam Thế kỷ X-XIX - Những thành tựu - Sự giao thoa với văn hóa nhân loại - Kết hợp giảng dạy lịch sử địa phƣơng Mục tiêu: - Dạy học sinh chuyên Sử - Bồi dưỡng học sinh giỏi - Giảng dạy Lịch sử địa phương Tác giả: Trần Thị Kim Oanh Trình độ chuyên môn: Cử nhân Lịch sử Chức vụ: Tổ trƣởng tổ Sử - Địa – GDCD Nơi công tác : Trƣờng THPT chuyên Lê Hồng Phong – Nam Định Nam định, tháng 5 năm 2015 1 skkn THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: CHUYÊN ĐỀ Văn hóa Việt Nam TK X-XIX - Những thành tựu - Sự giao thoa với văn hóa nhân loại - Kết hợp giảng dạy lịch sử địa phƣơng ( Phần lịch sử Việt Nam - Lớp 10 Chuyên ) Mục tiêu: -Dạy học sinh chuyên Sử -Bồi dưỡng học sinh giỏi - Giảng dạy Lịch sử địa phương 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến : Giảng dạy cho học sinh khối chuyên Sử dự thi học sinh giỏi Tỉnh, Quốc gia Giảng dạy Lịch sử địa phương cho học sinh chuyên và đại trà khối 10, 11 3. Thời gian áp dụng sáng kiến : Từ năm 2007 đến nay 4.
Tác giả : Họ và tên : Trần Thị Kim Oanh Năm sinh : 1964 Nơi thường trú : 11B/ 9 Gốc Mít 1 Vị Xuyên – Nam Định Trình độ chuyên môn : Cử nhân sư phạm Lịch sử Chức vụ công tác : Nhóm trưởng nhóm Sử Tổ trưởng tổ Sử - Đia – GDCD Nơi làm việc : Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong Địa chỉ liên hệ : Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong 76 Vị Xuyên – Nam định 2 skkn Điện thoại : 0902141696 5. Đồng tác giả : Không 6. Đơn vị áp dụng sáng kiến: Tên đơn vị : Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong Địa chỉ : 76 Vị xuyên – Nam định Điện thoại : 0350 3640297 3 skkn I. Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến: Đã nhiều năm nay, trường THPT chuyên Lê Hồng Phong có nhiều học sinh tham dự thi học sinh giỏi Tỉnh và Quốc gia đạt nhiều giải cao, tỉ lệ đỗ vào các trường Đại học cũng cao.
Môn Lịch sử cũng có sự đóng góp sức mình trong đó. Bộ giáo dục chưa có giáo trình riêng cho môn chuyên. Vì vậy giáo viên dạy chuyên phải tự biên soạn bài giảng cho lớp chuyên dựa trên tài liệu sách giáo khoa Nâng cao và các tài liệu tham khảo. Là một giáo viên dạy môn Lịch sử của trường, tôi luôn có ý thức giảng dạy tốt và góp phần viết chuyên đề để giảng dạy cho học sinh chuyên Tôi xin trình bày một số kinh nghiệm, ý kiến riêng thông qua việc giảng dạy chuyên đề Văn hóa Việt Nam TK X-XIX – những thành tựu và sự giao thoa với văn hóa nhân loại, kết hợp giảng dạy Lịch sử địa phƣơng ( Phần lịch sử Việt Nam - Lớp 10 Chuyên ) để phục vụ cho vấn đề dạy môn chuyên và bồi dưỡng học sinh giỏi thi Tỉnh , Quốc gia, giảng dạy Lịch sử địa phương II.
Thực trạng trƣớc khi tạo ra sáng kiến : Bản thân và các đồng nghiệp tham gia bồi dưỡng Học sinh giỏi, luyện thi Đại học môn Lịch sử thấy đây là 1 việc làm khó khăn, cần có sự nỗ lực, kiên trì của cả thầy và trò. Phần kiến thức và kĩ năng đều do các giáo viên tự tập hợp và biên soạn để bồi dưỡng cho học sinh. Tôi thấy việc soạn giảng chuyên đề để bồi dưỡng HSG và ôn luyện thi Đại học là 1 việc làm hết sức cần thiết. Để học sinh nắm vững kiến thức hơn và vận dụng vào quá trình làm bài một cánh nhuần nhuyễn, tôi soạn chuyên đề này dưới hình thức hệ thống các vấn đề và những câu hỏi, bài tập, kết hợp với liên hệ thực tế ở địa phương III.
Các giải pháp thực hiện: 4 skkn Chuyên đề này gồm các vấn đề sau : - Thành tựu văn hóa TK X – XIX - Sự giao thoa với văn hóa nhân loại - Liên hệ sử địa phƣơng 1. Về mặt kiến thức: Giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh hiểu được những điều cơ bản nhất về: Văn hóa, văn minh, những thành tựu … 2. Về mặt tƣ tƣởng: Trên cơ sở kiến thức cụ thể của chuyên đề, giáo viên giáo dục cho học sinh: Thấy giá trị của văn hóa truyền thống, nền Văn minh Đại Việt. Học sinh thêm yêu và tự hào về dân tộc, đất nước, quê hương mình Liên hệ ngày nay: Sự nghiệp của thế hệ trẻ chúng ta là xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN.
Phải biết vượt khó học tập và vươn lên. Thế hệ trẻ giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc. Hòa nhập không hòa tan 3. Về mặt phƣơng pháp: Thông qua các giờ giảng trên lớp của giáo viên và việc học bài, làm bài tập của học sinh, học sinh phải biết: Chọn lọc sự kiện tiêu biểu trong hệ thống các sự kiện.
Biết hệ thống sự kiện. Biết so sánh, phân tích, đánh giá sự kiện để tìm ra bản chất của sự kiện. Trên cơ sở đó giáo viên rèn kỹ năng làm bài cho học sinh ( ra đề, yêu cầu phân tích để thấy được trọng tâm của đề, phạm vi kiến thức, phân bố thời gian cho hợp lý, định lượng kiến thức cần dùng .) Học sinh phải biết phân tích các vấn đề lịch sử để đánh giá, kết luận. Phải biết so sánh, liên hệ 4.
Tổng hợp kiến thức, rèn kĩ năng và luyện đề. 5 skkn Trên cơ sở kiến thức cơ bản, tôi nâng lên thành những vấn đề mang tính chất khái quát để giúp học sinh giải quyết những đề thi của học sinh trong các kì thi Học sinh giỏi. Tôi hướng dẫn cho học sinh phân tích đề, lập dàn ý và tập viết. Quá trình cho học sinh làm bài tập là quá trình củng cố kiến thức và rèn kỹ năng cho học sinh.
Công việc này đối với học sinh giỏi là rất quan trọng vì yêu cầu viết đối với các em rất cao. Hƣớng dẫn học sinh mở rộng kiến thức và liên hệ. Từ những vấn đề trong phạm vi của chuyên đề, tôi hướng dẫn học sinh mở rộng, liên kết với các phần kiến thức khác có liên quan. Bài tập củng cố kiến thức, phát huy vai trò của học sinh.
Ngoài dạng bài tập viết, tôi còn tổ chức cho học sinh hội thảo. Hằng năm chúng tôi kết hợp với PHHS tổ chức cho học sinh đi tham quan trải nghiệm những di tích lịch sử. Sau đó hướng dẫn học sinh viết thu hoạch và hội thảo. Sau đây tôi trình bày phần nội dung : Hệ thống kiến thức theo chuyên đề: THÀNH TỰU CỦA NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ X ĐẾN XIX Năm 938, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, lên ngôi vua, mở ra thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài cho dân tộc, đồng thời khôi phục lại nền văn hóa Việt cổ từ thời Văn Lang - Âu Lạc.
Nói như sử cũ “nối lại quốc thống của Hùng Vương”.000 năm Bắc thuộc tiếp biến văn hóa Hán cùng với sự tiếp biến nền văn hóa Ấn Độ từ ngàn xưa giống như bao quốc gia Đông Nam Á khác, cùng với các nền văn hóa bên cạnh khác như: Chăm Pa, Chân Lạp, 6 skkn … Một nghìn năm lịch sử trôi qua (thế kỷ X - XIX) nhân dân ta với sự cần cù trong lao động, sự hăng hái tiếp thu học hỏi cùng với sự sáng tạo, nhân dân ta không chỉ gặt hái được những thành tựu trong chính trị, thành tựu trong kinh tế, đánh thắng bao kẻ thù hùng mạnh mà còn xây dựng được một nền văn hóa rực rỡ với bao thành tựu sống mãi cùng dân tộc. Đầu tiên trong lĩnh vực tôn giáo thì chúng ta phải kể đến sự tồn tại và cùng phát triển rực rỡ của ba tôn giáo du nhập từ bên ngoài là Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo và các tín ngưỡng dân gian như tục thờ Mẫu, thờ ông bà, tổ tiên, những người có công với làng với nước. Từ thời kỳ đầu của chế độ phong kiến dưới các triều đại Đinh – Tiền Lê, Lý, Trần thì Phật giáo rất phát triển và được coi là Quốc giáo. Hầu hết các vua Lý (Thái Tổ, Thái Tông, Thánh tông, Nhân Tông, Thần Tông) đều sùng bái Phật, sai xây dựng Chùa, Tháp, tô tượng, đúc chuông, dịch kinh Phật, soạn sách Phật, … Như năm 1031 vua Lý xuống chiếu phát tiền, thuê thợ làm chùa quán ở các hương ấp, tất cả 150 chỗ.
Nhiều quý tộc, tôn thất đã quy y đầu Phật. Đặc biệt vua Trần Nhân Tông đã từ bỏ ngai vàng đi tu ở Yên Tử lập nên thiền phái Trúc Lâm và đã được các đệ tử của người là Pháp Loa và Huyền Quang phát triển .Thiền phái này lấy sự gắn liền giữa „tâm‟‟ và „phật‟‟, phật ở trong lòng làm hạt nhân. Khắp nơi, nhiều chùa chiền đã được xây dựng như các chùa Diên Hựu (Một Cột), Phật Tích, Long Đội, Báo Thiên, Bối Khê, Thái Lạc, Phổ Minh, cụm quần thể chùa tháp ở Yên Tử. Phần lớn các công trình này đã được nhà nước tài trợ.
Đông đảo quần chúng bình dân trong làng xã nô nức theo đạo Phật. Lê Quát sống vào cuối đời Trần, nhận xét :”Từ trong kinh thành cho đến ngoài châu phủ, kể cả những nơi thôn cùng ngõ hẻm, không bảo mà người ta cứ theo, không hẹn mà người ta cứ tin, hễ nơi nào có nhà ở là ắt có chùa chiền… Dân chúng quá nửa nước là sư…”. Thời Lý – Trần, có rất nhiều vị sư tăng nổi tiếng trong cả nước, có uy tín và địa vị chính trị- xã hội. Có thể kể các nhà sư Vạn Hạnh, Mãn Giác, Viên Thông, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, Giác Hải, Pháp Loa Huyền Quang … 7 skkn Nho giáo ra đời ở Trung Quốc, do Khổng Tử sáng lập và làm công cụ thống trị nhân dân về tư tưởng của phong kiến phương Bắc.
Du nhập vào nước ta từ thời Bắc thuộc và đã được nhà Lý chính thức thừa nhận khi cho xây dựng Văn Miếu thờ Khổng Tử. Từ đó Nho giáo đã dần dần phát triển và trong sự lụi tàn của Phật giáo nước ta cuối thời Lý Trần thì Nho giáo đã nhanh chóng phát triển. Đến thời Lê sơ nhờ các chính sách hạn chế Phật giáo đẩy cao Nho học nên Nho giáo đã vươn lên vị trí độc tôn trong xã hội, là tư tưởng chính thống của giai cấp thống trị. Giáo dục được đẩy mạnh nhằm đề cao Nho học.