Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật (mã số 9210101) của nghiên cứu sinh Nguyễn Hoàng Hưng, do Giáo sư Trương Quốc Bình hướng dẫn khoa học, được thực hiện tại Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam (2022) với đề tài: Nghệ thuật trưng bày bảo tàng ở Việt Nam (Nghiên cứu: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bảo tàng là thiết chế văn hóa quan trọng có chức năng bảo tồn, phát huy và quảng bá giá trị di sản văn hóa, lịch sử của mỗi quốc gia. Theo số liệu thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công bố ngày 08 tháng 02 năm 2019, hệ thống bảo tàng tại Việt Nam có 162 bảo tàng, bao gồm 126 bảo tàng công lập và 36 bảo tàng ngoài công lập. Mặc dù số lượng bảo tàng tương đối phong phú so với khu vực Đông Nam Á, phần lớn các bảo tàng trong nước vẫn thiếu vắng nghệ thuật trưng bày hiện đại, chưa tạo được sự hấp dẫn và thu hút đối với khách tham quan.

Trong bối cảnh văn hóa được xác định là nguồn lực nội sinh cho sự phát triển bền vững của đất nước, công tác bảo tồn và phát huy di sản đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả truyền tải nội dung đến công chúng. Hoạt động sáng tác nghệ thuật trưng bày đóng vai trò là phương tiện truyền tải, là cầu nối giữa hiện vật, nội dung khoa học của bảo tàng với quần chúng nhân dân. Như tác giả Đặng Văn Bài nhận định, trưng bày chính là ngôn ngữ đặc trưng của bảo tàng. Tuy nhiên, trước thời điểm nghiên cứu của luận án, các tài liệu và công trình nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật trưng bày bảo tàng tại Việt Nam dưới góc độ lý luận và lịch sử mỹ thuật, mỹ thuật ứng dụng còn phân tán, chưa có công trình nào đánh giá, tổng kết có hệ thống từ thực tiễn để đưa ra các giải pháp mang tính lý luận hoàn chỉnh. Do đó, việc nghiên cứu nghệ thuật trưng bày bảo tàng là một nhiệm vụ cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn rõ rệt.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu hình thức biểu hiện của nghệ thuật trưng bày bảo tàng ở Việt Nam; từ đó làm rõ giá trị thẩm mỹ trong nghệ thuật trưng bày của ba bảo tàng tiêu biểu gồm Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (BTLSQG), Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (BTLSQSVN), Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (BTDTHVN), đồng thời xác định xu hướng phát triển thẩm mỹ của nghệ thuật trưng bày bảo tàng trong giai đoạn hiện nay.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
  2. Vận dụng cơ sở lý thuyết để nhận diện hình thức biểu hiện của nghệ thuật trưng bày bảo tàng ở Việt Nam, làm rõ hình thức biểu hiện nghệ thuật trưng bày ở BTLSQG, BTLSQSVN, BTDTHVN thông qua các yếu tố cấu thành: cấu trúc mặt bằng, tạo hình nghệ thuật, ánh sáng, hiện vật trưng bày và kỹ thuật công nghệ.
  3. Đưa ra nhận định chung về nghệ thuật trưng bày bảo tàng ở Việt Nam; từ đó làm rõ sự cần thiết phải đổi mới nghệ thuật trưng bày bảo tàng.
  4. Nhận định vai trò và vị trí của nghệ thuật trưng bày trong tổng thể công trình bảo tàng.
  5. Dự đoán xu hướng phát triển của nghệ thuật trưng bày bảo tàng ở Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam và Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Tập trung nghiên cứu nghệ thuật trưng bày tại ba không gian bảo tàng mang tính quốc gia nêu trên; đồng thời mở rộng so sánh với nghệ thuật trưng bày ở một số bảo tàng khác tại Việt Nam và trên thế giới nhằm xác định sự tương đồng và khác biệt.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2020. Mốc 2011 gắn liền với sự kiện thành lập Bảo tàng Lịch sử Quốc gia theo Quyết định số 1674/QĐ-TTg ngày 26/09/2011 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở sáp nhập Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Mốc 2020 gắn liền với thời hạn hoàn thành của Quyết định số 156/2005/QĐ-TTg ngày 23/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống bảo tàng Việt Nam đến năm 2020.

Câu hỏi nghiên cứu

  • Câu hỏi 1: Nghệ thuật trưng bày bảo tàng ở Việt Nam có những vấn đề gì? Nó được biểu hiện thông qua phương tiện biểu hiện nghệ thuật nào?
  • Câu hỏi 2: Hình thức biểu hiện nghệ thuật trưng bày ở BTLSQG, BTLSQSVN, BTDTHVN trong giai đoạn hiện nay được biểu hiện như thế nào?
  • Câu hỏi 3: Hiệu quả và vai trò của nghệ thuật trưng bày trong bảo tàng ở Việt Nam? Xu hướng phát triển thẩm mỹ của nghệ thuật trưng bày bảo tàng trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nước hiện nay?

Giả thuyết nghiên cứu

  • Giả thuyết thứ nhất: Nghệ thuật trưng bày bảo tàng ở Việt Nam là một loại hình nghệ thuật thuộc lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng, được biểu hiện trong nội dung ý tưởng và hình thức thể hiện thông qua các yếu tố thị giác tác động đến cơ quan thụ cảm và cảm xúc của người xem.
  • Giả thuyết thứ hai: Nghệ thuật trưng bày ở BTLSQG, BTLSQSVN, BTDTHVN được biểu hiện rất khác nhau trong các không gian trưng bày của mỗi bảo tàng, mang giá trị thẩm mỹ riêng do quy mô, loại hình, tính chất và nội dung trưng bày khác biệt.
  • Giả thuyết thứ ba: Nghệ thuật trưng bày bảo tàng ở Việt Nam có những giá trị thẩm mỹ và dấu ấn bản sắc riêng, song dưới sự tác động của khoa học công nghệ thế giới đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, đòi hỏi phải đổi mới hoạt động trưng bày theo hướng kết hợp giữa hiện đại và bản sắc dân tộc.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu đã công bố thành ba nhóm tài liệu chính:

+---------------------------------------------------------------------------------------------------+
|                              CÁC NHÓM CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TIỀN ĐỀ                               |
+---------------------------------------------------------------------------------------------------+
| 1. Nhóm Mỹ học và Hình thái học nghệ thuật:                                                       |
|    - Đỗ Huy (1996), Denis Huisman (2002), M. Cagan (2004)                                         |
+---------------------------------------------------------------------------------------------------+
| 2. Nhóm Mỹ thuật học và Mỹ thuật ứng dụng:                                                        |
|    - Lê Lưu Oanh (2006), Đỗ Văn Khang (2011), Francis D. Ching (1996), Nguyễn Bạch Ngọc (2000),   |
|      Lê Huy Văn (2003, 2012), Ocvirk và cs. (2006), Nguyễn Hồng Hưng (2012),                      |
|      Đỗ Trọng Hưng (2016), Graham Collier (2017)                                                  |
+---------------------------------------------------------------------------------------------------+
| 3. Nhóm Nghiên cứu về Bảo tàng học và Nghệ thuật trưng bày:                                       |
|    - Ngô Lao (1963), Lâm Bình Tường và cs. (1980), Christine Mullen Kreamer (1999),               |
|      Timothy Ambrose & Crispin Paine (2000), Gary Edson & David Dean (2001), Kathleen McLean      |
|      (2001), Nguyễn Thịnh (2002, 2012), Kaulen M.E. (2006), Tạ Trường Xuân (2006),                |
|      Lê Thị Minh Lý (2006), Sỉ Thon ChănThaVông (2008), Nguyễn Thị Huệ và cs. (2008),             |
|      Vương Hoàng Quân (2008), Võ Thị Thu Thủy (2009), Võ Quang Trọng & Nguyễn Duy Thiệu (2017),   |
|      Hồ Nam (2019)                                                                                |
+---------------------------------------------------------------------------------------------------+

Chi tiết các công trình theo nhóm

  1. Nhóm công trình liên quan đến mỹ học và hình thái học nghệ thuật:

    • Đỗ Huy (1996), Mỹ học với tư cách là một nhà khoa học, Nxb Chính trị quốc gia, cung cấp các nguyên lý, phạm trù cơ bản về cái đẹp, cái cao cả theo quan điểm Mác - xít.
    • Denis Huisman (2002), Mỹ học (Huyền Giang dịch), Nxb Thế giới, tổng quan hệ thống mỹ học thế giới và các tiếp cận triết học, tâm lý học, xã hội học về giá trị nghệ thuật.
    • M. Cagan (2004), Hình thái học của nghệ thuật (Phan Ngọc dịch), phân tích cơ cấu nội tại của thế giới nghệ thuật, phân định các lớp nghệ thuật thời gian, nghệ thuật không gian và nghệ thuật thời gian - không gian.
  2. Nhóm công trình liên quan đến mỹ thuật học và mỹ thuật ứng dụng:

    • Lê Lưu Oanh (2006), Văn học và các loại hình nghệ thuật, Nxb Đại học Sư phạm, phân tích chức năng xã hội và thẩm mỹ của nghệ thuật.
    • Đỗ Văn Khang chủ biên (2011), Nghệ thuật học, Nxb Thông tin và Truyền thông, làm rõ vai trò của hình tượng nghệ thuật trong việc truyền tải thông điệp từ nghệ sĩ đến công chúng.
    • Francis D. Ching (1996), Thiết kế nội thất (nhóm dịch giả Thái Hoàng, Văn Đoàn, Nguyễn Thanh Nguyên, hiệu đính Nguyễn Kim Chi), cung cấp các nguyên lý thiết kế không gian nội thất, công năng và chất lượng thẩm mỹ.
    • Nguyễn Bạch Ngọc (2000), Ecgônômi trong thiết kế và sản xuất, cung cấp tiêu chuẩn nhân trắc học của người Việt Nam ứng dụng trong không gian nội thất.
    • Lê Huy Văn (2003, tái bản 2012), Cơ sở phương pháp luận Design và Lịch sử Design (2012), phân tích khái niệm tạo dáng công nghiệp và nguồn gốc thuật ngữ design từ chữ Latinh disegno.
    • Ocvirk, Stinson, Wigg, Bone, Cayton (2006), Những nền tảng của mỹ thuật - Lý thuyết và thực hành (Lê Thành dịch), Nxb Mỹ thuật, phân tích các thành tố bố cục, đường nét, màu sắc, ánh sáng, hình thể không gian ba chiều.
    • Nguyễn Hồng Hưng (2012), Nguyên lý design thị giác, Nxb Đại học Quốc gia, nghiên cứu quan hệ giữa thị giác, ánh sáng, hình thể và màu sắc trong thiết kế.
    • Đỗ Trọng Hưng (2016), Cơ sở tạo hình, Nxb Mỹ thuật, xác định cấu trúc hình thể trong tương quan không gian nội tại và môi trường.
    • Graham Collier (2017), Hình, Không gian và cách nhìn (Vương Tử Lâm, Phạm Long dịch, Phạm Văn Thiều hiệu đính), Nxb Mỹ thuật, giới thiệu các phương pháp tạo hình kích thích nhận thức thị giác và tư duy cảm xúc.
  3. Nhóm công trình liên quan đến nghệ thuật trưng bày bảo tàng:

    • Ngô Lao (1963), Nghệ thuật trang trí triển lãm và bảo tàng (Trần Công Tả dịch), Nxb Văn hóa - Nghệ thuật, nêu trình tự thiết kế và giải pháp bố trí ánh sáng, màu sắc trong phòng trưng bày.
    • Lâm Bình Tường, Mai Khắc Ứng, Phạm Xanh, Đặng Văn Bài (1980), Sổ tay công tác bảo tàng, Nxb Văn Hóa, khẳng định trưng bày là khâu chủ yếu, là ngôn ngữ thể hiện nội dung của bảo tàng.
    • Christine Mullen Kreamer (1999), Phương pháp viết chú thích trưng bày, tài liệu tập huấn BTDTHVN, xác định các tiêu chí đem lại sự thoải mái và hứng thú cho khách tham quan.
    • Timothy Ambrose và Crispin Paine (2000), Cơ sở bảo tàng (Lê Thúy Hoàn dịch, Phạm Mai Hùng và Triệu Văn Hiển hiệu đính), phân chia 8 giai đoạn dàn dựng và thiết kế trưng bày từ lập kế hoạch đến vận hành.
    • Gary Edson và David Dean (2001), Cẩm nang bảo tàng, phân tích quy trình tổ chức và triển khai công tác trưng bày.
    • Kathleen McLean (2001), Lập kế hoạch cho thiết kế bảo tàng, nhấn mạnh việc xây dựng bảo tàng dựa trên ý tưởng và hệ thống trưng bày khoa học.
    • Nguyễn Thịnh (2002), Sổ tay công tác trưng bày bảo tàng, Nxb Văn hóa Thông tin, và Thiết kế trưng bày di sản - Lý thuyết và thực hành (2012), Nxb Xây dựng, hệ thống hóa quy trình thiết kế nội dung và hình thức mỹ thuật trưng bày.
    • Kaulen M.E. chủ biên (2006), Sự nghiệp bảo tàng nước Nga, Cục Di sản Văn hóa xuất bản, phân tích cấu phần nghiên cứu khoa học và tạo lập tài liệu khoa học cho trưng bày.
    • Tạ Trường Xuân (2006), Nguyên lý thiết kế bảo tàng, Nxb Xây dựng, phân tích các dạng cấu trúc mặt bằng và bố cục không gian bảo tàng.
    • Lê Thị Minh Lý (2006), Luận án tiến sĩ Văn hóa học: Bảo tàng Việt Nam thực trạng và những giải pháp chính nhằm kiện toàn hệ thống bảo tàng trong phạm vi cả nước, đánh giá thực trạng hệ thống bảo tàng và giải pháp quản lý.
    • Sỉ Thon ChănThaVông (2008), Luận án tiến sĩ Văn hóa học: Các bảo tàng quốc gia Lào với nhiệm vụ giáo dục truyền thống Lịch sử - Văn hóa, cung cấp tư liệu so sánh hoạt động bảo tàng trong khu vực.
    • Nguyễn Thị Huệ chủ biên, Phan Khanh, Nguyễn Thịnh (2008), Cơ sở bảo tàng học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, hệ thống lý luận về phân loại bảo tàng và hiện vật bảo tàng.
    • Vương Hoàng Quân chủ biên (2008), Cơ sở bảo tàng học Trung Quốc, Nxb Thế Giới, chỉ rõ mối quan hệ giữa thiết kế nội dung (nghiên cứu khoa học) và thiết kế hình thức (sáng tạo nghệ thuật).
    • Võ Thị Thu Thủy (2009), Đề tài cấp Bộ: Nghiên cứu phong cách Việt Nam trong thiết kế nội thất, phân tích việc bảo tồn bản sắc văn hóa Việt trong không gian nội thất.
    • Võ Quang Trọng, Nguyễn Duy Thiệu đồng chủ biên (2017), Để có một bảo tàng sống động, Nxb Thế Giới, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn xây dựng không gian trưng bày tại BTDTHVN.
    • Hồ Nam (2019), Luận án tiến sĩ Lý luận và lịch sử mỹ thuật: Nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại "Vietnam Motor Show" từ năm 2012 đến năm 2017, phân tích tính chiếm lĩnh không gian và ngôn ngữ tạo hình của nghệ thuật trưng bày.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết

Mặc dù các tài liệu trên đã đề cập đến bảo tàng học, kiến trúc, văn hóa học hoặc kỹ thuật trang trí trưng bày đơn lẻ, vẫn chưa có công trình nào tiếp cận nghệ thuật trưng bày bảo tàng một cách chuyên sâu dưới góc nhìn của chuyên ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng hệ thống cơ sở lý luận mỹ thuật ứng dụng cho trưng bày bảo tàng, khảo sát và phân tích cụ thể hình thức biểu hiện của nghệ thuật trưng bày tại ba bảo tàng tiêu biểu của Việt Nam (BTLSQG, BTLSQSVN, BTDTHVN), từ đó rút ra các bài học thực tiễn và xác định xu hướng phát triển thẩm mỹ cho hệ thống bảo tàng trong nước.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm sử dụng

1. Các lý thuyết khoa học nền tảng

  • Lý thuyết Hình thái học nghệ thuật của M. Cagan: Sử dụng hai tiêu chuẩn bản thể học và ký hiệu học để phân loại nghệ thuật. Luận án xếp nghệ thuật trưng bày bảo tàng vào lớp nghệ thuật không gian (nghệ thuật tạo hình), thuộc nhóm nghệ thuật kiến trúc tính và phân ngành nghệ thuật ứng dụng, trong đó đồ đạc nội thất, tủ, đai vách trưng bày tương tác hữu cơ với không gian kiến trúc.
  • Lý thuyết Hậu hiện đại (Jean F. Lyotard, Jacques Derrida qua tài liệu của Trần Quang Thái, 2011): Lý giải sự chuyển dịch từ tính hàn lâm, đồng nhất sang việc đề cao sáng tạo cá nhân, tính tương tác và áp dụng công nghệ đa phương tiện (Multimedia), nghệ thuật số (Digital Art), không gian ảo 3D trong trưng bày bảo tàng.
  • Lý thuyết tiếp biến và lan tỏa văn hóa của Franz Boas và Ruth Benedict (2016): Cung cấp khung phân tích về sự di chuyển, hội nhập và tiếp biến các xu hướng trưng bày quốc tế vào thực tiễn bảo tàng Việt Nam nhằm bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.

2. Nhóm khái niệm và thuật ngữ then chốt

  • Nghệ thuật và Thiết kế: Khái niệm nghệ thuật theo Từ điển Mỹ thuật và Từ điển Triết học; thuật ngữ thiết kế (Design) có nguồn gốc từ tiếng Latinh disegno.
  • Bảo tàng: Nguồn gốc thuật ngữ từ chữ Hy Lạp cổ Museion (miếu thờ Nữ thần Muse); quan niệm phương Đông gọi là Bác Vật quán; định nghĩa của Hội đồng Bảo tàng Quốc tế (ICOM giai đoạn 1995-2004 và điều lệ sửa đổi bổ sung yếu tố phi vật thể); định nghĩa của Hiệp hội Bảo tàng Anh, Hiệp hội Bảo tàng Mỹ và Điều 51 Luật Di sản văn hóa Việt Nam.
  • Trưng bày bảo tàng: Xuất phát từ tiếng Latinh expositio (sự xếp đặt); định nghĩa của bảo tàng học Nga, bảo tàng học Trung Quốc và quy định tại Điều 9 Thông tư số 18/2010/TT-BVHTTDL ngày 31/12/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
  • Nghệ thuật trưng bày bảo tàng: Luận án định nghĩa là sự sáng tạo trên cơ sở nội dung khoa học của bảo tàng, kết hợp bố trí mặt bằng khoa học, sử dụng tạo hình nghệ thuật, ánh sáng, hiện vật và kỹ thuật công nghệ nhằm làm sáng rõ nội dung và tính chất bảo tàng trước công chúng.
Phân loại theo Luận án Các nhóm / Hình thức cụ thể trong văn bản
Loại hình bảo tàng 1. Nhóm bảo tàng lịch sử xã hội
2. Nhóm bảo tàng nghệ thuật
3. Nhóm bảo tàng khoa học - kỹ thuật
4. Nhóm bảo tàng lịch sử tự nhiên - khoa học tự nhiên
Hình thức không gian trưng bày 1. Trưng bày thường xuyên (cố định)
2. Trưng bày tạm thời (chuyên đề)
3. Trưng bày lưu động
4. Trưng bày ngoài trời
5. Trưng bày 3D (bảo tàng ảo, ứng dụng tại BTLSQG từ tháng 8/2013)
Hình thức nghệ thuật trưng bày 1. Trưng bày theo trình tự sắp xếp khoa học
2. Trưng bày ước lệ sân khấu hóa
3. Trưng bày mô phỏng
4. Trưng bày khoa học kỹ thuật
Yếu tố cấu thành hình thức biểu hiện 1. Cấu trúc mặt bằng
2. Tạo hình nghệ thuật
3. Ánh sáng
4. Hiện vật trưng bày
5. Kỹ thuật công nghệ

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp tiếp cận chuyên ngành:

  • Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu thứ cấp: Nghiên cứu đề cương trưng bày, bản vẽ kỹ thuật kiến trúc, bản vẽ mặt bằng, mặt đứng, phối cảnh nội thất và các tư liệu hình ảnh thực tế của bảo tàng.
  • Phương pháp điền dã thực địa: Khảo sát, thu thập dữ liệu trực tiếp, quay phim, chụp ảnh hiện trạng tại BTLSQG, BTLSQSVN, BTDTHVN và một số bảo tàng địa phương.
  • Phương pháp thống kê, phân loại: Thống kê và phân nhóm các không gian trưng bày, giải pháp kỹ thuật, hiện vật tiêu biểu trong giai đoạn 2011 - 2020.
  • Phương pháp so sánh: So sánh hình thức biểu hiện, ngôn ngữ tạo hình, ánh sáng, vật liệu và công nghệ giữa các bảo tàng nghiên cứu cũng như với các bảo tàng quốc tế.
  • Phương pháp tiếp cận liên ngành và tiếp cận lịch sử: Kết hợp kiến thức mỹ thuật học, nghệ thuật học, văn hóa học, lịch sử và các nguyên lý thiết kế (design) nhằm phân tích đối tượng trong tiến trình lịch sử và vận động thực tiễn.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Dữ liệu nghiên cứu bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Luật Di sản văn hóa, Thông tư 18/2010/TT-BVHTTDL, Quyết định 1674/QĐ-TTg, Quyết định 156/2005/QĐ-TTg); các hồ sơ thiết kế, bản vẽ mặt bằng kiến trúc bảo tàng; hình ảnh khảo sát thực tế và các công trình nghiên cứu chuyên ngành mỹ thuật, bảo tàng học đã xuất bản.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về đối tượng nghiên cứu (56 trang)

Chương 1 tập trung hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến mỹ học, mỹ thuật ứng dụng và bảo tàng học. Tác giả làm rõ các khái niệm công cụ, phân tích các lý thuyết nền tảng (Hình thái học nghệ thuật, Hậu hiện đại, Tiếp biến văn hóa) và xác lập khung phân loại bảo tàng, hình thức không gian và các yếu tố biểu hiện của nghệ thuật trưng bày.

Trong phân tích về cấu trúc mặt bằng không gian bảo tàng, luận án kế thừa và làm rõ 5 dạng cấu trúc mặt bằng cơ bản theo nghiên cứu của Tạ Trường Xuân (2006):

Dạng mặt bằng Đặc điểm cấu trúc Ví dụ thực tế trong văn bản
Dạng 1 Nhiều phòng trưng bày nối với nhau liên tục bằng hành lang; đảm bảo tính độc lập nhưng dễ gây ngắt quãng cảm xúc. Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam
Dạng 2 Các phòng trưng bày nối nhau bằng hành lang nhà cầu và kết hợp sân vườn/sân trưng bày. Bảo tàng Các dân tộc Việt Nam tại Thái Nguyên
Dạng 3 Cấu trúc nhiều sảnh, các khối phòng nối nhau qua nhà cầu hành lang; mỗi khối có sảnh riêng biệt theo chủ đề. Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (chia 3 chuyên đề lớn)
Dạng 4 Cấu trúc một phòng trung tâm, các phòng riêng tỏa tròn xung quanh (bố cục phóng xạ). Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Phụ nữ Hà Nội, BTDTHVN, BT Phòng không - Không quân, BT Công binh
Dạng 5 Khung bê tông xuyên phòng không có hành lang; các phòng trưng bày nối tiếp trực tiếp nhau. Các bảo tàng xây dựng theo cấu trúc liên hoàn

Chương này cũng khái quát lịch sử hình thành nghệ thuật trưng bày bảo tàng trên thế giới và tại Việt Nam, làm tiền đề cho việc khảo sát thực chứng ở chương tiếp theo.

Chương 2: Hình thức biểu hiện của nghệ thuật trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (48 trang)

Chương 2 đi sâu khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng hình thức biểu hiện của nghệ thuật trưng bày tại ba bảo tàng điển hình thuộc loại hình lịch sử - xã hội ở quy mô quốc gia:

  • Nghệ thuật trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia: Phân tích nghệ thuật tổ chức không gian nội thất, tuyến tham quan, hệ thống đai vách, tủ trưng bày hiện vật khảo cổ, cổ vật và tài liệu lịch sử cách mạng; việc ứng dụng công nghệ trưng bày không gian ảo 3D từ tháng 8/2013; đánh giá sự phối hợp giữa ánh sáng tự nhiên và ánh sáng nhân tạo trong kiến trúc bảo tàng.
  • Nghệ thuật trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam: Phân tích việc phân chia 3 cụm chuyên đề lịch sử quân sự lớn gắn với cấu trúc mặt bằng nhiều sảnh và hành lang liên tục; nghệ thuật trưng bày kết hợp không gian trong nhà với không gian trưng bày ngoài trời (các hiện vật thể khối lớn như máy bay, xe tăng, pháo); phương pháp trưng bày ước lệ sân khấu hóa và tạo hình sa bàn quân sự.
  • Nghệ thuật trưng bày ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam: Khảo sát không gian trưng bày tòa nhà Trống Đồng với cấu trúc mặt bằng một phòng trung tâm tỏa nhánh; nghệ thuật trưng bày hiện vật văn hóa 54 dân tộc bằng phương pháp mô phỏng bối cảnh sống thực tế; sự phối hợp giữa trưng bày trong nhà và khu trưng bày kiến trúc dân gian ngoài trời; cách thức bố trí ánh sáng điểm và viết chú thích hiện vật phục vụ công chúng.

Chương 3: Những bàn luận và xu hướng nghệ thuật trưng bày bảo tàng ở Việt Nam (50 trang)

Chương 3 tổng kết, đánh giá toàn diện các vấn đề đặt ra đối với nghệ thuật trưng bày bảo tàng tại Việt Nam:

  • Bàn luận về thực trạng và các vấn đề đặt ra: Đánh giá ưu điểm và chỉ ra những hạn chế, bất cập về tính đơn điệu, sự thiếu đồng bộ giữa kiến trúc và nội dung trưng bày, sự lạc hậu về công nghệ trình chiếu tại nhiều bảo tàng trong nước; khẳng định sự cần thiết phải đổi mới toàn diện nghệ thuật trưng bày.
  • Bàn luận về vai trò của nghệ thuật trưng bày: Khẳng định nghệ thuật trưng bày là ngôn ngữ tạo hình chiếm lĩnh không gian, giữ vai trò quyết định trong việc hiện thực hóa nội dung khoa học của bảo tàng và định hình cảm xúc thẩm mỹ của công chúng tham quan.
  • Xu hướng phát triển của nghệ thuật trưng bày: Dự báo xu hướng phát triển thẩm mỹ của bảo tàng Việt Nam trong tương lai, bao gồm: tăng cường ứng dụng công nghệ số, bảo tàng ảo 3D, nghệ thuật tương tác đa phương tiện; chuyển đổi từ phương thức trưng bày tĩnh sang không gian trải nghiệm sống động; kết hợp tiếp thu xu hướng quốc tế với việc gìn giữ phong cách thuần Việt và bản sắc văn hóa dân tộc.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận khoa học

  • Luận án là công trình khoa học chuyên sâu nghiên cứu về nghệ thuật trưng bày bảo tàng dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật tại Việt Nam.
  • Góp phần xây dựng và bổ sung cơ sở lý luận mỹ thuật ứng dụng cho lĩnh vực trưng bày bảo tàng; hệ thống hóa các yếu tố cấu thành không gian nghệ thuật trưng bày gồm cấu trúc mặt bằng, ngôn ngữ tạo hình, ánh sáng, xử lý hiện vật và kỹ thuật công nghệ.
  • Khẳng định nghệ thuật trưng bày bảo tàng là một ngành hoạt động văn hóa và khoa học kỹ thuật tổng hợp, giữ vị trí then chốt trong cấu trúc hoạt động bảo tàng hiện đại.

Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Cung cấp kết quả khảo sát, đánh giá khách quan về thực trạng nghệ thuật trưng bày tại ba bảo tàng đầu ngành của Việt Nam (BTLSQG, BTLSQSVN, BTDTHVN) trong giai đoạn 2011 - 2020, chỉ ra bài học kinh nghiệm về tổ chức không gian và ngôn ngữ tạo hình.
  • Đóng vai trò là tài liệu tham khảo cho các đơn vị tư vấn thiết kế mỹ thuật, các họa sĩ thiết kế nội thất, cán bộ phụ trách chuyên môn trưng bày tại các bảo tàng trong quá trình đổi mới, nâng cấp không gian trưng bày.
  • Bổ sung cơ sở khoa học và giáo trình tham khảo cho công tác đào tạo chuyên ngành thiết kế nội ngoại thất, thiết kế đồ án không gian trưng bày bảo tàng tại các cơ sở đào tạo đại học và sau đại học về mỹ thuật ứng dụng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Luận án tập trung khảo sát chuyên sâu tại ba bảo tàng lớn mang tính quốc gia thuộc loại hình lịch sử - xã hội trên địa bàn Hà Nội (BTLSQG, BTLSQSVN, BTDTHVN), chưa bao quát toàn diện các bảo tàng chuyên ngành khác như bảo tàng nghệ thuật, bảo tàng lịch sử tự nhiên - khoa học tự nhiên hoặc hệ thống bảo tàng ngoài công lập trên cả nước.
  • Khung thời gian nghiên cứu giới hạn trong giai đoạn 2011 - 2020 gắn với các quyết định quy hoạch của Chính phủ, do đó chưa cập nhật sâu những biến chuyển công nghệ tương tác số mới xuất hiện sau năm 2020.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các loại hình bảo tàng nghệ thuật, bảo tàng khoa học kỹ thuật và bảo tàng sinh thái, bảo tàng địa phương tại các vùng miền khác nhau.
  • Nghiên cứu sâu hơn về tác động của các công nghệ trưng bày kỹ thuật số tiên tiến (như thực tế ảo VR, thực tế tăng cường AR, trí tuệ nhân tạo) đối với sự biến đổi hành vi tiếp nhận thẩm mỹ của công chúng tham quan bảo tàng.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên, sinh viên và giảng viên: Phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy các môn học Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, Mỹ thuật Ứng dụng, Thiết kế Nội thất, Cơ sở Bảo tàng học và Thiết kế Đồ án trưng bày triển lãm.
  • Họa sĩ thiết kế và đơn vị thi công mỹ thuật: Cung cấp các nguyên lý tạo hình thị giác, giải pháp tổ chức mặt bằng, bố trí ánh sáng và xử lý không gian trưng bày chuyên ngành.
  • Cán bộ quản lý và chuyên viên bảo tàng: Cung cấp cơ sở khoa học và kinh nghiệm thực tiễn để xây dựng đề cương trưng bày, lập kế hoạch chỉnh lý, đổi mới không gian trưng bày đáp ứng tiêu chuẩn xếp hạng bảo tàng theo quy định của Luật Di sản văn hóa.

Câu hỏi thường gặp

1. Số lượng bảo tàng tại Việt Nam theo thống kê được luận án trích dẫn là bao nhiêu?

Theo số liệu thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đăng tải ngày 08 tháng 02 năm 2019 được luận án trích dẫn, Việt Nam có tổng cộng 162 bảo tàng, trong đó có 126 bảo tàng công lập và 36 bảo tàng ngoài công lập.

2. Các yếu tố cấu thành hình thức biểu hiện của nghệ thuật trưng bày bảo tàng gồm những gì?

Luận án xác định hình thức biểu hiện của nghệ thuật trưng bày bảo tàng được cấu thành từ 5 yếu tố cơ bản:

  1. Cấu trúc mặt bằng.
  2. Tạo hình nghệ thuật.
  3. Ánh sáng.
  4. Hiện vật trưng bày.
  5. Kỹ thuật công nghệ.

3. Công nghệ tương tác 3D (bảo tàng ảo) lần đầu tiên được ứng dụng tại bảo tàng nào ở Việt Nam theo tài liệu luận án?

Theo luận án, hình thức trưng bày ứng dụng công nghệ tương tác 3D (bảo tàng ảo) lần đầu tiên được ứng dụng tại Việt Nam ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia vào tháng 8 năm 2013.

4. Năm dạng cấu trúc mặt bằng không gian bảo tàng được phân tích trong luận án gồm những dạng nào?

Dựa trên tài liệu của Tạ Trường Xuân (2006), luận án phân tích 5 dạng bố cục mặt bằng:

  1. Mặt bằng có cấu trúc nhiều phòng trưng bày nối với nhau liên tục bằng hành lang.
  2. Mặt bằng có cấu trúc nhiều phòng trưng bày nối nhau bằng hành lang nhà cầu.
  3. Mặt bằng có cấu trúc nhiều sảnh.
  4. Mặt bằng có cấu trúc một phòng trung tâm (bố cục phóng xạ tỏa tròn).
  5. Mặt bằng có cấu trúc không có hành lang (khung bê tông xuyên phòng).

Kết luận

Luận án tiến sĩ Nghệ thuật trưng bày bảo tàng ở Việt Nam (Nghiên cứu: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam) của tác giả Nguyễn Hoàng Hưng đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận mỹ thuật ứng dụng cho hoạt động trưng bày bảo tàng. Thông qua phương pháp tiếp cận liên ngành và khảo sát thực chứng tại ba bảo tàng tiêu biểu giai đoạn 2011 - 2020, công trình đã làm rõ các yếu tố tạo thành không gian thị giác và khẳng định vai trò cốt lõi của nghệ thuật trưng bày như một ngôn ngữ đặc trưng của thiết chế bảo tàng. Các kết quả nghiên cứu và dự báo xu hướng trong luận án đóng góp nguồn tài liệu khoa học hữu ích cho công tác đào tạo mỹ thuật thiết kế cũng như công tác quy hoạch, đổi mới hệ thống bảo tàng tại Việt Nam.