Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật mang tên “Nghệ thuật trưng bày bảo tàng ở Việt Nam (Nghiên cứu: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam)” được thực hiện bởi nghiên cứu sinh có chuyên môn họa sĩ thiết kế nội thất. Đề tài tiếp cận đối tượng nghiên cứu dưới góc nhìn của mỹ thuật học và nghệ thuật tạo hình không gian, giải quyết mối quan hệ giữa công năng bảo tàng và giá trị thẩm mỹ thị giác.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực trạng phát triển của hệ thống bảo tàng Việt Nam trong tương quan với thế giới. Theo số liệu thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đăng tải trên cổng thông tin điện tử ngày 08 tháng 02 năm 2019, Việt Nam có 162 bảo tàng, bao gồm 126 bảo tàng công lập và 36 bảo tàng ngoài công lập. Mặc dù sở hữu số lượng thiết chế bảo tàng tương đối lớn trong khu vực Đông Nam Á, phần lớn các đơn vị vẫn thiếu vắng hình thức nghệ thuật trưng bày hiện đại, dẫn đến sự suy giảm khả năng thu hút khách tham quan. Trước yêu cầu bảo tồn và phát huy di sản văn hóa như nguồn lực nội sinh cho phát triển bền vững, nghệ thuật trưng bày đóng vai trò là phương tiện chuyển tải, là cầu nối trực quan giữa hiện vật và công chúng xã hội.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: cho đến thời điểm triển khai đề tài, các tài liệu và công trình nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật trưng bày bảo tàng tại Việt Nam chưa có tính hệ thống toàn diện; công tác lý luận và phê bình mỹ thuật trong lĩnh vực này hầu như chưa được đề cập thấu đáo. Các hoạt động trưng bày phần lớn diễn ra theo kinh nghiệm thực tế, thiếu những đánh giá, tổng kết mang tính lý luận mỹ thuật ứng dụng để nâng cao chất lượng thẩm mỹ không gian.

Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu hình thức biểu hiện của nghệ thuật trưng bày bảo tàng ở Việt Nam; từ đó làm rõ giá trị thẩm mỹ trong nghệ thuật trưng bày của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và dự đoán xu hướng phát triển thẩm mỹ của nghệ thuật trưng bày bảo tàng.

Nhiệm vụ nghiên cứu (được đánh số theo văn bản):

  1. Hệ thống hóa các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
  2. Vận dụng cơ sở lý thuyết để nhận diện hình thức biểu hiện của nghệ thuật trưng bày bảo tàng ở Việt Nam, làm rõ hình thức biểu hiện nghệ thuật trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam thông qua các yếu tố cấu thành: cấu trúc mặt bằng, tạo hình nghệ thuật, ánh sáng, hiện vật trưng bày và kỹ thuật công nghệ.
  3. Nhận định chung về nghệ thuật trưng bày bảo tàng ở Việt Nam; từ đó làm rõ sự cần thiết phải đổi mới nghệ thuật trưng bày bảo tàng.
  4. Nhận định vai trò và vị trí của nghệ thuật trưng bày trong bảo tàng.
  5. Dự đoán xu hướng phát triển của nghệ thuật trưng bày bảo tàng ở Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1: Nghệ thuật trưng bày bảo tàng ở Việt Nam có những vấn đề gì? Nó được biểu hiện thông qua phương tiện biểu hiện nghệ thuật nào?
  • Câu hỏi 2: Hình thức biểu hiện nghệ thuật trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trong giai đoạn hiện nay được biểu hiện như thế nào?
  • Câu hỏi 3: Hiệu quả và vai trò của nghệ thuật trưng bày trong bảo tàng ở Việt Nam? Xu hướng phát triển thẩm mỹ của nghệ thuật trưng bày bảo tàng trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nước hiện nay?

Giả thuyết nghiên cứu:

  • Giả thuyết thứ nhất: Nghệ thuật trưng bày bảo tàng ở Việt Nam là một loại hình nghệ thuật thuộc lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng. Nghệ thuật trưng bày bảo tàng ở Việt Nam được biểu hiện trong nội dung ý tưởng và hình thức thể hiện, thông qua các yếu tố thị giác tác động đến thị giác, đến cảm xúc của người xem.
  • Giả thuyết thứ hai: Nghệ thuật trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được biểu hiện rất khác nhau trong các không gian trưng bày của mỗi bảo tàng. Mỗi một bảo tàng đều có một giá trị thẩm mỹ riêng do quy mô trưng bày, loại hình, tính chất và nội dung của các bảo tàng khác nhau.
  • Giả thuyết thứ ba: Nghệ thuật trưng bày bảo tàng ở Việt Nam có những giá trị thẩm mỹ riêng mang dấu ấn bản sắc riêng. Bên cạnh đó bảo tàng Việt Nam cùng với sự tác động mạnh mẽ của nền khoa học và công nghệ phát triển của các nước trên thế giới vì vậy xuất hiện nhiều hạn chế và bất cập trong nghệ thuật trưng bày bảo tàng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam và Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Không gian trưng bày nội ngoại thất của ba bảo tàng mang tính quốc gia kể trên; đồng thời mở rộng liên hệ, đối chiếu với một số bảo tàng tiêu biểu tại Việt Nam và trên thế giới.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát thực trạng trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2020. Mốc 2011 gắn với sự kiện thành lập Bảo tàng Lịch sử Quốc gia theo Quyết định số 1674/QĐ-TTg ngày 26/09/2011 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở sáp nhập Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Bảo tàng Cách mạng Việt Nam; mốc 2020 gắn với thời hạn hoàn thành theo Quyết định số 156/2005/QĐ-TTg ngày 23/06/2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống bảo tàng Việt Nam đến năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án phân chia các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài thành ba nhóm tư liệu chính:

Nhóm 1: Những công trình liên quan đến mỹ học và hình thái học nghệ thuật

  • Cuốn Mỹ học với tư cách là một khoa học (1996) của Đỗ Huy (Nxb Chính trị quốc gia), cung cấp các nguyên lý, phạm trù cơ bản về cái đẹp, cái bi, cái hài, cái cao cả dưới quan điểm mác-xít.
  • Cuốn Mỹ học (2002) của Denis Huisman, do Huyền Giang dịch (Nxb Thế giới), tổng quan hệ thống mỹ học phương Tây qua các cách tiếp cận triết học, tâm lý học, xã hội học về bản chất và giá trị nghệ thuật.
  • Cuốn Hình thái học của nghệ thuật (2004) của M. Cagan, do Phan Ngọc biên dịch, đóng vai trò nền tảng phân tích cơ cấu nội tại của thế giới nghệ thuật, phân định ranh giới và mối quan hệ giữa nghệ thuật tạo hình không gian, nghệ thuật kiến trúc tính và mỹ thuật ứng dụng.

Nhóm 2: Những công trình liên quan đến mỹ thuật học và mỹ thuật ứng dụng

  • Nghiên cứu về mỹ thuật học: cuốn Văn học và các loại hình nghệ thuật (2006) của Lê Lưu Oanh (Nxb Đại học Sư phạm) luận giải chức năng xã hội - thẩm mỹ của nghệ thuật; cuốn Nghệ thuật học (2011) do Đỗ Văn Khang chủ biên (Nxb Thông tin và Truyền thông) cung cấp cơ sở về bản chất hình tượng nghệ thuật trung gian giữa nghệ sĩ và người tiếp nhận.
  • Nghiên cứu về mỹ thuật ứng dụng và thiết kế không gian:
    • Thiết kế nội thất (1996) của Francis D. Ching (nhóm dịch giả Thái Hoàng, Văn Đoàn, Nguyễn Thanh Nguyên, hiệu đính Nguyễn Kim Chi) làm rõ nguyên tắc bố cục công năng và thẩm mỹ nội thất.
    • Ecgônômi trong thiết kế và sản xuất (2000) của Nguyễn Bạch Ngọc xác lập các thông số nhân trắc học cho không gian và trang thiết bị người dùng.
    • Cơ sở phương pháp luận Design (2003, tái bản 2012) của Lê Huy Văn phân tích bản chất tạo dáng công nghiệp trong mối quan hệ giữa công nghệ và thẩm mỹ.
    • Những nền tảng của mỹ thuật - Lý thuyết và thực hành (2006) của Ocvirk, Stinson, Wigg, Bone, Cayton (Lê Thành dịch, Nxb Mỹ thuật) hệ thống các thành tố: bố cục, đường nét, màu sắc, hình khối, không gian ba chiều.
    • Nguyên lý design thị giác (2012) của Nguyễn Hồng Hưng (Nxb Đại học Quốc gia) phân tích cơ chế thị giác, ánh sáng, hình thể trong thiết kế.
    • Cơ sở tạo hình (2016) của Đỗ Trọng Hưng (Nxb Mỹ thuật) trình bày cấu trúc hình thể trong môi trường xung quanh.
    • Hình, Không gian và cách nhìn (2017) của Graham Collier (Vương Tử Lâm, Phạm Long dịch, Phạm Văn Thiều hiệu đính, Nxb Mỹ thuật) phân tích phương pháp tư duy tạo hình thị giác và khả năng kích hoạt cảm xúc người xem.

Nhóm 3: Những công trình liên quan đến nghệ thuật trưng bày bảo tàng

  • Nghệ thuật trang trí triển lãm và bảo tàng (1963) của Ngô Lao (Trần Công Tả dịch, Nxb Văn hóa - Nghệ thuật), hướng dẫn trình tự thiết kế mặt bằng, giải pháp trang trí, màu sắc, ánh sáng phòng trưng bày.
  • Sổ tay công tác bảo tàng (1980) của Lâm Đình Trường, Mai Khắc Ứng, Phạm Xanh, Đặng Văn Bài (Nxb Văn Hóa), xác định trưng bày là hoạt động trung tâm, kết hợp tổ chức nội dung và kỹ thuật thị giác.
  • Phương pháp viết chú thích trưng bày (1999) của Christine Mullen Kreamer, xác lập tiêu chuẩn trưng bày hướng tới sự tiếp nhận thoải mái, hứng thú của người xem.
  • Cơ sở bảo tàng (2000) của Timothy Ambrose và Crispin Paine (Lê Thúy Hoàn dịch, Phạm Mai Hùng và Triệu Văn Hiển hiệu đính), định hình quy trình 8 bước dàn dựng và thiết kế bảo tàng.
  • Cẩm nang bảo tàng (2001) của Gary Edson và David Dean; Sổ tay công tác trưng bày bảo tàng (2002) của Nguyễn Thịnh (Nxb Văn hóa Thông tin).
  • Sự nghiệp bảo tàng nước Nga (2006) do Kaulen M.E chủ biên (Cục Di sản văn hóa dịch và xuất bản), khẳng định công tác trưng bày - triển lãm là hoạt động thiết kế mang tính nghiên cứu khoa học.
  • Nguyên lý thiết kế bảo tàng (2006) của Tạ Trường Xuân (Nxb Xây dựng), cung cấp hệ thống 06 dạng cấu trúc mặt bằng không gian bảo tàng.
  • Luận án tiến sĩ Văn hóa học của Lê Thị Minh Lý (2006) về thực trạng và giải pháp kiện toàn hệ thống bảo tàng Việt Nam; luận án tiến sĩ Văn hóa học của Sỉ Thon ChănThaVông (2008) về các bảo tàng quốc gia Lào.
  • Giáo trình Cơ sở bảo tàng học (2008) của Nguyễn Thị Huệ chủ biên, Phan Khanh, Nguyễn Thịnh; chuyên khảo Cơ sở bảo tàng học Trung Quốc (2008) của Vương Hoàng Quân chủ biên (Nxb Thế Giới).
  • Đề tài cấp Bộ Nghiên cứu phong cách Việt Nam trong thiết kế nội thất (2009) của Võ Thị Thu Thủy; chuyên khảo Thiết kế trưng bày di sản - Lý thuyết và thực hành (2012) của Nguyễn Thịnh (Nxb Xây dựng); chuyên khảo Để có một bảo tàng sống động (2017) của Võ Quang Trọng và Nguyễn Duy Thiệu đồng chủ biên (Nxb Thế Giới).
  • Luận án tiến sĩ Lý luận và lịch sử mỹ thuật của Hồ Nam (2019) về nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại Vietnam Motor Show (2012-2017), luận giải tính chiếm lĩnh không gian ba chiều của nghệ thuật tạo hình trưng bày.
Nhóm tài liệu Tác giả tiêu biểu Năm công bố Trọng tâm học thuật đóng góp cho luận án
Mỹ học & Hình thái học Đỗ Huy; Denis Huisman; M. Cagan 1996, 2002, 2004 Khung phân loại nghệ thuật không gian, nghệ thuật kiến trúc tính và mỹ thuật ứng dụng
Mỹ thuật học & Design Francis D. Ching; Lê Huy Văn; Ocvirk và cs; Nguyễn Hồng Hưng 1996, 2003, 2006, 2012 Cơ sở tạo hình thị giác, nguyên lý bố cục không gian, tỷ lệ, vật liệu, ecgônômi
Nghiệp vụ Bảo tàng Lâm Đình Trường và cs; Kaulen M.E; Tạ Trường Xuân; Nguyễn Thịnh 1980, 2006, 2006, 2012 Quy trình thiết kế trưng bày, 6 dạng mặt bằng, tiêu chuẩn kỹ thuật hiện vật
Luận án liên quan Lê Thị Minh Lý; Sỉ Thon ChănThaVông; Hồ Nam 2006, 2008, 2019 Thực trạng hệ thống bảo tàng, bài học kinh nghiệm và tính chiếm lĩnh không gian

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Các nghiên cứu trước phần lớn xem xét bảo tàng từ góc độ bảo tồn di sản học, quản lý văn hóa hoặc kiến trúc công trình thuần túy. Luận án đi sâu phân định bản chất nghệ thuật trưng bày bảo tàng dưới tư cách một đối tượng của mỹ thuật ứng dụng, giải quyết toàn diện các yếu tố tạo hình thị giác (mặt bằng, hình khối, vật liệu, ánh sáng, màu sắc) gắn với việc truyền tải nội dung lịch sử - xã hội tại ba bảo tàng quốc gia tiêu biểu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và hệ thống khái niệm

Hệ thống khái niệm nền tảng:

  • Nghệ thuật và Thiết kế: Tiếp cận khái niệm nghệ thuật từ Từ điển Mỹ thuật (phương pháp tiến hành và sản phẩm của tài khéo, trí tưởng tượng, sự sáng tạo của con người) và Từ điển Triết học (hình thái đặc thù của ý thức xã hội phản ánh hiện thực bằng hình tượng nghệ thuật). Khái niệm thiết kế (design) xuất phát từ thuật ngữ Latinh disegno (Lê Huy Văn, 2012), phản ánh quá trình sáng tạo mẫu đồ vật, bản vẽ, phác thảo nhằm đạt tới sự hoàn thiện công năng và thẩm mỹ.
  • Bảo tàng: Đi từ nguồn gốc từ nguyên Hy Lạp cổ đại Museion (miếu thờ Nữ thần Muse bảo trợ nghệ thuật) đến quan niệm phương Đông ("Bác Vật quán" tại Trung Quốc, Nhật Bản; "Bảo tàng" tại Việt Nam mang nghĩa nơi lưu giữ báu vật). Luận án trích dẫn định nghĩa của Hội đồng Bảo tàng Quốc tế (ICOM) qua các thời kỳ (giai đoạn sau Thế chiến II, giai đoạn 1995-2004, và điều lệ sửa đổi bổ sung yếu tố di sản văn hóa phi vật thể); định nghĩa của Hiệp hội Bảo tàng Anh, Hiệp hội Bảo tàng Mỹ; cùng Điều 9 Thông tư số 18/2010/TT-BVHTTDL ngày 31/12/2010 quy định về tổ chức và hoạt động bảo tàng ở Việt Nam.
  • Nghệ thuật trưng bày bảo tàng: Tổng hợp từ khái niệm gốc Latinh expositio (xếp đặt để chiêm ngưỡng), quan điểm bảo tàng học Nga (hệ thống đối tượng - không gian kết hợp bởi ý tưởng khoa học và nghệ thuật), quan điểm của Vương Hoàng Quân (quần thể hiện vật sắp xếp theo chủ đề, trật tự và hình thức nghệ thuật trong không gian nhất định). Tác giả xác lập định nghĩa: Nghệ thuật trưng bày bảo tàng là sự sáng tạo trên cơ sở nội dung của bảo tàng, là cách bố trí mặt bằng khoa học, cách sử dụng tạo hình nghệ thuật, cách sử dụng ánh sáng, trưng bày hiện vật và sử dụng kỹ thuật công nghệ hợp lý nhằm làm sáng tỏ nội dung và tính chất của bảo tàng trước công chúng.

Các khung lý thuyết vận dụng:

  • Lý thuyết Hình thái học nghệ thuật của M. Cagan: Căn cứ vào hai tiêu chuẩn bản thể học và ký hiệu học, phân chia nghệ thuật thành ba lớp: nghệ thuật thời gian (âm thanh), nghệ thuật không gian (tạo hình), nghệ thuật thời gian và không gian (biểu hiện tình cảm). Luận án định vị nghệ thuật trưng bày bảo tàng thuộc lớp nghệ thuật không gian, nhóm nghệ thuật kiến trúc tính (không miêu tả). Ngôn ngữ nghệ thuật của nó được xây dựng trên nguyên lý cấu tạo hình thức, xác lập giá trị thẩm mỹ từ mối tương quan giữa các yếu tố tạo hình nội thất và không gian kiến trúc.
  • Lý thuyết Hậu hiện đại: Dựa trên chuyên khảo của Trần Quang Thái (2011) về quan điểm của Jean-François Lyotard và Jacques Derrida, luận án vận dụng quan điểm giải cấu trúc tính đơn điệu, xơ cứng hàn lâm để đề cao sự tương tác, tính công chúng và tính đa phương tiện (Multimedia, Digital Art, không gian thực tế ảo 3D).
  • Lý thuyết Tiếp biến văn hóa: Dựa trên lý thuyết lan tỏa văn hóa của Franz Boas và Ruth Benedict, luận án phân tích tiến trình di chuyển, hội nhập và tiếp biến các xu hướng trưng bày thế giới vào hệ thống bảo tàng Việt Nam nhằm bảo lưu bản sắc thẩm mỹ truyền thống.

Phân loại hình thức không gian và hình thức nghệ thuật trưng bày:

  • Không gian trưng bày: Trưng bày thường xuyên (cố định), Trưng bày tạm thời (chuyên đề), Trưng bày lưu động (trong và ngoài nước), Trưng bày ngoài trời (dành cho hiện vật thể khối lớn), Trưng bày 3D (bảo tàng ảo trên không gian mạng).
  • Hình thức nghệ thuật trưng bày: Trưng bày sắp xếp theo trình tự khoa học, Trưng bày ước lệ sân khấu hóa, Trưng bày mô phỏng, Trưng bày khoa học kỹ thuật.
  • Yếu tố cấu thành hình thức biểu hiện: Cấu trúc mặt bằng, Tạo hình nghệ thuật (hình khối, vật liệu, màu sắc, đồ họa), Ánh sáng, Hiện vật trưng bày, Kỹ thuật công nghệ.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng hướng tiếp cận định tính liên ngành (kết hợp Mỹ thuật học, Lịch sử, Bảo tàng học và Văn hóa học) thông qua các phương pháp cụ thể:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu thứ cấp: Khai thác hệ thống hồ sơ bản vẽ thiết kế, đề cương nội dung trưng bày, mặt bằng, mặt đứng, bản vẽ phối cảnh và các ấn bản khoa học liên quan đến 3 bảo tàng nghiên cứu.
  • Phương pháp điền dã thực địa: Khảo sát thực tế, đo đạc, chụp ảnh, quay phim các không gian trưng bày nội ngoại thất tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và một số bảo tàng đối chiếu.
  • Phương pháp thống kê, phân loại: Tập hợp, phân nhóm và hệ thống hóa các không gian trưng bày, giải pháp đai vách, bục bệ, hệ thống tủ kính, chủng loại vật liệu và trang thiết bị kỹ thuật trong giai đoạn 2011 - 2020.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu các hình thức biểu hiện nghệ thuật trưng bày giữa các bảo tàng tại Việt Nam; so sánh ngôn ngữ thiết kế, giải pháp chiếu sáng và mức độ ứng dụng công nghệ giữa bảo tàng trong nước với bảo tàng quốc tế (như Bảo tàng BMW, Mercedes-Benz tại Đức, Bảo tàng Acropolis tại Hy Lạp).

Nội dung chính theo từng chương

Cấu trúc luận án bao gồm: Phần mở đầu (9 trang), Kết luận (5 trang), Tài liệu tham khảo (11 trang), Phụ lục (78 trang) và 3 chương nội dung chính (154 trang).

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về đối tượng nghiên cứu (56 trang)

Chương 1 thiết lập nền tảng lý thuyết và lược sử nghiên cứu của đề tài. Tác giả phân tích toàn diện 3 nhóm công trình khoa học trong và ngoài nước; phân định hệ thống thuật ngữ chuyên ngành; vận dụng lý thuyết Hình thái học nghệ thuật của M. Cagan, lý thuyết Hậu hiện đại và lý thuyết Tiếp biến văn hóa để xác lập khung phân tích cho nghệ thuật trưng bày bảo tàng.

Nội dung trọng tâm của chương là việc nhận diện 5 thành tố biểu hiện thị giác:

  1. Cấu trúc mặt bằng: Dựa trên phân loại của Tạ Trường Xuân (2006), chương này hệ thống 06 dạng mặt bằng bảo tàng:
    • Dạng 1: Các phòng trưng bày nối liên tục bằng hành lang (áp dụng tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam).
    • Dạng 2: Các phòng trưng bày nối với nhau bằng hành lang nhà cầu (áp dụng tại Bảo tàng Văn hóa các Dân tộc Việt Nam tại Thái Nguyên).
    • Dạng 3: Mặt bằng có cấu trúc nhiều sảnh (áp dụng tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam).
    • Dạng 4: Mặt bằng có một phòng trung tâm tỏa tròn/phóng xạ (áp dụng tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam).
    • Dạng 5: Mặt bằng xuyên phòng không có hành lang, ngăn cách bằng vách di động hoặc tủ kính (áp dụng tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia).
    • Dạng 6: Cấu trúc bê tông hình xoáy ốc (áp dụng tại Bảo tàng Hà Nội, Bảo tàng BMW tại Đức).
  2. Tạo hình nghệ thuật: Phân tích cấu trúc hình khối không gian 3 chiều (điểm, đường, diện, khối). Khảo sát vai trò của vật liệu công nghiệp hiện đại (gỗ MDF, HDF, tấm thạch cao, tấm xi măng, tấm uco, kính, kim loại, composite) kết hợp vật liệu tự nhiên (gỗ, đá, tre, nứa, mây, lá cọ) nhằm khơi gợi cảm xúc văn hóa bản địa. Phân tích tác động tâm lý thị giác của màu sắc (màu đỏ gây kích thích, gợi nhiệt huyết cách mạng; màu sáng mở rộng không gian; màu tối thu hẹp thị trường).
  3. Ánh sáng, hiện vật trưng bày và kỹ thuật công nghệ: Đánh giá cơ chế tương tác giữa ánh sáng tự nhiên và ánh sáng nhân tạo; vai trò của hiện vật gốc với tư cách là hạt nhân trung tâm của không gian; khả năng tích hợp công nghệ tương tác kỹ thuật số.

Chương 2: Hình thức biểu hiện của nghệ thuật trưng bày bảo tàng ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (48 trang)

Chương 2 là phần khảo sát thực chứng, phân tích chi tiết hình thức biểu hiện của nghệ thuật trưng bày tại ba bảo tàng lịch sử - xã hội tiêu biểu mang tính quốc gia:

  • Bảo tàng Lịch sử Quốc gia: Phân tích đặc thù không gian kiến trúc có sẵn với cấu trúc mặt bằng xuyên phòng không hành lang. Tác giả đánh giá giải pháp phân chia không gian bằng vách ngăn nhẹ, tủ kính và hệ thống đai vách theo tiến trình lịch sử. Luận án khảo sát sự kiện tháng 8 năm 2013 khi Bảo tàng Lịch sử Quốc gia lần đầu tiên ứng dụng công nghệ 3D xây dựng bảo tàng ảo tại Việt Nam, cho phép công chúng tương tác từ xa qua môi trường internet. Đánh giá chất lượng thẩm mỹ của các cuộc trưng bày chuyên đề và trưng bày lưu động trong và ngoài nước.
  • Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam: Phân tích mặt bằng phức hợp gồm nhiều phòng nối liên tục bằng hành lang kết hợp cấu trúc nhiều sảnh độc lập (khu vực trưng bày S2, S3, S4) với tuyến tham quan dích dắc và đường thẳng. Đánh giá tạo hình nghệ thuật của khu vực trưng bày ngoài trời quy mô lớn lưu giữ các hiện vật thể khối lớn (máy bay, xe tăng, pháo, tên lửa). Luận giải hạn chế về diện tích trưng bày nội thất nhỏ hẹp, sự ngắt quãng trong mạch cảm xúc tham quan do hành lang chia cắt, và việc sử dụng các tổ hợp mỹ thuật đai vách nhằm bù đắp giới hạn không gian.
  • Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam: Khảo sát cấu trúc mặt bằng một phòng trung tâm hình tròn kết hợp các nhánh trưng bày tỏa tròn xung quanh (cấu trúc phóng xạ). Đánh giá sự thành công trong việc kết hợp trưng bày trong nhà với khu trưng bày ngoài trời (các công trình kiến trúc dân gian của các dân tộc Việt Nam). Phân tích việc ứng dụng phương pháp biên soạn chú thích của Christine Mullen Kreamer, kết hợp giải pháp trưng bày mô phỏng và ước lệ sân khấu hóa, tạo môi trường tham quan sinh động, giảm thiểu sự đơn điệu cho công chúng.

Chương 3: Những bàn luận và xu hướng nghệ thuật trưng bày bảo tàng ở Việt Nam (50 trang)

Chương 3 tổng kết các vấn đề thực tiễn và định hướng phát triển:

  • Bàn luận về thực trạng nghệ thuật trưng bày bảo tàng: Chỉ ra các điểm nghẽn về tư duy trưng bày mang nặng tính bài trí kho hiện vật; thiếu tính đồng bộ giữa thiết kế nội dung khoa học và thiết kế hình thức mỹ thuật; sự lạc hậu về vật liệu bục bệ, tủ kính và kỹ thuật chiếu sáng chuyên dụng.
  • Khẳng định vai trò và vị trí của nghệ thuật trưng bày: Luận chứng nghệ thuật trưng bày là ngôn ngữ đặc trưng, phương tiện biểu hiện cốt lõi để bảo tàng thực hiện chức năng xã hội và giáo dục truyền thống; là một phân ngành cấu thành của mỹ thuật ứng dụng hiện đại.
  • Dự đoán các xu hướng phát triển thẩm mỹ:
    • Xu hướng số hóa, ứng dụng công nghệ tương tác đa phương tiện, bảo tàng ảo 3D và các giải pháp trình chiếu hiện đại.
    • Xu hướng chuyển dịch từ trưng bày tĩnh sang trưng bày động, tăng cường trải nghiệm xúc giác và thị giác cho khách tham quan.
    • Xu hướng kết hợp vật liệu công nghiệp hiện đại với vật liệu bản địa truyền thống, xây dựng phong cách trưng bày bảo tàng Việt Nam hiện đại, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học và lý luận:

  • Luận án là công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu về nghệ thuật trưng bày bảo tàng dưới góc độ lý luận và lịch sử mỹ thuật, góp phần bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận cho chuyên ngành mỹ thuật ứng dụng tại Việt Nam.
  • Xác lập hệ thống 5 yếu tố cấu thành hình thức biểu hiện của nghệ thuật trưng bày bảo tàng (cấu trúc mặt bằng, tạo hình nghệ thuật, ánh sáng, hiện vật trưng bày, kỹ thuật công nghệ) dựa trên khung lý thuyết hình thái học nghệ thuật.
  • Khẳng định nghệ thuật trưng bày bảo tàng là một ngành hoạt động văn hóa và khoa học kỹ thuật, có vị trí quan trọng trong việc tổ chức không gian bảo tàng hiện đại.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bức tranh phân tích, đánh giá thực trạng nghệ thuật trưng bày tại ba bảo tàng lịch sử - xã hội hàng đầu Việt Nam (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam) trong giai đoạn 2011 - 2020.
  • Kết quả nghiên cứu đóng vai trò là tài liệu tham khảo thực tiễn cho các công ty thiết kế mỹ thuật, họa sĩ thiết kế trưng bày nội ngoại thất và cán bộ quản lý, giám tuyển bảo tàng.
  • Đóng góp nguồn tư liệu khoa học phục vụ công tác giảng dạy, biên soạn giáo trình chuyên ngành thiết kế nội thất và thiết kế đồ án trưng bày triển lãm, bảo tàng tại các cơ sở đào tạo mỹ thuật ứng dụng.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ văn bản:

  • Đổi mới toàn diện quy trình thiết kế trưng bày: cần có sự phối hợp hữu cơ ngay từ đầu giữa thiết kế nội dung khoa học và thiết kế hình thức nghệ thuật thị giác.
  • Nâng cấp đồng bộ trang thiết bị kỹ thuật trưng bày: chuẩn hóa hệ thống chiếu sáng chuyên dụng, vật liệu tủ kính, bục bệ và kiểm soát môi trường trưng bày.
  • Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ tương tác 3D và kỹ thuật số vào không gian trưng bày để đa dạng hóa hình thức tiếp cận cho công chúng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi khảo sát thực chứng của luận án tập trung chủ yếu vào 3 bảo tàng quốc gia thuộc loại hình bảo tàng lịch sử - xã hội tại khu vực Hà Nội. Các bảo tàng chuyên ngành khác (khoa học kỹ thuật, lịch sử tự nhiên, nghệ thuật) và hệ thống bảo tàng địa phương, ngoài công lập chỉ được đề cập ở mức độ liên hệ, chưa khảo sát sâu.
  • Giới hạn khung thời gian khảo sát kết thúc ở mốc năm 2020 (gắn với Quy hoạch tổng thể hệ thống bảo tàng theo Quyết định số 156/2005/QĐ-TTg), do đó chưa bao quát hết những biến chuyển nhanh chóng của công nghệ trưng bày số hóa giai đoạn sau đại dịch Covid-19.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các bảo tàng thuộc loại hình nghệ thuật, khoa học tự nhiên và hệ thống bảo tàng ngoài công lập đang phát triển tại Việt Nam.
  • Khảo sát sâu hơn về tác động hành vi và tâm lý tiếp nhận thị giác của các nhóm đối tượng công chúng khác nhau đối với các hình thức trưng bày công nghệ mới và bảo tàng ảo trực tuyến.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo học thuật và nghiệp vụ cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, sinh viên các ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật, Mỹ thuật ứng dụng, Thiết kế nội thất, Bảo tàng học: Tham khảo khung phân tích hình thái học nghệ thuật trưng bày, các quy chuẩn về cấu trúc mặt bằng, nhân trắc học và tạo hình không gian.
  • Họa sĩ thiết kế, kiến trúc sư nội thất, các công ty thiết kế mỹ thuật: Vận dụng các giải pháp thực tế về tổ chức tuyến tham quan, xử lý mối tương quan vật liệu nhân tạo - tự nhiên và bố cục ánh sáng trong không gian trưng bày chuyên biệt.
  • Cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn phụ trách trưng bày tại các bảo tàng: Tham khảo quy trình tổ chức thiết kế trưng bày khoa học, kinh nghiệm ứng dụng bảo tàng ảo 3D và các tiêu chuẩn đánh giá nâng cấp chất lượng thẩm mỹ không gian bảo tàng.

Phần đáng tham khảo nhất trong văn bản:

  • Hệ thống phân loại 06 dạng cấu trúc mặt bằng bảo tàng gắn với thực tiễn các bảo tàng tại Việt Nam (thuộc Chương 1).
  • Khung phân tích 5 yếu tố cấu thành hình thức biểu hiện của nghệ thuật trưng bày bảo tàng (Chương 1 và Chương 2).

Câu hỏi thường gặp

1. Hệ thống bảo tàng tại Việt Nam có quy mô số lượng như thế nào theo số liệu văn bản trích dẫn? Theo số liệu của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đăng trên cổng thông tin điện tử ngày 08 tháng 02 năm 2019 được luận án trích dẫn, Việt Nam có 162 bảo tàng, bao gồm 126 bảo tàng công lập và 36 bảo tàng ngoài công lập.

2. Năm yếu tố cấu thành hình thức biểu hiện của nghệ thuật trưng bày bảo tàng được luận án xác định là gì? Tác giả luận án xác định 5 yếu tố cấu thành hình thức biểu hiện gồm: (1) Cấu trúc mặt bằng, (2) Tạo hình nghệ thuật, (3) Ánh sáng, (4) Hiện vật trưng bày, và (5) Kỹ thuật công nghệ.

3. Luận án vận dụng lý thuyết Hình thái học nghệ thuật của M. Cagan để định vị nghệ thuật trưng bày bảo tàng như thế nào? Dựa trên tiêu chuẩn bản thể học và ký hiệu học của M. Cagan, luận án xếp nghệ thuật trưng bày bảo tàng vào lớp nghệ thuật không gian (nghệ thuật tạo hình), thuộc nhóm nghệ thuật kiến trúc tính (không miêu tả). Loại hình này mang bản chất họ hàng với kiến trúc và mỹ thuật ứng dụng, lấy giá trị mỹ học của mối tương quan các yếu tố tạo hình làm ngôn ngữ biểu đạt.

4. Khung thời gian nghiên cứu 2011 - 2020 của luận án được xác lập dựa trên những căn cứ nào? Khung thời gian được xác lập dựa trên hai căn cứ pháp lý: năm 2011 đánh dấu sự ra đời của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia theo Quyết định số 1674/QĐ-TTg ngày 26/09/2011 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở sáp nhập Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Bảo tàng Cách mạng Việt Nam; năm 2020 là mốc thời gian hoàn thành theo Quyết định số 156/2005/QĐ-TTg ngày 23/06/2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống bảo tàng Việt Nam đến năm 2020.

5. Ứng dụng công nghệ tương tác 3D (bảo tàng ảo) lần đầu tiên được ghi nhận tại bảo tàng nào ở Việt Nam và vào thời điểm nào? Theo văn bản luận án, hình thức trưng bày ứng dụng công nghệ tương tác 3D để xây dựng bảo tàng ảo lần đầu tiên được ứng dụng tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia vào tháng 8 năm 2013.

Kết luận

Luận án của tác giả là công trình nghiên cứu chuyên ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật, giải quyết vấn đề nghệ thuật trưng bày bảo tàng dưới góc độ mỹ thuật ứng dụng và tạo hình không gian. Bằng việc vận dụng lý thuyết hình thái học nghệ thuật và phương pháp nghiên cứu liên ngành định tính, công trình đã làm sáng tỏ 5 yếu tố cấu thành hình thức biểu hiện thị giác tại ba bảo tàng lịch sử - xã hội tiêu biểu ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp cơ sở lý luận cho ngành mỹ thuật ứng dụng mà còn cung cấp hệ thống luận cứ thực tiễn phục vụ công tác đổi mới trưng bày và đào tạo thiết kế nội ngoại thất bảo tàng.