Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Với mục đích và những nhiệm vụ cụ thể của luận án, NCS rất có ý thức rằng ngoài việc xác định rõ đối tượng nghiên cứu, hệ thống lý thuyết áp dụng, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu thì việc hệ thống các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến nghệ thuật NTTB bảo tàng, các khía cạnh của mỹ thuật ứng dụng, đây là một bước đi quan trọng trong việc nghiên cứu đối với luận án của mình. Qua quá trình tìm hiểu tham khảo và tập hợp tư liệu của các công trình đã công bố, NCS đã khai thác và kế thừa những thành tựu đạt được của các công trình đó có liên quan đến đề tài luận án. Sau khi phân tích và có những khoảng trống trong nghiên cứu đó, NCS đã áp dụng những phương pháp biện luận và đưa ra những cách tiếp cận phù hợp nhất, mang lại hiệu quả cao trong quá trình nghiên cứu luận án.
Trên cơ sở hệ thống các tài liệu liên quan, NCS đã phân chia những công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến luận án của NCS thành ba nhóm như sau: thứ nhất là nhóm Những công trình liên quan đến mỹ học và hình thái học nghệ thuật; thứ hai là nhóm Những công trình liên quan đến mỹ thuật học và mỹ thuật ứng dụng; thứ ba là nhóm Những công trình liên quan đến NTTB bảo tàng. Những công trình liên quan đến mỹ học và hình thái học nghệ thuật Năm 1996, cuốn Mỹ học với tư cách là một nhà khoa học [60] của Đỗ Huy, Nxb Chính trị quốc gia. Ấn phẩm này cho thấy sự hình thành và phát triển của khoa học mỹ học, những nguyên lý, phạm trù cơ bản của biện chứng về: cái đẹp, cái bi, cái hài, cái cao cả… trong quan điểm Mác - xít. Năm 2002, cuốn Mỹ học [36] của Denis Huisman, do Huyền Giang dịch, Nxb Thế giới, đã đưa ra một cách nhìn tổng quan về toàn bộ hệ thống 11 mỹ học thế giới từ giai đoạn đầu cho đến thời hiện đại.
Tác giả Denis Huisman đưa ra tập hợp các cách tiếp cận về mỹ học, triết học, tâm lý học và xã hội học, cách tiếp cận đó đề cập đến bản chất, tiêu chuẩn và các giá trị của nghệ thuật. Hình thái học nghệ thuật đã được nhiều nhà mỹ học Mác - xít nghiên cứu gắn với truyền thống mỹ học châu Âu. Các nghiên cứu về nghệ thuật tĩnh, nghệ thuật động, nghệ thuật từ ngữ, nghệ thuật miêu tả, nghệ thuật ứng dụng của những nhà mỹ học Mác - xít đã đạt được khá nhiều thành tựu quan trọng trong việc làm sáng tỏ các loại hình lớn, loại hình con, loại thể nghệ thuật. Mấu chốt của những nghiên cứu này là cần kết hợp các giá trị mỹ học truyền thông với các giá trị hiện đại.
Mỹ học Mác - xít coi hình thái học và nghệ thuật không có ranh giới siêu hình. Nguyên tắc tính thống nhất của phương pháp logich và phương pháp lịch sử trong nghiên cứu hình thái học nghệ thuật có ý nghĩa to lớn. Năm 2004, cuốn Hình thái học của nghệ thuật [79] của M.Cagan, do Phan Ngọc biên dịch. Trong lĩnh vực mỹ học, cuốn sách hình thái học nghệ thuật (Morfologia Iskusjtva) của M.Cagan, Giáo sư Mỹ học trường đại học S.Pêtébua là một tác phẩm chuyên khảo đầu tiên một cách có hệ thống heo quan điểm Mác-xít về cơ cấu nội tại của thế giới nghệ thuật.
Hình thái học nghệ thuật là một tác phẩm lớn nghiên cứu cơ cấu toàn bộ thế giới của nghệ thuật, tác giả chú ý đến phát hiện tất cả những cấp độ căn bản của sự phân chia hoạt động sáng tạo nghệ thuật. “Hình thái nghệ thuật học là khoa học nhận thức những quy luật tổ chức bên trong của thế giới nghệ thuật với tư cách là một hệ thống những lớp, những nhóm, những loại hình (loại hình lớn, loại hình con) và các thể của nó” [79, tr. Các luận điểm này, giúp NCS lý giải về cách thức phân định đồng thời nêu ra bản chất giao biến giữa các loại hình, loại thể của nghệ thuật nói chung và của loại hình NTTB bảo tàng nói riêng. 12 Đối với một người làm công tác nghiên cứu, ngoài các vấn đề chính là lý thuyết nghiên cứu, xác định tính mới trong đề tài nghiên cứu, việc nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài là một cơ sở khoa học, là nền tảng vững chắc cho luận án.
Những công trình liên quan đến mỹ thuật học và mỹ thuật ứng dụng 1. Mỹ thuật học Năm 2006, cuốn Văn học và các loại hình nghệ thuật [87] của Lê Lưu Oanh, Nxb Đại học sư phạm. Cuốn sách giới thiệu về một số vấn đề cơ bản của nghệ thuật có liên quan chặt chẽ với các nội dung cần hiểu biết về lí luận luận văn học như đối tượng nối dung, nguồn gốc sáng tạo và chức năng xã hội thẩm mỹ của của nghệ thuật, cuốn sách cũng giới thiệu một số đặc trưng thẩm mỹ của nghệ thuật Việt Nam… Ấn phẩm này giúp cho NCS có một cái nhìn về chức năng thẩm mỹ của nghệ thuật để NCS có thể biện luận các luận điểm của mình trong quá trình nghiên cứu. Năm 2011, cuốn Nghệ thuật học [71] của Đỗ Văn Khang chủ biên, Nxb Thông tin và truyền thông.
Cuốn sách đã phân tích các học thuyết cũ về nguồn gốc nghệ thuật, các thành tựu cơ bản của nghệ thuật phương Tây, nghệ thuật phương Đông, nghệ thuật hiện đại, đề cập đến bản chất và phương pháp sáng tác cơ bản của nghệ thuật, với một chương phân tích về tác phẩm và hình tượng là cơ sở để khám phá, sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật, nội dung này ghi rõ: Nghệ thuật khác với các hình thái xã hội khác, nó được coi là hình thái đặc thù. Vì trong nghệ thuật, nghệ sĩ và người thưởng thức đều đắm mình trong khâu trung gian, đó là vì hình tượng nghệ thuật. Nghệ sĩ dùng hình tượng để gửi thông điệp đến công chúng. Công chúng thưởng thức nghệ thuật là thưởng thức các hình tượng nghệ thuật do nghệ sĩ sáng tạo ra [71, tr.
13 NCS rất đồng thuận với quan niệm này, trong NTTB bảo tàng việc người họa sĩ thiết kế phải đưa ra được hình tượng nghệ thuật trong không gian trưng bày là gì qua đó sẽ truyền tải đến người tham quan một cách tích cực nhất. Ấn phẩm cũng đã phân tích cách thưởng thức nghệ thuật thông qua các loại hình loại thể, thưởng thức nghệ thuật là thưởng thức các tác phẩm nghệ thuật cụ thể. Qua đó giúp NCS có cái nhìn tổng thể về nguồn gốc và hình tượng nghệ thuật thông qua các loại hình nghệ thuật thị giác. Mỹ thuật ứng dụng Trong lĩnh vực thiết kế mỹ thuật ứng dụng, có nhiều tác giả đã nghiên cứu về những hệ thống lý thuyết về chuyên ngành thiết kế, phương pháp luận design, về tạo hình, nguyên lý thị giác… đây là những cuốn tài liệu chuyên biệt dành cho lĩnh vực mỹ thuật công nghiệp.
Sau đây là một vài tài liệu tiêu biểu mà NCS thấy liên quan nhiều đến quá trình nghiên cứu luận án của mình: Năm 1996, cuốn Thiết kế nội thất [43] của tác giả Francis D.Chinh, được biên dịch từ nhóm dịch giả Thái Hoàng, Văn Đoàn, Nguyễn Thanh Nguyên, hiệu đính Nguyễn Kim Chi thiên về những nguyên lý thiết kế và những mối quan hệ thiết kế về công năng, cấu trúc, chất lượng thẩm mỹ có vai trò quyết định trong không gian nội thất, nghiên cứu hiển thị về bản chất và thiết kế những bố cục nội thất hàm chứa nội dung và hình thức sinh động. Năm 2000, cuốn Ecgônômi trong thiết kế và sản xuất [83] của tác giả Nguyễn Bạch Ngọc, tác giả đã nêu ra các nguyên tắc quy chuẩn Ecgônômi trong thiết kế nội thất, các chỉ số về nhân trắc học theo tiêu chuẩn của người Việt Nam được áp dụng vào không gian và trang thiết bị nội thất phục vụ con người. Đây là một trong những cuốn sách mà NCS nhận thấy rất gần và quan trọng trong việc làm thiết kế nội thất, tất cả các sản phẩm mỹ thuật ứng dụng trong đó có NTTB bảo tàng sinh ra đều được phục vụ cho con người, vậy thì 14 điều đầu tiên những sản phẩm đó phải đảm bảo công năng và các tiêu chí đảm bảo phục vụ con người một cách tốt nhất. Năm 2003, cuốn Cơ sở phương pháp luận Design [108] được xuất bản lần đầu vào năm 2003 và tái bản năm 2012 của tác giả Lê Huy Văn biên soạn và đưa ra những kiến thức về phương pháp luận Design.
Ấn phẩm viết: Tạo dáng công nghiệp nằm trong quá trình chuẩn bị và phát triển của sản phẩm và hệ thống sản phẩm mà trong đó yếu tố thẩm mỹ là một thành phần thống nhất gắn bó hữu cơ với các thành phần khác như khoa học, công nghệ, thiết kế… nhằm tối ưu hóa về giá trị sử dụng, thỏa mãn các nhu cầu về văn hóa - thẩm mỹ của chế độ xã hội thích hợp với những điều kiện của nền sản xuất công nghiệp phát triển [108, tr. Qua đó NCS có thể sử dụng khái niệm tạo dáng một cách rộng rãi cho các sản phẩm được sản xuất bằng phương pháp công nghiệp, liên hệ với luận án của NCS với NTTB bảo tàng, thì yếu tố tạo hình yếu tố thẩm mỹ là rất quan trọng nó có phù hợp với thị hiếu của công chúng và xã hội hay không, có phù hợp về văn hóa đặc thù của nền văn hóa Việt nam hay không… với cơ sở này sẽ giải quyết được phương pháp thiết kế trưng bày và thi công thích hợp cho từng bảo tàng. Năm 2006, cuốn Những nền tảng của mỹ thuật - Lý thuyết và thực hành [88] của Ocvirk, Stinson, Wigg, Bone, Cayton, Lê Thành dịch, Nxb Mỹ thuật. Nội dung cuốn sách này trình bầy đầy đủ các yếu tố hình thành cơ bản của ngành mỹ thuật và cả một chặng đường phát triển, từ bố cục, đường nét, sắc độ, hình dạng, màu sắc, đến cấu trúc cơ bản, rồi không gian của nghệ thuật chiều thứ ba và cả nội dung, phong cách… rất chi tiết.
Ấn phẩm này đã cung cấp đầy đủ chi tiết các thành tố cấu thành của một nghệ thuật, giúp cho NCS nắm vững những thành tố cấu thành tố đó ứng dụng vào việc trưng bày bảo 15 tàng, với các tỷ lệ, bố cục, màu sắc, ánh sáng, hình dạng… thông qua nghệ thuật thị giá truyền tải đến người xem, đây là một trong những điều kiện rất căn bản cho một họa sĩ sáng tác thiết kế các công trình mỹ thuật ứng dụng.