Chương I đã cố gắng dựng lên một bức tranh có khả năng bao quát trên nhiều bình diện về sức mạnh mềm văn hóa trong tầm nhìn chiến lược, cách thức sử dụng thành công hoặc không thành công của các quốc gia trong quan hệ quốc tế. Hàn Quốc - quốc gia đã tạo nên kỳ tích ngoạn mục về việc tái định vị thương hiệu quốc gia từ sức mạnh mềm văn hóa dựa trên những tính toán quyết đoán về sự chuyển hóa nguồn tài nguyên mềm văn hóa thành sức mạnh mềm văn hóa trong một bối cảnh lịch sử rất ngặt nghèo là một kinh nghiệm hữu ích để Việt Nam tham khảo. Tiếp đến việc tìm hiểu kinh nghiệm phát huy sức mạnh mềm văn hóa của hai cường quốc lớn có khả năng quyết định đến chính trị toàn cầu, đồng thời tồn tại sự cạnh tranh gay gắt về quyền lực cứng hai chủ thể trong tương tác quyền lực với các chủ thể khác đó là Mỹ và Trung Quốc đã chứa đựng trong đó nhiều vấn đề như lợi thế của nước lớn trên sân chơi sức mạnh mềm văn hóa, cũng như những rủi ro có tính hai mặt khi công cụ truyền dẫn sức mạnh mềm văn hóa gây lo ngại về sự can thiệp quá sâu của bàn tay chính phủ. Bên cạnh đó, các kinh nghiệm của Nga và Ấn Độ cũng cho thấy những chiều cạnh khác nhau về các cấp độ sử dụng sức mạnh mềm văn hóa trong chiến lược tổng thể quốc gia của các cường quốc khu vực.
12 LỜI GIỚI THIỆU Ở một góc nhìn khác, cuốn sách cũng dành sự quan tâm sâu sắc tới các quốc gia có vị thế đặc biệt, dù đứng cạnh nước lớn của khu vực với các đe dọa an ninh thường trực nhưng vẫn có sức mạnh mềm đáng kể có sức thu hút với thế giới gồm: Canada, Israel và New Zealand để tìm ra những bài học kinh nghiệm phù hợp với Việt Nam - một quốc gia nhỏ có lịch sử lâu đời với nhiều thăng trầm trong quan hệ với Trung Quốc. Đặc biệt, các phân tích tập trung vào kinh nghiệm của một số nước châu Á có nhiều điểm tương đồng về văn hóa với Việt Nam như Nhật Bản, Singapore nhưng đã trở thành các cường quốc lớn về sức mạnh mềm văn hóa ở khu vực châu Á và đạt được nhiều thành công trong phát huy sức mạnh mềm mang tính bền vững. Với cách tiếp cận vấn đề như vậy, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra một thực tế là sức mạnh mềm nói chung và sức mạnh mềm văn hóa nói riêng ngày càng trở thành chương trình nghị sự trọng tâm của rất nhiều quốc gia trên thế giới với nhiều mức độ phát triển, ảnh hưởng chính trị khác nhau bao gồm cả nước lớn, nước nhỏ và nước trung bình. Những phân tích cụ thể kinh nghiệm của mỗi quốc gia cũng như tóm lược các bài học thành công hay thất bại cho thấy rằng, để xây dựng mô hình sức mạnh mềm văn hóa, mỗi quốc gia cần phải: 1) Tập trung phát triển nguồn tài nguyên sức mạnh mềm để nó ngày càng gia tăng tính thu hút, hấp dẫn, thuyết phục các chủ thể khác; 13 SỨC MẠNH MỀM VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 2) Trong các nguồn tài nguyên văn hóa, có thể chú trọng lựa chọn các thành tố thuộc cả văn hóa hàn lâm và văn hóa đại chúng cùng các nguồn tài nguyên hấp dẫn hữu hình và vô hình khác để chuyển hóa thành sức mạnh mềm văn hóa thông qua các kênh truyền dẫn; 3) Đặc biệt chú trọng kênh truyền dẫn các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo.
Các quốc gia muốn có tầm ảnh hưởng rộng rãi đối với công chúng nước ngoài đều phải có sự đầu tư phát triển ngành công nghiệp văn hóa sáng tạo, chú trọng việc tạo ra các giá trị mới trong âm nhạc đại chúng, phim ảnh, ẩm thực, định hình các xu hướng mới,.; 4) Sức mạnh mềm văn hóa không thể đứng đơn lẻ mà cần phải phối hợp với các nguồn lực hữu hình và vô hình khác để có thể thu hút các đối tượng chủ thể khác nhau từ giới tinh hoa, nhóm lợi ích cho tới công chúng. Bên cạnh đó, phải có được cơ chế đánh giá thực sự hiệu quả và khả năng liên tục thích ứng trước những xu hướng mới, những thay đổi mới trên thị trường. Tại Chương III, kết quả nghiên cứu và khảo sát thực tiễn trong cuốn sách dù chưa toàn diện song đã mang đến một cách hình dung rõ hơn về thực trạng sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Nhìn chung, Việt Nam đang ở giai đoạn đầu tiên của lộ trình xây dựng sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam và hiện đang nỗ lực ở bước hình thành khung chính sách phát huy sức mạnh mềm văn hóa.
Mặc dù đang ở giai đoạn đầu, đầy khó khăn, 14 LỜI GIỚI THIỆU thách thức, nhưng về cơ bản, Việt Nam đã có một số bước tiến đáng ghi nhận trong việc hấp dẫn, thu hút thế giới đến với Việt Nam thông qua du lịch văn hóa và từng bước định hình hình ảnh quốc gia, văn hóa, con người Việt Nam một cách tích cực trong quan hệ quốc tế. Trong đó, sự phối hợp của các kênh truyền dẫn đã biến di sản văn hóa vật thể, phi vật thể và di sản thiên nhiên trở thành sức hấp dẫn, thu hút của sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam. Công tác quản lý, bảo tồn, tôn vinh, phát huy và quảng bá các thành tố sức mạnh mềm văn hóa nằm trong nguồn tài nguyên di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, di sản thiên nhiên của Việt Nam trong thập kỷ 2010 nhận được sự quan tâm, góp sức của cộng đồng trong nước và nhận được sự đánh giá cao của cộng đồng quốc tế thông qua sự công nhận của các tổ chức văn hóa quốc tế và xu hướng gia tăng du khách quốc tế đến Việt Nam. Mặt khác, sự phối hợp giữa các kênh truyền thông, ngoại giao văn hóa và một số ngành công nghiệp văn hóa đã từng bước tạo nên sức lan tỏa của hình ảnh quốc gia, thương hiệu địa phương và bản sắc Việt Nam.
Đặc biệt, trong Chương III, các tác giả đã chỉ ra, trong cuộc chiến phòng và chống đại dịch Covid-19, Việt Nam nổi lên như một “hình mẫu toàn cầu” thuyết phục về kiểm soát đại dịch Covid-19 dựa trên sự đồng lòng đoàn kết của cả dân tộc. Ngoài những nỗ lực kiểm soát dịch Covid-19 trên phạm vi cả nước, Việt Nam còn tích cực tham gia đóng góp công 15 SỨC MẠNH MỀM VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ sức của mình vào công cuộc ngăn ngừa đại dịch Covid-19 trên phạm vi toàn cầu thông qua việc sẵn sàng chia sẻ các bài học kinh nghiệm về tổ chức cách ly, ngăn ngừa, điều trị dịch Covid-19 cũng như thông tin về bản đồ gen của vi rút Covid-19 ở Việt Nam cho đại diện của Tổ chức Y tế thế giới. Không chỉ chia sẻ kinh nghiệm về phòng và chống dịch Covid-19, Chính phủ Việt Nam còn chủ động chia sẻ tình đoàn kết quốc tế thông qua hợp tác đa phương hỗ trợ trang thiết bị y tế thiết yếu cho các quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của đại dịch Covid-19. Những kết quả nghiên cứu đã cho thấy, trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam đang là một thành viên rất tích cực, đáng tin cậy và có trách nhiệm cao với cộng đồng quốc tế trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19, mà quan trọng hơn nó còn khẳng định niềm tin ngày càng tăng của cộng đồng quốc tế vào năng lực quản trị quốc gia của Chính phủ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; vào những giá trị cốt lõi đầy tính thuyết phục của dân tộc qua đó phát huy sức mạnh mềm văn hóa và tạo thêm nhiều cơ hội mới giúp nâng cao vai trò, uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.
Bên cạnh việc nhận diện những thành công, cuốn sách còn chỉ ra giới hạn của sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Trong đó, công nghiệp văn hóa vốn được xem là một trong những kênh truyền dẫn sức 16 LỜI GIỚI THIỆU mạnh mềm văn hóa mang tính chiến lược của nhiều quốc gia trong cạnh tranh quốc tế, thì ở Việt Nam hiện nay đây lại là liên kết yếu trong chuỗi liên kết các những kênh truyền dẫn của sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam. Mặc dù năm 2018, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 3,61% GDP của cả nước, nhưng nhìn một cách tổng thể, điều này chưa phản ánh được thực lực của sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam nếu khai thác hiệu quả tối đa ở kênh truyền dẫn này. Trong thời gian qua, sự thay đổi tư duy, những đổi mới về phương thức hoạt động, khuyến khích đầu tư xã hội đã từng bước tạo sự bứt phá ở một số ngành công nghiệp văn hóa như du lịch văn hóa, điện ảnh, thời trang để trở thành các ngành có đóng góp tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế, lan tỏa hình ảnh quốc gia ra thế giới và thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
Nhưng đối với một số ngành, việc chuyển đổi từ tài nguyên mềm thông qua lựa chọn các thành tố phù hợp tạo nên chuỗi giá trị sáng tạo, sản xuất sản phẩm và dịch vụ văn hóa có khả năng thu hút, hấp dẫn, lôi cuốn thị trường văn hóa trong và ngoài nước như một dạng chuyển hóa thành công của sức mạnh mềm văn hóa chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Những nguyên nhân và thách thức dẫn đến tình trạng trên phần lớn nhìn nhận ở tư duy xem nhẹ việc coi công nghiệp văn hóa là một lĩnh vực đầu tư, việc mở cửa cho khu vực tư nhân, hoặc hợp tác công - tư trong các ngành công nghiệp văn hóa còn 17 SỨC MẠNH MỀM VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ nhiều rào cản. Đặc biệt một thách thức bao trùm lên các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam là hệ thống quản lý phân tách khó mang lại một phương thức tiếp cận tổng thể để cơ chế chuyển hóa sức mạnh mềm văn hóa vận hành hiệu quả. Đến thời điểm hiện tại, con đường vươn tầm thương hiệu, định vị sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam ở các sản phẩm - dịch vụ công nghiệp văn hóa ra thế giới còn rất khó khăn đối với Việt Nam và chúng ta chưa có nhiều thương hiệu đủ sức vươn ra chiếm lĩnh thị trường quốc tế.