đặt vấn đề mới là những diễn đàn về văn hóa trên các báo, đài, các kênh truyền hình, các website. và đặc biệt là các báo, tạp chí chuyên về văn hóa. Sự phát triển phong phú và đa dạng cả về số lượng và chất lượng của các thể loại báo hình và báo ảnh về mọi lĩnh vực nói chung và về văn hóa nói riêng thể hiện rất rõ sự phát triển ngày càng cao về trình độ chuyên môn của những nghiên cứu văn hóa, nhu cầu đào sâu trong suy nghĩ và tự do trong tư tưởng của các học giả nghiên cứu về văn hóa. Bên cạnh các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học là các sách giáo khoa cung cấp kiến thức nền về văn hóa.
Có thể kể đến Giáo trình Co sở văn hóa Việt Nam của GS. Trần Ngọc Thêm, giáo trình cùng tên của tap thé tác giả do GS. Trần Quốc Vượng chủ biên được NXB. Giáo dục xuất ban và tái bản nhiều lần.
Cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam của GS. Trần Ngọc Thêm thực ra là ban rút gọn chuyên luận khoa học Tim về bản sắc văn hóa Việt Nam, cái nhìn hệ thống loại hình. Theo tác giả Cơ sở văn hóa quan tâm đến những tri thức chắt lọc, cơ bản, cần thiết cho việc hiểu một nền văn hóa, đi tìm những đặc trưng cơ bản, quy luật hình thành và phát triển của chúng. Chu Xuân Diên cho rằng Co sở văn hóa Việt Nam của GS.
Trần Ngọc Thêm đã ứng dụng triệt để và nhất quán cách tiếp cận hệ thống để trong khi chủ yếu theo nguyên tắc đồng đại, nguyên tắc loại hình mà vẫn không loại trừ nguyên tắc lịch đại, nguyên tắc lịch sử. Tạ Văn Thành cũng đánh giá cao sự vận dụng nhất quán và thành công phương pháp hệ thống cấu trúc của tác giả. Trong đó văn hóa Việt Nam được xem xét trong hệ thống văn hóa thế giới, văn hóa nông nghiệp, văn hóa phương Đông, trong sự so sánh giữa văn hóa gốc nông nghiệp với văn hóa gốc du mục, từ đó đưa ra những nét đặc thù của nó. Theo đó, trở về cội nguồn có thể xác định diện mạo văn hóa Việt Nam nằm chung trong số một nửa thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp, từ đó có thể xác định các thành tố cơ bản và mối liên hệ hữu cơ giữa chúng trong cấu trúc hệ thống văn hóa Việt Nam toàn vẹn.
Đây được đánh giá là một đóng góp của GS. Trần Ngọc Thêm song GS. Lê Thành Khôi cho rằng tìm về gốc thôi chưa đủ, vì những vấn đề cơ bản của văn hóa Việt Nam chắc chắn không trùng khít hoàn toàn với cội nguồn văn hóa Việt Nam. Cơ sở văn hóa Việt Nam do GS.
Trần Quốc Vượng chủ biên được trình bày theo một logic khoa học chặt chẽ, đi từ việc trang bị những định nghĩa, khái niệm về văn hóa học nói chung đến việc định vị không-thời gian văn hóa Việt 10 Nam như một tổng thể gồm nhiều thành phần. Tác giả đã đưa ra rất nhiều khái niệm như: xã quyển, nhân tác quyển, môi trường văn hóa, di truyền văn hóa, nhập thân văn hóa, phổ xã hội, trường hoạt động cá nhân, tiếp xúc và giao lưu văn hóa, đan xen văn hóa tự nguyện, đan xen văn hóa cưỡng bức, mô hình văn hóa, thành tố văn hóa, cấu trúc, các thiết chế và chức năng của văn hóa. Song tác giả chưa chỉ ra được khái niệm công cụ chủ yếu để nghiên cứu văn hóa Việt Nam, phần lý luận chung không thực sự ăn nhập với phần sau của nó. Ngoài ra, dịch và biên soạn sách nước ngoài cũng như những tư liệu của cha ông để lại là một việc làm thường xuyên, đã và đang đưa lại những kết quả không nhỏ của/cho các cơ quan, các học giả quan tâm tới lĩnh vực văn hóa.
Về tên tuổi các học giả văn hóa học Việt Nam có thể kể đến rất nhiều các nhà khoa học như Vũ Khiêu với Góp phần tìm hiểu Cách mạng tư tưởng và văn hóa - Tác phẩm đã được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh; Kim Định với Nguồn gốc văn hóa Việt Nam do NXB. Nguồn sáng xuất bản năm 1973; GS. Trần Văn Giàu với Giá trị tinh than truyền thống của dân tộc Việt Nam do NXB. Khoa học Xã hội phát hành; Nguyễn Đăng Thục với Văn hóa Việt Nam với Đông Nam Á; Hồ Liên với Một hướng tiếp cận văn hóa Việt Nam do NXB.
Văn học ấn hành năm 2008; TS. Nguyễn Huy Hoàng với Mấy vấn dé triết học văn hóa do Viện Văn hóa và NXB. Văn hóa Thông tin xuất ban năm 2001; PGS. Hồ Sĩ Quý với Tìm hiểu về văn hóa và văn minh, NXB.
Chính trị Quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 1998, Về giá trị châu Á (The value and Asian values), NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2005. Đặc biệt, nói đến ngành văn hóa học Việt Nam không thể không kể đến tên tuổi PGS. Phan Ngọc và GS.
Trần Quốc Vượng - những con người đáng kính đã để tâm, để trí, để lại dấu chân của mình trên con đường nghiên cứu văn hóa Việt Nam. Những đóng góp quan trọng của PGS. Phan Ngọc được thể hiện trong một loạt các công trình nghiên cứu của ông, tiêu biểu là các tác phẩm như: Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới thuộc Chương trình KX.06 do Viện nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia công bố và đã được NXB. Văn hóa Thông tin ấn hành; Bản sắc văn hóa Việt Nam do NXB.
Văn hóa Thông tin ấn hành năm 1998; Thử xét văn hóa - văn học bằng ngôn ngữ học do NXB. Thanh niên công bố năm 2000. 11 Không phủ nhận giá trị của những định nghĩa, khái niệm mang tính “tỉnh thần luận”, song mong muốn đổi mới văn hóa, đổi mới đất nước, đổi mới thân phận người lao động, ông nhấn mạnh cách nhìn văn hóa ở khía cạnh phát triển kinh tế. Theo ông, thao tác luận chính là sự đóng góp trực tiếp hơn, thiết thực hơn cho việc giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra.
Và trong khi những nhà nghiên cứu ở nước ta rất hiếm người đi theo con đường lập thuyết thì PGS. Phan Ngọc đã dũng cảm khai mở và đi trên con đường này, con đường xây dựng hệ thống các khái niệm công cụ, các phương pháp nghiên cứu và các hướng tiếp cận. Ông luôn luôn nghiên cứu văn hóa Việt Nam trong mối quan hệ, trong sự so sánh và đối chiếu với văn hóa Trung Hoa, văn hóa Pháp. Do đó, những công trình nghiên cứu của Phan Ngọc rất có giá trị về lý luận và xoay quanh tâm điểm là thực tiễn.
Xuất phát từ Tâm thức (mentality), Phan Ngọc đem đến cho văn hóa học Việt Nam các khái niệm: (kiểu) lựa chọn, độ khúc xạ (refraction), nghệ thuật Bricolage (lắp ghép, dung hóa), vượt gop. Theo ông, (kiểu) lựa chọn mang tính cá biệt. Mỗi thể cộng đồng có một (kiểu) lựa chọn riêng biểu hiện thành một lối sống riêng không giống các thể cộng đồng khác mà nguồn gốc sâu xa chính là sự khác nhau kéo dài hàng ngàn năm trong chính đời sống vật chất, tinh thân và xã hội của các cộng đồng. Từ ngay trong môi trường sống, môi trường thiên nhiên, môi trường xã hội hàng ngàn năm, từ sự khác nhau trong tâm thức, trong (kiểu) lựa chọn quy định một độ lệch trong tiếp cận văn hóa.
Bất cứ một tư tưởng, một nét văn hóa nào khi gia nhập vào một cộng đồng mới đều được sàng lọc qua tâm thức của cộng đồng đó, do đó bao giờ cũng có một độ lệch. Vay mượn một khái niệm trong vật lý học, PGS. Phan Ngọc gọi đó là hiện tượng khúc xạ. Theo ông, “Ai thực hiện được sự khúc xạ thành công nhất, người ấy thắng” [27; 19].
Theo ông những nhân tố gia nhập vào văn hóa Việt Nam ít nhiều đều được khúc xạ qua bốn lăng kính: Thứ nhất, là hệ tư tưởng Tổ quốc luận; Thứ hai, là cơ cấu làng xã; Thứ ba, là cơ ting văn hóa Dong A; Thứ tư, là xuất phát từ vị trí địa lý của một nước nhỏ bên cạnh một nước lớn đầy tham vọng bành trướng, bá quyền. Kèm theo khái niệm “độ khúc xạ” Phan Ngọc còn nói tới nghệ thuật Bricolage của người Việt. Rất nhiều người thừa nhận giao lưu, đan xen, hỗn dung, tiếp biến là những đặc tính của mọi nền văn hóa và đối với văn hóa Việt Nam đó là những nét nổi trội, thậm chí J.Frây đã dùng chữ “không chối từ” (non-refus) để nói 12 về văn hóa Việt Nam; song Phan Ngọc là người chỉ ra được thực chất văn hóa Việt Nam là bricolage, sáng tạo chủ yếu của người Việt Nam chủ yếu là lắp ghép, dung hóa. Ông cho rằng: “Người Việt Nam là bậc thay về nghệ thuật bricolage” (Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới) - [Dẫn theo 21; 257] - đó là nghệ thuật kết hợp, chắp nối từ nhiều gốc rất khác nhau tạo nên một thể thống nhất hữu cơ kỳ diệu.
Và sự khúc xạ thành công, nghệ thuật bricolage tài tình là thể hiện ở sự vượt gộp (depassement). “Vượt gộp” được ông dịch từ khái niệm “auf-heben” của Đức hay “dépassement” của Pháp, có nghĩa là tiếp thu cái mới nhưng đổi mới được nó trên cơ sở một cái cũ cũng đã được đổi mới cho thích hợp với hoàn cảnh mới. Theo ông, truyền thống văn hóa Việt Nam là truyền thống vượt gộp. Và hai nhà văn hóa lớn của đất nước là hai người đã thực hiện thành công nguyên lý này, đó là: Nguyễn Trãi - Người đã vượt gộp cả Nho giáo và truyền thống văn hóa dân tộc; và Hồ Chí Minh - Người đã vượt gộp cả Chủ nghĩa Mac-Lênin và truyền thống văn hóa dân tộc.
Nhưng mọi sự khúc xa, bricolage hay vượt gop đều diễn ra trên cơ sở nhu cầu tâm thức của con người Việt Nam, được quy định bởi nhân cách Việt Nam. Phan Ngọc, người Việt Nam là con người bổn phận, có bốn yếu tố tạo thành nhân cách con người Việt Nam: Tổ quốc (Fatherland), Gia đình (Family), Thân phận (Fate) và Diện mạo (Face). Tuy quan niệm của PGS. Phan Ngọc không hoàn toàn mới mẻ, xa lạ trong giới nghiên cứu song đóng góp của ông chính là việc định danh khái niệm, góp phần định hình cơ sở cho sự đổi mới và phát triển.
Khác với PGS. Phan Ngọc, GS. Trần Quốc Vượng đến với văn hóa học từ lịch sử, từ khảo cổ học.