Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Văn hóa và việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc giữ vị trí trọng yếu trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Ngay từ bản Đề cương văn hoá Việt Nam năm 1943 do Tổng Bí thư Trường Chinh soạn thảo, văn hóa đã được xác định là một trong ba mặt trận cách mạng bên cạnh chính trị và kinh tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định văn hóa "phải ở trong kinh tế và chính trị" và "văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi". Việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc có vai trò khơi dậy sức mạnh nội sinh, củng cố ý thức tự tôn dân tộc, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, nâng cao nhận thức cộng đồng và quảng bá giá trị dân tộc ra thế giới.

Tỉnh Sơn La là địa bàn miền núi Tây Bắc, nơi cư trú của 12 dân tộc anh em với hệ thống di sản phong phú (89 di tích văn hóa vật thể, 12 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, Nghệ thuật Xòe Thái được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, bản du lịch cộng đồng Ngọc Chiến thuộc 83 sản phẩm OCOP của tỉnh). Tuy nhiên, thực tiễn tại địa phương đang bộc lộ nhiều bất cập: một số nghi lễ và lễ hội truyền thống bị thất truyền; tồn tại tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống; kinh phí đầu tư và nguồn nhân lực văn hóa chất lượng cao còn thiếu hụt; chưa có bản du lịch nào đủ điều kiện công nhận điểm du lịch; sản phẩm du lịch chưa phát huy đầy đủ bản sắc; văn hóa truyền thống của đồng bào thiểu số đứng trước nguy cơ mai một do biến đổi xã hội và đô thị hóa.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ rõ: Tại Sơn La chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về vấn đề giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh dưới góc độ chuyên ngành Hồ Chí Minh học.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Làm rõ nội dung, giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; phân tích thực trạng công tác này tại tỉnh Sơn La hiện nay; từ đó đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp tiếp tục giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn cách mạng mới.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 4 nhiệm vụ được đánh số theo văn bản):
    1. Tiến hành tổng quan nghiên cứu về chủ đề luận án.
    2. Hệ thống hóa các nội dung và giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
    3. Khảo sát, điều tra và phân tích thực trạng giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tại tỉnh Sơn La; xác định những vấn đề chưa đáp ứng trong thực tiễn theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
    4. Đề xuất phương hướng, giải pháp tiếp tục giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sơn La trong giai đoạn cách mạng mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những nội dung cơ bản và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc dưới góc độ quan hệ tộc người; thực trạng công tác giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của hai nhóm dân tộc thiểu số là cộng đồng dân tộc Thái và cộng đồng dân tộc Mông tại tỉnh Sơn La.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Sơn La, tập trung khảo sát cộng đồng dân tộc Thái và dân tộc Mông trong tương quan so sánh với các dân tộc khác trên địa bàn (Khơ Mú, La Ha, Mường, Xinh Mun, Kháng).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2003 - 2023 (năm 2003 là mốc bắt đầu thực hiện di dân phục vụ xây dựng công trình Thủy điện Sơn La, tạo ra những biến đổi sâu sắc trong đời sống văn hóa các dân tộc). Dữ liệu điều tra xã hội học tập trung vào năm 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Tác giả đã điểm lại hệ thống tài liệu nghiên cứu phong phú trong và ngoài nước, chia thành các nhóm chính:

Nhóm hướng nghiên cứu Các tác giả, công trình và năm công bố tiêu biểu
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc Nông Quốc Chấn, Vi Hồng Nhân, Hoàng Tuấn Cư (1996); Phạm Minh Hạc (1996); Lê Như Hoa (1996); Hoàng Vinh (1997); Đinh Xuân Lâm, Bùi Đình Phong (1998, 2004, 2007); Thành Duy (1998, 2004, 2006); Đỗ Huy (2000); Hoàng Trinh (2000); Bùi Đình Phong (2001); Nguyễn Khoa Điềm (2002, 2004); Phan Ngọc (2002); Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2003); Đỗ Thanh Hà (2004); Nguyễn Danh Tiên (2005); Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong (2009); Phạm Xuân Nam (2009); Ngô Đức Thịnh (2010); Đỗ Quang Hưng, Trần Viết Nghĩa (2013); Hồ Sĩ Vịnh (2014); Nguyễn Hữu Lập (2016); Nguyễn Quốc Hùng (2021); Chử Thị Thu Hà (2021); Dương Văn Sáu (2021).
Nghiên cứu tôn giáo, tộc người và văn hóa Tây Bắc của học giả quốc tế Silvia Schriever (1990); Dominique van de Walle, Dileni Gunewardena (2001); Shaun Malarney (2002); Philip Taylor (2007); Jellema (2007); James C. Scott (2009); Ngo Thi Thanh Tam và cộng sự (2010, 2011, 2015, 2016); Christine Bonnin, Sarah Turner (2011); Su Lianling (2013).
Nghiên cứu văn hóa và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh tại Sơn La và Tây Bắc Vi Trọng Liên (2002); Hoàng Lương (2005); Nguyễn Anh Cường (2009); Lò Văn Hặc (2009); Thào Xuân Sùng (2009, 2017); Trần Thị Thủy (2017); Phạm Văn Lợi (2019); Nguyễn Mậu Hùng (2021); Lường Hoài Thanh, Nguyễn Thị Thanh Mai (2021).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Qua tổng quan tư liệu, tác giả xác định 4 điểm còn trống trong các công trình đi trước:

  1. Đa số công trình tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa ở góc độ chung nhất, chưa luận giải một cách hệ thống và chuyên biệt về nội dung, giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh đối với việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số tại một địa bàn cụ thể như Sơn La.
  2. Các nghiên cứu trước chưa phân tích sâu thực trạng và các vấn đề chưa đáp ứng trong thực tiễn bảo tồn văn hóa tại Sơn La dưới lăng kính tư tưởng Hồ Chí Minh.
  3. Chưa có công trình xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ, vừa mang tính lý luận chính trị vừa gắn sát với đặc thù tộc người thiểu số tại địa phương trong giai đoạn mới.
  4. Chưa có sự hệ thống hóa đầy đủ các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh Sơn La trong mối liên hệ vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa tộc người.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam (đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII) và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về văn hóa và dân tộc.
  • Các khái niệm nền tảng:
    • Khái niệm văn hóa: Phân tích các góc độ tiếp cận từ nguồn gốc từ nguyên (cultus, bunka, văn - hóa), định nghĩa của Edward Burnett Tylor (1871), tuyên bố của UNESCO (1982, 2002), quan niệm của Phạm Văn Đồng, Phan Ngọc, Trần Ngọc Thêm; đặc biệt là định nghĩa văn hóa của Hồ Chí Minh trong Mục đọc sách (tập thơ Nhật ký trong tù) xác định văn hóa là tổng hợp các phương thức sinh hoạt vật chất và tinh thần nhằm mục đích sinh tồn.
    • Bản sắc văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số: Được hiểu là hệ giá trị cốt lõi, sức mạnh nội sinh bền vững hình thành qua lịch sử, là dấu hiệu nhận diện và phân biệt giữa các tộc người. Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam mang tính thống nhất trong đa dạng; bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số là nét đẹp đặc thù của các nhóm tộc người cư trú tại địa phương.
    • Khái niệm dân tộc: Tiếp cận theo hai nghĩa: tộc người (ethnic/ethnie) và quốc gia - dân tộc (nation).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
  • Phương pháp logic - lịch sử: Hệ thống hóa quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai các chủ trương của Đảng bộ tỉnh Sơn La về công tác văn hóa.
  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp kiến thức và cách tiếp cận của Khoa học Chính trị, Hồ Chí Minh học, Văn hóa học, Dân tộc học và Xã hội học.
  • Phương pháp điều tra xã hội học và phỏng vấn sâu:
    • Khảo sát bằng phiếu hỏi: Tổng cộng 200 phiếu, gồm 150 phiếu dành cho người dân tại 10 bản thuộc cộng đồng dân tộc Thái và Mông (15 phiếu/bản) và 50 phiếu dành cho cán bộ quản lý văn hóa cấp xã, cấp huyện và cấp tỉnh.
    • Phỏng vấn sâu và khảo sát thực địa trực tiếp.
  • Các phương pháp hỗ trợ khác: Phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh đối chiếu.

Nguồn tư liệu và địa bàn khảo sát

Đối tượng / Nhóm ngành Địa bàn khảo sát bằng phiếu hỏi (150 phiếu) Địa bàn khảo sát thực địa bổ trợ (không phát phiếu)
Nhóm ngành Thái Trắng Bản Áng, Bản Vặt, Bản Lướt Bản Phụ Mẫu
Nhóm ngành Thái Đen Bản Dọi 2 (xã Tân Lập, khu tái định cư Thủy điện Sơn La), Bản Hụm —
Nhóm ngành Mông Hoa Bản Tà Số 1, Bản Hua Tạt, Bản Tà Phềnh —
Nhóm ngành Mông Đen Bản Pặc Ngần (bản có đồng bào theo đạo Tin lành), Bản Chiềng Đi 2 —
Các dân tộc khác — Bản Suối Lìn (dân tộc Dao), Bản Cà Đạc (dân tộc Mường)
Cán bộ quản lý văn hóa 50 phiếu tại các cơ quan văn hóa cấp tỉnh (Sở VH-TT&DL), cấp huyện (Phòng VH-TT) và cấp xã —

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này thực hiện việc phân loại, tổng thuật và đánh giá có phê phán các công trình nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài. Tác giả chia nguồn tài liệu thành hai tuyến lớn: các công trình về tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa nói chung và các công trình về văn hóa tộc người, bảo tồn văn hóa truyền thống tại khu vực Tây Bắc và tỉnh Sơn La. Chương 1 chỉ rõ thành tựu của các học giả đi trước về mặt lý luận và thực tiễn, đồng thời xác lập vị trí nghiên cứu độc lập của luận án khi đặt vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số tại Sơn La trong khung phân tích chuyên ngành Hồ Chí Minh học.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Chương 2 tập trung phân tích hệ thống khái niệm công cụ và làm sáng tỏ nội dung, giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về bản sắc văn hóa dân tộc:

  • Xây dựng cơ sở lý luận về các khái niệm: Văn hóa, bản sắc văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, phân biệt bản sắc văn hóa dân tộc với bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số, khái niệm dân tộc theo nghĩa tộc người và quốc gia.
  • Hệ thống hóa nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc:
    • Văn hóa là một mặt trận, văn hóa soi đường cho quốc dân đi, gắn kết chặt chẽ và ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội.
    • Giữ gìn và phát huy những tinh hoa, cốt cách văn hóa truyền thống; kiên quyết loại bỏ hủ tục lạc hậu ("Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ... Cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý... Cái gì cũ mà tốt thì phát triển thêm").
    • Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại trên nền tảng lấy văn hóa dân tộc làm gốc; chống khuynh hướng "phục cổ máy móc" cũng như khuynh hướng bài ngoại hoặc sùng ngoại vô căn cứ.
    • Tôn trọng đặc tính văn hóa của từng tộc người ("mỗi dân tộc phải chăm lo đặc tính của mình"), thực hiện bình đẳng, đoàn kết và tương trợ giữa các dân tộc anh em để "miền núi tiến kịp miền xuôi".
  • Luận giải giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh: Cung cấp nền tảng thế giới quan và phương pháp luận cho đường lối xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; định hướng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và bảo vệ chủ quyền văn hóa quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Chương 3: Thực trạng giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sơn La hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh và những vấn đề chưa đáp ứng thực tiễn

Chương 3 trình bày các kết quả nghiên cứu thực chứng và khảo sát xã hội học:

  • Phân tích các nhân tố tác động: Vị trí địa lý - chính trị vùng Tây Bắc, đặc điểm cấu trúc dân cư đa tộc người (12 dân tộc), sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tác động của quá trình tái định cư công trình Thủy điện Sơn La từ năm 2003, xu thế phát triển du lịch và sự xâm nhập của các hiện tượng tôn giáo mới (đặc biệt là đạo Tin lành trong cộng đồng người Mông).
  • Đánh giá kết quả đạt được:
    • Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã ban hành nhiều chủ trương, đề án bảo tồn văn hóa tộc người.
    • Thống kê di sản: Toàn tỉnh có 89 di tích lịch sử - văn hóa vật thể, 12 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; Nghệ thuật Xòe Thái được vinh danh di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; xây dựng mô hình du lịch cộng đồng gắn với sản phẩm OCOP (như bản Ngọc Chiến).
    • Công tác phục dựng lễ hội, bảo tồn tiếng nói, chữ viết, trang phục truyền thống của người Thái, người Mông được quan tâm triển khai.
  • Chỉ rõ những hạn chế và vấn đề chưa đáp ứng thực tiễn:
    • Nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đứng trước nguy cơ mai một; một số nghi lễ cổ truyền bị biến tướng hoặc thất truyền.
    • Hiện tượng thương mại hóa, biến dạng văn hóa trong phát triển du lịch; toàn tỉnh chưa có bản nào đạt chuẩn công nhận điểm du lịch chính thức theo quy định.
    • Nhận thức của một bộ phận cán bộ cấp ủy, chính quyền cơ sở và người dân về bảo tồn bản sắc văn hóa chưa đầy đủ; nguồn kinh phí đầu tư còn dàn trải, thiếu thốn; thiếu hụt đội ngũ cán bộ văn hóa am hiểu tiếng nói và phong tục tập quán tộc người.
    • Tồn tại các tập tục lạc hậu như tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống ở vùng sâu, vùng xa; biến đổi cấu trúc sinh hoạt tâm linh truyền thống do hiện tượng chuyển đổi tôn giáo.

Chương 4: Phương hướng và giải pháp tiếp tục giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sơn La trong giai đoạn cách mạng mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Trên cơ sở lý luận của Chương 2 và thực trạng của Chương 3, Chương 4 xác định phương hướng và các nhóm giải pháp:

  • Phương hướng:
    • Quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí của văn hóa trong phát triển bền vững.
    • Kết hợp hài hòa giữa bảo tồn di sản truyền thống với tiếp thu các yếu tố văn hóa tiến bộ; lấy người dân bản địa làm chủ thể bảo tồn và thụ hưởng văn hóa.
    • Gắn kết chặt chẽ công tác giữ gìn bản sắc văn hóa với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc.
  • Hệ thống giải pháp cụ thể:
    1. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự quản lý của chính quyền các cấp đối với công tác văn hóa dân tộc; nâng cao nhận thức chính trị cho cán bộ và đồng bào các dân tộc.
    2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống văn hóa trong hệ thống giáo dục, đặc biệt là các trường Phổ thông dân tộc nội trú, Phổ thông dân tộc bán trú.
    3. Quy hoạch, đầu tư nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất cho việc kiểm kê, bảo tồn, phục dựng các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc Thái, dân tộc Mông và các nhóm dân tộc thiểu số khác.
    4. Phát triển du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng bền vững gắn với bảo tồn bản sắc tộc người, ngăn chặn xu hướng thương mại hóa làm biến dạng văn hóa truyền thống.
    5. Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa từ cấp tỉnh đến cơ sở; phát huy vai trò của các nghệ nhân dân gian, già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng.
    6. Chủ động phòng ngừa và đấu tranh chống lại việc các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo và văn hóa để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học

  • Về mặt lý luận: Luận án góp phần hệ thống hóa, luận giải một cách toàn diện và sâu sắc nội dung, giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc dưới góc độ quan hệ tộc người và chuyên ngành Hồ Chí Minh học.
  • Về mặt thực tiễn:
    • Cung cấp bức tranh thực chứng cập nhật và chi tiết về thực trạng bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa của hai cộng đồng dân tộc thiểu số lớn tại Sơn La (người Thái và người Mông) dựa trên số liệu điều tra xã hội học tại 10 bản khảo sát đại diện.
    • Nhận diện chính xác những mâu thuẫn, bất cập và các vấn đề chưa đáp ứng giữa yêu cầu phát triển thực tế với việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trên địa bàn miền núi Tây Bắc.
    • Đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp khả thi, đồng bộ phục vụ trực tiếp cho công tác hoạch định chính sách của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Sơn La.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

Luận án kiến nghị Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Sơn La tiếp tục thể chế hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa thành các chương trình hành động cụ thể; tăng mức đầu tư ngân sách cho công tác văn hóa; ưu tiên đào tạo con em đồng bào dân tộc thiểu số làm công tác văn hóa cơ sở; xây dựng cơ chế quản lý và phân chia lợi ích công bằng cho cộng đồng dân cư địa phương trong hoạt động du lịch văn hóa.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi và mẫu khảo sát: Do điều kiện nghiên cứu, luận án tập trung khảo sát sâu tại hai cộng đồng dân tộc có quy mô dân số và đặc trưng văn hóa phong phú là dân tộc Thái và dân tộc Mông; các dân tộc thiểu số khác (Khơ Mú, La Ha, Mường, Xinh Mun, Kháng, Dao) chủ yếu được tiếp cận dưới dạng nghiên cứu so sánh bổ trợ và khảo sát thực địa không phát phiếu.
  • Hạn chế về thời điểm dữ liệu: Dữ liệu điều tra xã hội học bằng phiếu hỏi được thu thập tập trung vào thời điểm năm 2018, phản ánh thực trạng tại mốc thời gian này trong khung thời gian tổng thể 2003 - 2023.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng phạm vi khảo sát xã hội học định lượng sang các nhóm dân tộc thiểu số rất ít người tại Sơn La; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế chuyển đổi sinh kế và biến đổi văn hóa của các cộng đồng tái định cư thủy điện trong giai đoạn chuyển đổi số hiện nay.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lãnh đạo, quản lý: Là tài liệu tham khảo cho Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Sơn La, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Ban Dân tộc tỉnh và các huyện, thành phố trong việc tổng kết thực tiễn, xây dựng chính sách văn hóa và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Đối với công tác nghiên cứu và giảng dạy: Tài liệu phục vụ trực tiếp cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Hồ Chí Minh học, Chính trị học, Xã hội học, Văn hóa học tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN, Trường Cao đẳng Sơn La và các cơ sở giáo dục đại học khác.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ sở lựa chọn khung thời gian nghiên cứu 2003 - 2023 của luận án là gì?

Tác giả lựa chọn mốc thời gian bắt đầu từ năm 2003 vì đây là thời điểm tỉnh Sơn La bắt đầu triển khai công tác di dân phục vụ xây dựng công trình Thủy điện Sơn La. Sự kiện này đã tạo ra sự xáo trộn, thay đổi môi trường cư trú và tác động sâu sắc đến đời sống kinh tế, xã hội và bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh.

2. Mẫu điều tra xã hội học của luận án được phân bổ như thế nào?

Tổng số mẫu điều tra là 200 phiếu, gồm:

  • 150 phiếu khảo sát người dân tại 10 bản (15 phiếu/bản): 5 bản thuộc cộng đồng dân tộc Thái (Bản Áng, Bản Vặt, Bản Lướt thuộc nhóm Thái Trắng; Bản Dọi 2, Bản Hụm thuộc nhóm Thái Đen) và 5 bản thuộc cộng đồng dân tộc Mông (Bản Tà Số 1, Bản Hua Tạt, Bản Tà Phềnh thuộc nhóm Mông Hoa; Bản Pặc Ngần, Bản Chiềng Đi 2 thuộc nhóm Mông Đen).
  • 50 phiếu khảo sát cán bộ quản lý văn hóa cấp tỉnh (Sở VH-TT&DL), cấp huyện (Phòng VH-TT) và cấp xã.

3. Những con số thống kê chính về di sản văn hóa tỉnh Sơn La được văn bản nêu ra gồm những gì?

Văn bản nêu rõ tỉnh Sơn La hiện có 89 di tích lịch sử - văn hóa vật thể, 12 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, Nghệ thuật Xòe Thái được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, bản du lịch cộng đồng Ngọc Chiến là một trong 83 sản phẩm OCOP của toàn tỉnh.

4. Tác giả chỉ ra những nguyên nhân chính nào dẫn đến nguy cơ mai một bản sắc văn hóa dân tộc tại Sơn La?

Văn bản nêu 3 nhóm nguyên nhân chính:

  1. Tác động của quá trình phát triển kinh tế, xã hội và xu thế hội nhập toàn cầu dẫn đến sự giao thoa văn hóa giữa các vùng miền.
  2. Tốc độ phát triển du lịch nhanh chóng khiến nhiều giá trị văn hóa truyền thống bị tác động và có xu hướng hiện đại hóa, thương mại hóa.
  3. Nhận thức và mức sống của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số chưa cao, dẫn đến việc người dân ở một số địa phương chưa thực sự quan tâm đến công tác bảo tồn, gìn giữ bản sắc dân tộc.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hạnh là công trình khoa học thuộc chuyên ngành Hồ Chí Minh học, làm sáng tỏ một cách toàn diện và có hệ thống lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Bằng việc kết hợp phương pháp luận chính trị học với điều tra xã hội học thực chứng tại tỉnh Sơn La giai đoạn 2003 - 2023, tác giả đã đánh giá sâu sắc thực trạng văn hóa của cộng đồng dân tộc Thái và dân tộc Mông, đồng thời chỉ ra các vấn đề chưa đáp ứng trong thực tiễn. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho công tác lãnh đạo, quản lý văn hóa của tỉnh Sơn La trong giai đoạn cách mạng mới.