CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Một số vấn đề lý luận 1. Lý thuyết Sáng tạo truyền thống Lý thuyết Sáng tạo truyền thống (The Invention of Tradition), được nhà sử học người Anh Eric Hobsbawm đề xuất vào năm 1983.
Lý thuyết Sáng tạo truyền thống hay còn gọi là Truyền thống tân tạo nhấn mạnh rằng các truyền thống không phải lúc nào cũng là những hình thức văn hóa bền vững có nguồn gốc từ xa xưa. Thay vào đó, nó chỉ ra rằng xã hội và chính trị có thể tạo ra các yếu tố truyền thống mới hoặc biến đổi các yếu tố truyền thống đã tồn tại để phục vụ cho một mục đích cụ thể nào đó, chẳng hạn như tạo cảm giác đoàn kết quốc gia, hình thành nhận thức tôn giáo, tạo định kiến văn hóa, v. Ứng dụng lý thuyết sáng tạo truyền thống trong nghiên cứu văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu và phân tích các yếu tố văn hóa, xã hội đã được tạo ra, tái tạo, duy trì trong quá khứ, hiện tại. Về cơ bản, lý thuyết Sáng tạo truyền thống là một khái niệm mô tả việc tạo ra hoặc tái tạo các yếu tố truyền thống mà người ta có xu hướng xem như đã tồn tại từ lâu, mang tính ổn định, tuy nhiên thực tế chúng được tạo ra hoặc thay đổi trong thời gian gần đây.
Trong nghiên cứu của mình Eric Hobsbawm và Terence Ranger đã nghiên cứu, giới thiệu một số trường hợp cụ thể về việc phát minh, hình thành các truyền thống xã hội, văn hóa trong lịch sử, chẳng hạn như: Các truyền thống quốc gia như: việc xây dựng các ngày lễ quốc gia, quốc kỳ, quốc ca, hoặc các kỷ lục quốc gia để tạo nên một cảm giác đoàn kết dân tộc, lòng tự hào quốc gia; Các truyền thống tôn giáo, bao gồm việc tạo ra các lễ hội, nghi lễ, các biểu tượng tôn giáo để duy trì, phát triển đạo đức và giáo lý; Các truyền thống văn hóa như việc tạo ra hoặc làm mới các truyền thống dân ca, nghệ thuật truyền thống, phong tục tập quán, nghi lễ hôn nhân, lễ hội văn hóa. ; Các truyền thống quân sự: bao gồm việc xây dựng các biểu tượng quân sự, lễ hội quân sự, các lễ kỷ niệm chiến thắng. 15 Với việc ứng dụng lý thuyết sáng tạo truyền thống, luận văn đã xác định nguồn gốc, tìm hiểu quá trình cũng như cách thức những giá trị văn hóa dân gian của Tinh hoa Bắc Bộ như các phong tục tập quán, lễ hội, nghệ thuật, truyền thống dân gian, các biểu tượng văn hóa đã được kiến tạo hoặc tác động để duy trì, biểu hiện văn hóa của một cộng đồng, địa phương như thế nào. Đông thời, lý thuyết này là cơ sở để tác giả tìm hiểu sự thay đổi, tương tác giữa các thành tố văn hóa - cũng như tìm hiểu tác động của các yếu tố văn hóa đến đời sống văn hóa - xã hội.
Một số khái niệm khác Khái niệm văn hóa theo UNESCO: Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động, sáng tạo trong quá khứ và hiện tại. Qua nhiều thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy hình thành nên một hệ thống giá trị, truyền thống và thị hiếu, những yếu tố này xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc. Khái niệm văn hóa theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Có thể hiểu, văn hóa là tập hợp các giá trị, thực tiễn, niềm tin, phong tục, tập quán,. của một nhóm người hoặc một xã hội cụ thể. Nó bao gồm các hoạt động, kiến thức, nghệ thuật, hệ thống giá trị, quy tắc ứng xử được thừa kế và chia sẻ thông qua các thế hệ. Văn hóa truyền thống là tổng thể các giá trị, chuẩn mực, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, nghệ thuật, lối sống đã được hình thành, phát triển và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong một cộng đồng hoặc xã hội.
Đây là những yếu tố cấu thành nên bản sắc văn hóa của một dân tộc, chúng thường phản ánh những kinh nghiệm, tri thức, cũng như triết lý sống của tổ tiên. Văn hóa truyền thống không chỉ bao gồm các hoạt động như lễ hội, phong tục cưới hỏi, tang lễ, mà còn cả ngôn ngữ, âm nhạc, ẩm thực, trang phục, các hình thức 16 nghệ thuật như múa, hát, thơ ca. Những giá trị này thường được bảo tồn qua thời gian thông qua các thế hệ gia đình, cộng đồng, chúng có thể thay đổi hoặc bị mai một dần theo sự phát triển của xã hội. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 1.
Khu vực Sài Sơn, Quốc Oai 1. Xã Sài Sơn Xã Sài Sơn nằm ở phía Bắc huyện Quốc Oai cách thị trấn Quốc Oai khoảng 5km về phía Nam cách trung tâm Hà Nội 25km về phía Đông. Xã nằm giáp đại lộ Thăng Long - một trong những cửa ngõ của thủ đô Hà Nội. Xã Sài Sơn phía Đông giáp xã Phượng Cách, phía Tây giáp xã Hữu Bằng huyện Thạch Thất, phía Nam giáp thị trấn Quốc Oai, phía Bắc giáp với xã Liên Hiệp huyện Phúc Thọ.
Xã Sài Sơn là mảnh đất được thiên nhiên ưu đãi: có địa hình bằng phẳng thuận lợi cho nông nghiệp, có nhiều thắng cảnh đẹp thuận lợi cho di chuyển, du lịch. Xã Sài Sơn hiện có 6 thôn: Đa Phúc, Thuỵ Khuê, Khánh Tân, Sài Khê, Phúc Đức và Năm Trại. Trước kia xã Sài Sơn chỉ có 5 thôn, sau này khi có chính sách giãn dân cũng như để giữ đất người dân có các thôn Đa Phúc, Thuỵ Khuê, Khánh Tân, Sài Khê, Phúc Đức đã lập thôn Năm Trại ở phía Đông Nam của xã. Thôn Năm Trại có cả người dân của cả 5 thôn cũ nên được lấy tên là Năm Trại.
Xã Sài Sơn có tổng diện tích tự nhiên vào khoảng 1007,1ha. Xã có địa hình bằng phẳng, có dãy núi Phượng Hoàng với đỉnh chính là núi Sài Sơn hay còn gọi là núi Thầy - điều này cũng phản ánh đặc điểm địa lý của nhiều vùng nông thôn Bắc Bộ, nơi có sự kết hợp giữa đồng bằng với những dãy núi thấp. Xã Sài Sơn được chia thành 2 khu vực chính mà ranh giới ngăn cách là những con đê: Khu vực bên trong đê thì gọi là “làng/ thôn”. Khu vực phía ngoài đê cạnh sông Đáy gọi là “trại”.
Xã có sông Đáy chảy qua cung cấp nước tưới cho hơn 200 ha lúa, hoa màu ở khu vực bãi. Đặc biệt, xã có núi Sài Sơn, tên thường gọi là núi Thầy – nơi chùa Thầy được đặt dưới chân núi, là danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Hiện nay, Sài Sơn có 17 khoảng 5000 hộ dân4, dân số vào khoảng gần 21.300 người, thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 64,7 triệu đồng/ người/ năm5. Xã Sài Sơn có hệ thống giao thông tương đối thuận tiện cho việc di chuyển của người dân và hàng hóa trên địa bàn xã cũng như tới các xã, huyện, tỉnh, thành phố khác.
Toàn bộ đường giao thông chính trong xã đều đã được bê tông hóa. Đường tỉnh lộ 421B, tỉnh lộ 421 và tỉnh lộ 422 là những tuyến đường chính trong xã Sài Sơn. Trong đó, tuyến đường 421B là tuyến đường trọng điểm, là tuyến đường kéo dài và cắt qua các di tích, cơ quan hành chính của xã Sài Sơn. Đồng thời, đường tỉnh lộ 421B còn nối liền với Đại lộ Thăng Long.
Ngoài ra, xã còn có tuyến đường tỉnh lộ 420 chạy qua, đây là con đường chạy ra đường Hồ Tây Ba Vì trước khi giao với đường cao tốc Đại lộ Thăng Long và đường Láng Hoà Lạc, rất thuận tiện cho việc thông thương đi lại của nhân dân, cũng như thuận lợi về thị trường cung cấp nguyên liệu đầu vào, tiêu thụ sản phẩm, tạo điều kiện giao lưu, học hỏi kinh nghiệm với các địa phương khác trong cả nước, đặc biệt là với thủ đô Hà Nội – trước đây là kinh thành Thăng Long với hàng ngàn năm lịch sử. Xã Sài Sơn, nổi tiếng với chùa Thầy – một trong những ngôi chùa cổ và có giá trị lịch sử, văn hóa lớn của Việt Nam. Ngoài ra, ở xã còn có các di tích khác như: Đình Thụy Khuê, Chùa Long Đẩu, Quán Tam Xã … Chùa Thầy không chỉ là một địa điểm du lịch nổi tiếng mà còn là nơi gìn giữ nhiều giá trị văn hóa, lịch sử quan trọng của dân tộc Việt Nam. Ngôi chùa là biểu tượng cho sự kết hợp hài hòa giữa tín ngưỡng Phật giáo, văn hóa dân gian Việt Nam, đồng thời là minh chứng cho sự phát triển của kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc qua các thời kỳ lịch sử.
Vì vậy, chùa Thầy, các di tích trong xã là luôn được các nhà nghiên cứu chú trọng tìm hiểu và nghiên cứu. Đặc biệt là về các vấn đề văn hóa truyền thống của nước ta như: Thiền sư Từ Đạo Hạnh, Phật giáo thời Lý - Trần, kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc … Tuy nhiên, những nghiên cứu về các di tích văn hóa ở xã trong bối cảnh hiện đại không có nhiều. 4 Phỏng vấn Phó chủ tịch xã Sài Sơn - Ông Nguyễn Văn Nghĩa, ngày 07/08/2023.4] 18 Năm 2020, ngành công nghiệp và dịch vụ - thương mại chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế xã Sài Sơn, với công nghiệp chiếm 42%, Dịch vụ - Thương mại chiếm 40%, Nông nghiệp chiếm 18%. Đến năm 2022 cơ cấu kinh tế xã Sài Sơn đã có sự dịch chuyển thành Công nghiệp chiếm 45%, Dịch vụ - thương mại 40%, Nông nghiệp 15%.
Đây là một sự gia tăng cho thấy sự phát triển trong lĩnh vực công nghiệp. Năm 2020, thu nhập bình quân đầu người của xã đạt 55,6 triệu đồng / người/ năm, tổng thu nhập năm 2030 của xã đạt 1. Đến năm 2022, thu nhập bình quân đầu người đạt 64,7 triệu đồng/ người/ năm, tổng thu nhập năm 2022 đạt 1. Do sự phát triển trong các ngành công nghiệp và dịch vụ, cùng với việc đầu tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nên thu nhập bình quân đầu người của xã tăng 16,37% cho thấy mức sống của người dân xã Sài Sơn đã được cải thiện rõ rệt.
Tổng Thu nhập của xã tăng 17,28% cũng là một chỉ số tích cực, phản ánh sự phát triển kinh tế tổng thể của xã. Đây là kết quả của việc gia tăng sản xuất công nghiệp, dịch vụ, hiệu quả trong nông nghiệp dù tỷ trọng nông nghiệp giảm.