Tổng quan về luận án
Bảo tàng đóng vai trò là một thiết chế văn hóa - khoa học trọng yếu trong chiến lược bảo tồn di sản và định hình bản sắc dân tộc. Tính đến ngày 08 tháng 02 năm 2019, theo thống kê chính thức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, hệ thống bảo tàng tại Việt Nam ghi nhận 162 đơn vị, bao gồm 126 bảo tàng công lập và 36 bảo tàng ngoài công lập. Tuy nhiên, phần lớn hệ thống bảo tàng trong nước đang đối mặt với sự bất cập sâu sắc giữa quy mô hiện vật và phương thức truyền tải thị giác; nhiều không gian trưng bày còn đơn điệu, thiếu tính tương tác và lạc hậu về mặt công nghệ lẫn tư duy tạo hình. Hoạt động bảo tồn di sản chỉ có thể phát huy giá trị tối đa khi nội dung lịch sử được chuyển tải qua ngôn ngữ thị giác hiện đại, khoa học và giàu sức biểu cảm. Đúng như nhận định của Giáo sư Trương Quốc Bình: “Việc bảo tồn các di sản văn hóa là một trong những hoạt động gắn liền với việc bảo vệ và phát huy bản sắc dân tộc - tạo dựng sự phát triển của tương lai của mỗi dân tộc từ những mối liên kết đặc thù của quá khứ và hiện tại”.
Khoảng trống học thuật (research gap) cốt lõi nằm ở chỗ: các công trình nghiên cứu bảo tàng học trong nước phần lớn tiếp cận dưới góc độ quản lý văn hóa, lịch sử đơn thuần hoặc nghiệp vụ kiểm kê - bảo quản hiện vật, hoàn toàn thiếu vắng các công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống lý luận mỹ thuật ứng dụng về Nghệ thuật trưng bày (NTTB). NTTB chưa được giải mã tường minh như một hình thái nghệ thuật không gian kiến trúc tính có quy luật tạo hình độc lập. Luận án giải quyết khoảng trống này thông qua việc thiết lập 3 câu hỏi nghiên cứu và 3 giả thuyết tương ứng:
- Câu hỏi nghiên cứu 1 (Q1): NTTB bảo tàng ở Việt Nam đang tồn tại những vấn đề lý luận và thực tiễn nào; nghệ thuật này được biểu hiện thông qua các phương tiện thị giác và không gian nào?
- Câu hỏi nghiên cứu 2 (Q2): Hình thức biểu hiện của NTTB tại ba bảo tàng quốc gia tiêu biểu giai đoạn 2011–2020 được định hình và cấu thành ra sao qua các thành tố không gian, tạo hình, ánh sáng, hiện vật và công nghệ?
- Câu hỏi nghiên cứu 3 (Q3): Hiệu quả thẩm mỹ, vai trò của NTTB trong thiết chế bảo tàng hiện đại là gì, và xu hướng phát triển thẩm mỹ của NTTB bảo tàng ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa sẽ diễn tiến như thế nào?
- Giả thuyết nghiên cứu 1 (H1): NTTB bảo tàng là một loại hình nghệ thuật thuộc lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng, chiếm lĩnh không gian ba chiều và tác động trực tiếp đến cơ quan thụ cảm thẩm mỹ của công chúng thông qua cấu trúc mặt bằng, hình khối, màu sắc, ánh sáng và công nghệ.
- Giả thuyết nghiên cứu 2 (H2): Hình thức biểu hiện của NTTB tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (BTLSQG), Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (BTLSQSVN) và Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (BTDTHVN) phản ánh sự phân hóa về ngôn ngữ tạo hình do sự khác biệt về loại hình, tính chất hiện vật và kịch bản nội dung trưng bày.
- Giả thuyết nghiên cứu 3 (H3): NTTB bảo tàng tại Việt Nam mang những giá trị bản sắc độc đáo nhưng đang bộc lộ những giới hạn trước làn sóng công nghệ 4.0; việc chuyển dịch sang mô hình trưng bày tương tác và bảo tàng ảo là tất yếu nhằm hướng tới tiêu chí “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.
Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự tích hợp liên ngành giữa Lý thuyết Hình thái học nghệ thuật (Art Morphology) của M. Kagan, Lý thuyết Mỹ học Hậu hiện đại (Postmodern Aesthetics) và Lý thuyết Tiếp biến văn hóa (Cultural Acculturation) của Franz Boas và Ruth Benedict. Phạm vi nghiên cứu giới hạn tại 3 bảo tàng lịch sử - xã hội cấp quốc gia hàng đầu tại Hà Nội trong khung thời gian 2011–2020, mốc khởi đầu từ Quyết định số 1674/QĐ-TTg ngày 26/09/2011 thành lập BTLSQG và mốc kết thúc theo Quyết định số 156/2005/QĐ-TTg về Quy hoạch tổng thể hệ thống bảo tàng Việt Nam đến năm 2020.
Literature Review và Positioning
Tổng quan tài liệu nghiên cứu của luận án được phân định thành ba dòng học thuật chính:
Dòng thứ nhất tập trung vào Mỹ học và Hình thái học nghệ thuật. Các công trình tiêu biểu gồm nghiên cứu của Đỗ Huy (1996) về các phạm trù mỹ học biện chứng; Denis Huisman (2002) với các tiếp cận tổng quan về mỹ học, tâm lý học và xã hội học nghệ thuật; đặc biệt là công trình kinh điển Hình thái học của nghệ thuật của M. Kagan (2004). M. Kagan đã xác lập luận điểm nền tảng: “Hình thái nghệ thuật học là khoa học nhận thức những quy luật tổ chức bên trong của thế giới nghệ thuật với tư cách là một hệ thống những lớp, những nhóm, những loại hình (loại hình lớn, loại hình con) và các thể của nó”. Khung phân loại của Kagan phân định nghệ thuật thành nghệ thuật thời gian, nghệ thuật không gian và nghệ thuật không gian - thời gian, đặt nền móng xếp NTTB vào nhóm nghệ thuật không gian mang tính kiến trúc tính (architectonic arts).
Dòng thứ hai bao gồm Mỹ thuật học, Lý luận Design và Mỹ thuật ứng dụng. Lê Lưu Oanh (2006) và Đỗ Văn Khang (2011) luận giải bản chất của hình tượng nghệ thuật như một phương tiện giao tiếp thị giác giữa nghệ sĩ và công chúng. Trong lĩnh vực thiết kế ứng dụng, Francis D. Ching (1996) phân tích sâu sắc các nguyên lý cấu trúc không gian nội thất; Nguyễn Bạch Ngọc (2000) xác lập các tiêu chuẩn Ergonomics (nhân trắc học) cho người Việt; Lê Huy Văn (2003, 2012) phân tích phương pháp luận Design và khái niệm tạo dáng công nghiệp; Ocvirk và cộng sự (2006) hệ thống hóa các nền tảng mỹ thuật cơ bản; Nguyễn Hồng Hưng (2012) và Đỗ Trọng Hưng (2016) phân tích các quy luật tạo hình thị giác; Graham Collier (2017) luận giải mối quan hệ giữa hình thức, không gian và thị giác trong tư duy sáng tạo chủ quan.
Dòng thứ ba là các nghiên cứu trực tiếp về Bảo tàng học và Nghệ thuật trưng bày. Khởi đầu từ Ngô Lao (1963) với cẩm nang trang trí triển lãm; Lâm Bình Tường, Mai Khắc Ứng, Phạm Xanh và Đặng Văn Bài (1980) trong Sổ tay công tác bảo tàng; Christine Mullen Kreamer (1999) với phương pháp xây dựng diễn ngôn chú thích; Timothy Ambrose và Crispin Paine (2000), Gary Edson và David Dean (2001) cung cấp quy trình thiết kế và dàn dựng bảo tàng tiêu chuẩn quốc tế; Nguyễn Thịnh (2002, 2012) làm rõ phương pháp luận thiết kế trưng bày di sản; Tạ Trường Xuân (2006) xác lập 6 mô hình cấu trúc mặt bằng bảo tàng; Lê Thị Minh Lý (2006) đánh giá thực trạng hệ thống bảo tàng dưới góc độ văn hóa học; Võ Quang Trọng và Nguyễn Duy Thiệu (2017) đúc kết thực tiễn trưng bày sống động tại BTDTHVN; Hồ Nam (2019) nghiên cứu nghệ thuật trưng bày triển lãm thương mại như những tác phẩm nghệ thuật tạo hình toàn vẹn chiếm lĩnh không gian.
Trong lịch sử nghiên cứu tồn tại cuộc tranh luận kéo dài giữa hai quan điểm đối lập: một bên coi trưng bày bảo tàng chỉ thuần túy là hoạt động nghiệp vụ hậu cần, sắp đặt kho và tuyên truyền chính trị cơ học (quan điểm bảo tàng học truyền thống); bên kia khẳng định trưng bày là một hình thức sáng tạo nghệ thuật độc lập, có ngôn ngữ tạo hình riêng biệt và là linh hồn quyết định sự sống của thiết chế bảo tàng. Nhà nghiên cứu Đặng Văn Bài đã khẳng định dứt khoát quan điểm thứ hai: “trưng bày là ngôn ngữ đặc trưng của bảo tàng”.
So với các công trình quốc tế như nghiên cứu của Kaulen M.E (2006) trong Sự nghiệp bảo tàng nước Nga (nhấn mạnh trưng bày là cấu phần thiết kế khoa học), Vương Hoàng Quân (2008) trong Cơ sở bảo tàng học Trung Quốc, hay luận án của Sỉ Thon ChănThaVông (2008) về các bảo tàng quốc gia Lào, luận án này định vị sự khác biệt khi tiếp cận bảo tàng từ lăng kính lý luận và lịch sử mỹ thuật, đặt trọng tâm vào việc giải mã giá trị tạo hình thị giác và tổ chức không gian nội thất của các bảo tàng Việt Nam trong tiến trình giao lưu quốc tế.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án đóng góp quan trọng vào việc mở rộng và làm phong phú hệ thống lý luận của ba trường phái học thuật:
- Kế thừa và phát triển Lý thuyết Hình thái học nghệ thuật của M. Kagan: Luận án chứng minh NTTB bảo tàng là một loại hình con đặc biệt thuộc lớp nghệ thuật không gian, mang tính chất của “nghệ thuật kiến trúc tính”. Nghiên cứu chỉ ra rằng NTTB không phải là nghệ thuật miêu tả thuần túy mà là nghệ thuật phi miêu tả nhưng biểu hiện nội dung thông qua mối tương quan cấu trúc giữa các yếu tố tạo hình (hình khối, đường nét, vật liệu, ánh sáng, đai vách, tủ kệ) trong không gian ba chiều.
- Ứng dụng Lý thuyết Mỹ học Hậu hiện đại: Dựa trên các luận điểm của Jean-François Lyotard và Jacques Derrida (được Trần Quang Thái hệ thống hóa năm 2011), nghiên cứu chứng minh sự dịch chuyển từ cấu trúc trưng bày cứng nhắc, độc thoại, tuyến tính sang mô hình không gian giải cấu trúc, đa phương tiện (Multimedia), nghệ thuật số (Digital Art) và trưng bày tương tác 3D.
- Vận dụng Lý thuyết Tiếp biến văn hóa (Acculturation): Kế thừa học thuyết lan tỏa của Franz Boas và Ruth Benedict, luận án luận giải tiến trình du nhập, tiếp nhận các xu hướng thiết kế phương Tây vào Việt Nam, từ đó xác lập mô hình dung hợp giữa công nghệ hiện đại và phong cách thiết kế nội thất bản địa thuần Việt (kế thừa công trình của Võ Thị Thu Thủy, 2009).
Khung phân tích độc đáo
Luận án xây dựng một khung phân tích toàn diện bao gồm 5 thành tố cấu thành cốt lõi của NTTB:
┌────────────────────────────────────────┐
│ NGHỆ THUẬT TRƯNG BÀY BẢO TÀNG │
└───────────────────┬────────────────────┘
│
┌──────────────┬───────────────┼───────────────┬──────────────┐
▼ ▼ ▼ ▼ ▼
┌──────────────┐┌──────────────┐┌──────────────┐┌──────────────┐┌──────────────┐
│ Cấu trúc ││ Tạo hình ││ Ánh sáng ││ Hiện vật ││ Kỹ thuật │
│ mặt bằng ││ nghệ thuật ││ thẩm mỹ & ││ trưng bày ││ công nghệ │
│ (6 dạng mặt ││(Khối, Màu, ││ chiếu sáng ││ (Hiện vật ││ (Đa phương │
│ bằng không ││ Vật liệu, ││ chuyên dụng ││ gốc, bục bệ,││ tiện, 3D, │
│ gian) ││ Đồ họa) ││ ││ sa bàn) ││ Bảo tàng ảo)│
└──────────────┘└──────────────┘└──────────────┘└──────────────┘└──────────────┘
Khung phân tích này tích hợp 4 hình thức nghệ thuật trưng bày: (1) Sắp xếp theo trình tự khoa học; (2) Ước lệ sân khấu hóa; (3) Mô phỏng sinh cảnh/môi trường tự nhiên; (4) Khoa học kỹ thuật tương tác. Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích được xác lập tối ưu cho các thiết chế bảo tàng lịch sử xã hội, nhân văn và nhân học tại các quốc gia đang phát triển trong quá trình hiện đại hóa.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án áp dụng lập trường nhận thức luận Hiện thực có phê phán (Critical Realism) kết hợp với Thông diễn học (Interpretivism), giúp xem xét không gian bảo tàng vừa như một thực thể vật chất khách quan có cấu trúc hình học, vừa như một không gian biểu tượng chứa đựng các tầng nghĩa văn hóa - lịch sử.
Phương pháp tiếp cận liên ngành (Interdisciplinary Approach) được triển khai xuyên suốt, kết hợp công cụ phân tích của Mỹ thuật học (Visual Arts Analysis), Lý luận Design, Lịch sử học, Dân tộc học và Ergonomics (Nhân trắc học không gian).
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu tuân thủ nghiêm ngặt chuẩn mực khoa học:
- Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu thứ cấp: Khảo sát toàn diện hệ thống hồ sơ bản vẽ kiến trúc, mặt bằng, mặt cắt, phối cảnh nội thất, đề cương kịch bản trưng bày khoa học của 3 bảo tàng khảo sát trong giai đoạn 2011–2020.
- Phương pháp điền dã thực địa (Fieldwork): Trực tiếp khảo sát, đo đạc nhân trắc học, chụp ảnh hiện trạng, quay phim tư liệu và lập sơ đồ phân tích vi khí hậu, luồng tuyến tham quan tại BTLSQG, BTLSQSVN và BTDTHVN.
- Phương pháp thống kê, phân loại: Thống kê và phân loại không gian trưng bày dựa trên hệ thống 6 mô hình bố cục mặt bằng của Tạ Trường Xuân (2006).
- Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh liên văn hóa giữa thực tiễn trưng bày tại Việt Nam với các mô hình bảo tàng quốc tế tiêu biểu như Bảo tàng Thành cổ Acropolis (Hy Lạp) về xử lý tương phản vật liệu bục bệ; Bảo tàng BMW và Mercedes-Benz (Munich, Đức) về cấu trúc xoáy ốc và động tuyến hình học; Bảo tàng Khoa học London và Bảo tàng Khí quyển - Vũ trụ Washington về kỹ thuật tương tác; Bảo tàng Quốc gia Lào về giải pháp trưng bày lịch sử.
- Tam giác đạc dữ liệu (Triangulation): Kết hợp kiểm chứng chéo giữa dữ liệu thực địa (chụp ảnh/đo vẽ), dữ liệu lưu trữ (hồ sơ thiết kế) và ý kiến chuyên gia (phỏng vấn sâu giám tuyển, họa sĩ thiết kế nội thất).
Data và phân tích
- Mẫu nghiên cứu chuyên sâu: Khảo sát thực địa chi tiết 3 bảo tàng quốc gia đại diện cho 3 diện mạo trưng bày: BTLSQG (lịch sử tiến trình, không gian kiểu xuyên phòng và đai vách cố định), BTLSQSVN (lịch sử quân sự, mặt bằng nhiều khối phòng nối hành lang, trưng bày hỗn hợp trong nhà và ngoài trời), BTDTHVN (nhân học văn hóa, mặt bằng tỏa tròn phóng xạ kết hợp kiến trúc ngoài trời).
- Phân tích kỹ thuật không gian: Sử dụng phần mềm mô hình hóa 2D/3D (AutoCAD, 3ds Max) để tái lập sơ đồ luồng tuyến giao thông, mật độ hiện vật và góc nhìn thị giác. Đánh giá tính chính xác của các ứng dụng công nghệ số như hệ thống 3D Interactive Tour được triển khai tại BTLSQG từ tháng 8/2013.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
- Xác lập bản chất bản thể luận của NTTB: Nghiên cứu khẳng định NTTB là một tác phẩm nghệ thuật tạo hình hoàn chỉnh có tính chiếm lĩnh không gian, là khâu trung gian chuyển hóa các khái niệm lịch sử trừu tượng thành trải nghiệm thị giác cụ thể thông qua sự hòa kết giữa hình khối, ánh sáng, vật liệu và hiện vật gốc.
- Chỉ ra sự phân hóa cấu trúc không gian giữa các bảo tàng tiêu biểu:
- BTLSQG: Đặc trưng bởi mặt bằng khung bê tông xuyên phòng (enfilade layout), tận dụng kiến trúc Đông Dương cổ điển nhưng bị hạn chế về khả năng thay đổi tuyến tham quan linh hoạt.
- BTLSQSVN: Tồn tại sự phân mảnh do cấu trúc nhiều khối nhà nối tiếp bằng hành lang, dẫn đến hiện tượng ngắt quãng cảm xúc thẩm mỹ; hệ thống trưng bày ngoài trời với hiện vật thể khối lớn (máy bay, xe tăng) tạo điểm nhấn hoành tráng nhưng đòi hỏi giải pháp chống chịu thời tiết khắt khe.
- BTDTHVN: Ứng dụng thành công cấu trúc một phòng trung tâm tỏa tròn (radial layout) kết hợp trưng bày mô phỏng sinh cảnh và kiến trúc dân gian ngoài trời, tạo ra trải nghiệm sống động, thỏa mãn tiêu chuẩn giám tuyển quốc tế theo đúng quan điểm của Christine Mullen Kreamer.
- Quy luật đối lập và tương phản vật liệu trong tôn vinh hiện vật: Phát hiện quy luật phối hợp chất liệu: sự kết hợp giữa vật liệu nhân tạo công nghiệp (MDF, HDF, kính cường lực, composite, tấm xi măng phẳng) với các vật liệu tự nhiên mang tính bản địa (tre, nứa, gỗ mộc, đá tự nhiên) tạo ra hiệu quả thị giác đối lập mạnh mẽ, tôn vinh độ chân thực của hiện vật cổ vật (minh chứng qua so sánh với giải pháp tại Bảo tàng Acropolis).
- Sự chuyển dịch mô hình từ “trưng bày tĩnh” sang “không gian số tương tác”: Khẳng định bảo tàng ảo 3D và công nghệ tương tác số (ra đời trên thế giới từ năm 2008 và ứng dụng tại BTLSQG từ 2013) là bước chuyển mang tính cách mạng, phá vỡ giới hạn vật lý của không gian trưng bày truyền thống, thích ứng tối ưu với các biến động xã hội (như giai đoạn đại dịch Covid-2020).
Implications đa chiều
- Về lý luận: Bổ sung một khoảng trống học thuật lớn trong ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật Việt Nam, thiết lập hệ thống khái niệm, phạm trù khoa học cho phân ngành Mỹ thuật ứng dụng trong không gian bảo tàng.
- Về phương pháp luận: Cung cấp bộ tiêu chí đánh giá chất lượng thẩm mỹ và quy chuẩn thiết kế không gian trưng bày khả thi cho các nhà nghiên cứu và giám tuyển.
- Về thực tiễn thiết kế: Cung cấp cẩm nang thực hành cho các họa sĩ thiết kế nội thất, công ty thiết kế mỹ thuật về giải pháp tổ chức mặt bằng, xử lý chiếu sáng điểm nhấn (spotlight), phối màu theo chủ đề và lựa chọn vật liệu bền vững.
- Về chính sách quản lý văn hóa: Đóng góp cơ sở khoa học để các cơ quan quản lý (Bộ VHTTDL, Cục Di sản Văn hóa) hoàn thiện tiêu chí xếp hạng bảo tàng theo Điều 51 Luật Di sản Văn hóa và xây dựng chiến lược quy hoạch không gian bảo tàng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
Limitations và Future Research
- Giới hạn về mẫu khảo sát: Nghiên cứu tập trung chuyên sâu vào 3 bảo tàng lịch sử - xã hội cấp quốc gia tại Hà Nội, chưa mở rộng khảo sát định lượng trên toàn bộ 162 bảo tàng trên cả nước, đặc biệt là hệ thống bảo tàng tự nhiên, bảo tàng chuyên ngành khoa học kỹ thuật và bảo tàng tư nhân.
- Giới hạn về bối cảnh thời gian: Khung thời gian nghiên cứu dừng ở năm 2020, chưa kịp đánh giá toàn diện sự bùng nổ của các công nghệ đột phá sau năm 2020 như trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo tăng cường (AR/VR thế hệ mới) và Metaverse trong không gian trưng bày.
- Định hướng nghiên cứu tương lai:
- Mở rộng nghiên cứu so sánh NTTB tại hệ thống bảo tàng ngoài công lập và bảo tàng nghệ thuật đương đại ở khu vực phía Nam (TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng).
- Nghiên cứu định lượng ứng dụng Eye-tracking (theo dõi chuyển động mắt) để đo lường chính xác phản ứng thị giác và hành vi tiếp nhận thẩm mỹ của du khách trước các tổ hợp trưng bày.
- Phát triển khung lý thuyết về Giám tuyển số (Digital Curatorship) và thiết kế trải nghiệm người dùng (UX in Museum) trong không gian ảo.
Tác động và ảnh hưởng
- Tác động học thuật: Trở thành công trình tiên phong cung cấp hệ thống tài liệu tham khảo chính thống phục vụ đào tạo sau đại học và cử nhân chuyên ngành Thiết kế Nội thất, Lý luận Mỹ thuật và Bảo tàng học tại các trường đại học nghệ thuật lớn như Đại học Mỹ thuật Việt Nam, Đại học Kiến trúc, Đại học Mỹ thuật Công nghiệp.
- Chuyển đổi ngành công nghiệp thiết kế sáng tạo: Định hình lại tư duy sáng tác của các họa sĩ thiết kế trưng bày, thúc đẩy việc chuyên nghiệp hóa quy trình từ kịch bản khoa học sang kịch bản tạo hình không gian.
- Bảo tồn và phát huy di sản: Trực tiếp nâng cao sức hấp dẫn của các điểm đến di sản, gia tăng lượng khách tham quan trong nước và quốc tế, biến di sản thành nguồn lực nội sinh đóng góp vào nền kinh tế du lịch bền vững.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và Giảng viên: Tiếp cận được cơ sở lý luận liên ngành vững chắc về mỹ thuật ứng dụng và bảo tàng học.
- Họa sĩ thiết kế và Kiến trúc sư: Nhận được các chỉ dẫn cụ thể về nguyên lý bố cục mặt bằng, nhân trắc học, vật liệu và kỹ thuật ánh sáng ứng dụng trong không gian văn hóa đặc thù.
- Ban Giám đốc và Cán bộ chuyên môn bảo tàng: Có căn cứ khoa học để xây dựng đề cương trưng bày, cải tạo và nâng cấp hệ thống trưng bày thường xuyên và triển lãm chuyên đề.
- Nhà hoạch định chính sách: Sở hữu dữ liệu khoa học tin cậy để thẩm định các dự án đầu tư xây dựng mới hoặc chỉnh lý bảo tàng trên phạm vi cả nước.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Luận án đã mở rộng Lý thuyết Hình thái học nghệ thuật của M. Kagan bằng cách định vị và giải mã chính xác NTTB bảo tàng như một phân nhánh của “nghệ thuật kiến trúc tính” (nghệ thuật không gian phi miêu tả) tại Việt Nam, chứng minh rằng giá trị thẩm mỹ của bảo tàng được tạo nên từ mối tương quan cấu trúc giữa các yếu tố tạo hình ba chiều chứ không đơn thuần là việc xếp đặt hiện vật phẳng.
2. Điểm đổi mới về phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây?
So với các nghiên cứu của Lê Thị Minh Lý (2006) hay Nguyễn Thịnh (2012) vốn nghiêng về văn hóa học và nghiệp vụ bảo tàng, luận án tích hợp phương pháp tiếp cận liên ngành giữa Lý luận Mỹ thuật học, Nguyên lý Design thị giác và Nhân trắc học Ergonomics, sử dụng phương pháp đối sánh trực tiếp với các mô hình bảo tàng quốc tế chuẩn mực (Bảo tàng Acropolis, Bảo tàng BMW).
3. Phát hiện bất ngờ và thú vị nhất từ dữ liệu nghiên cứu?
Việc lạm dụng vật liệu hiện đại đơn điệu (như alu, fomex dán decal phẳng) trong nhiều bảo tàng vô tình làm suy giảm giá trị thiêng liêng của hiện vật gốc; trong khi đó, sự phối hợp đối lập giữa vật liệu bản địa thô mộc (tre, nứa, đá gai) với cấu trúc kiến trúc phẳng tinh tế lại tạo ra hiệu quả thẩm mỹ vượt trội, nâng tầm giá trị cảm xúc của không gian trưng bày.
4. Luận án có cung cấp quy trình tái lặp/thực hành rõ ràng không?
Có. Luận án hệ thống hóa quy trình 8 bước triển khai thiết kế trưng bày theo chuẩn mực quốc tế (kế thừa Timothy Ambrose và Crispin Paine): từ lập kế hoạch, thiết kế sơ bộ, thiết kế chi tiết, hợp đồng, dàn dựng thi công, bố trí hiện vật, mở cửa vận hành đến đánh giá sau trưng bày.
5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo như thế nào?
Tập trung vào chuyển đổi số toàn diện: tích hợp công nghệ AI cá nhân hóa tuyến tham quan, phát triển không gian bảo tàng ảo đa chiều tương tác thực tế mở rộng (XR/Metaverse) và nghiên cứu chuẩn hóa bộ nhận diện thương hiệu thị giác cho toàn bộ hệ thống bảo tàng công lập Việt Nam.
Kết luận
- Luận án là công trình khoa học đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về Nghệ thuật trưng bày bảo tàng tại Việt Nam dưới góc độ Lý luận và Lịch sử mỹ thuật.
- Xác lập cơ sở lý luận vững chắc, chứng minh trưng bày bảo tàng là một loại hình sáng tạo nghệ thuật không gian kiến trúc tính thuộc lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng, mang ngôn ngữ biểu đạt đặc trưng và độc lập.
- Phân tích sâu sắc thực trạng và giải mã thành công hình thức biểu hiện của 3 bảo tàng quốc gia hàng đầu (BTLSQG, BTLSQSVN, BTDTHVN) qua 5 thành tố: cấu trúc mặt bằng, tạo hình, ánh sáng, hiện vật và công nghệ.
- Mở ra 3 hướng nghiên cứu học thuật mới: Giám tuyển mỹ thuật không gian (Spatial Curatorship), Tâm lý học thụ cảm thị giác trong bảo tàng số, và Lý luận thiết kế nội thất di sản mang bản sắc thuần Việt.
- Khẳng định tầm nhìn phát triển của hệ thống bảo tàng Việt Nam trong kỷ nguyên số: hiện đại hóa mạnh mẽ về công nghệ trưng bày tương tác 3D nhưng kiên định giữ vững tính chân thực của hiện vật và chiều sâu bản sắc văn hóa dân tộc.