MỞ ĐẦU Nghệ thuật là một danh từ để chỉ các loại hình như: Hội hoạ, Âm nhạc, Điện ảnh, Sân khẩu, Nhiếp ảnh. Đó là một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội. Nghệ thuật có chức năng nhận thức và phân ánh thế giới khách quan theo một lăng kính nhất định, đồng thời nó cũng đóng một vai trò quan trọng để tái tạo thế giới đó. Nghệ thuật bắt nguồn từ lao động, do đó luôn gắn liền với cuộc sống.
Âm nhạc xuất phát từ những câu hồ khi cần tập trung sức của nhiều người cho một việc cu thể nào đó, Điệu múa nảy sinh từ nhịp điệu của những công việc hàng ngày như đập lúa, giã gạo. Tranh trên vách, trần các hang động nảy sinh từ những quan sát tự nhiên và cuộc sống cùng nhu cầu truyền bá kinh nghiệm khi săn bắn thứ vật, chim muông cho các thế hệ sau. t đầu từ kĩ năng làm công cụ lao động. "Trong quá trình lao động và phát triển, con người biến cái nặng nhọc gian khổ thành trò chơi, luôn cải hóa những giao tiếp bàng ngày thành những hình thái cụ thể để nhận biết, để trao đổi và dễ nhớ.
Điều đó chính là khởi nguồn cũng như là bản chất đầu tiên của nghệ thuật, Con người cảm nhận được các loại hình nghệ thuật bằng ngũ quan của mình. Mặt khác, mỗi loại hình nghệ thuật phan ánh cuộc sống bằng một hệ thống ngôn ngữ riêng biệt và đến với con người bằng những con đường khác nhau. Tuy vậy cũng có nhiều loại hình nghệ thuật có cùng chung một ngôn ngữ biểu hiện và một “cửa ngõ” để đến với nội tâm tình cảm con người. Đó là các môn nghệ thuật đến với con người thông qua “cửa ngõ” thị giác và cùng chung một hệ thống ngôn ngữ là đường nét, hình khối, màu sắc.
như; Kiến trúc, Điêu khắc, Hội hoạ, Đồ hoạ. Các loại hình nghệ thuật đó được gọi bằng một cái tên chung là nghệ thuật tạo hình, hay còn được quen gọi là Mĩ thuật. Ta có thể khái niệm chung nhất về Mĩ thuật như sau: Mĩ thuật là từ chỉ những loại hình nghệ thuật có quan hệ đến sự thụ cảm bằng mắt và sự tạo thành các hình tượng lấy từ thế giới vật chất bên ngoài để đưa lên mặt phẳng hoặc một không gian nào đấy. Mặt phẳng đó có thể là gỗ, giấy, vải, tường, trần nhà.
Không gian có khi là ngoài trời, có khi là trong một căn phòng. Ngôn ngữ mĩ thuật bao gồm các yếu tố như hình - khối; đường — nét; màu — sắc; sự sắp xếp bố cục, nhịp điện. Tuy vậy, ở mỗi loại hình cụ thể như Hội hoạ, Điêu khắc, Đồ hoạ sẽ có cách biểu hiện khác nhau. Điều này tuỳ thuộc vào đặc trưng ngôn ngữ của từng loại hình nghệ thuật.
Nội dung của chương, 1 sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn về ngôn ngữ mĩ thuật được thể hiện qua ba loại hình nghệ thuật: Hội hoạ, Điêu khác và Đồ hoạ. 1) MỤC TIÊU - Hiểu được đặc trưng ngôn ngữ Hội hoạ, Điêu khắc, Đồ hoa. - Phân biệt được sự đồng nhất và khác biệt giữa ngôn ngữ Hội hoạ, Điêu khác và Đồ hoạ. - Biết được sự biểu hiện của ngôn ngữ mĩ thuật thông qua việc phân tích một số tác phẩm Hội hoạ, Điêu khắc, Dé hoa.
NGÔN NGỮ HỘI HOẠ 1. Khái niệm Hội hoạ là loại hình nghệ thuật tạo hình đặc trưng bởi sự biểu hiện không gian trên bề mặt, đó là một không gian ảo, chỉ có thể cảm nhận được bằng thị giác, với các yếu tố như đường nét, màu sắc, hình khối, đậm nhạt, bố cục. để xây dựng hình tượng nghệ thuật, biểu dat cuộc sống thực tế da dạng và phong phú và mang lại xúc cảm thẩm mĩ cho người xem. Người ta gọi đó là bức tranh hay tác phẩm hội hoạ.
Không gian trong hội hoạ vô cùng đa đạng, có thể mang những hình ảnh giống như trong thực tế hoặc đã giản lược chắt lọc đi ít nhiều, cũng có thể là những cảnh tượng được hư cấu khác thường, nhưng vẫn gợi cho người xem liên tưởng về không gian và thế giới hiện thực. Muốn đưa không gian vào tranh, người hoa sĩ phải tạo ra các hình thể, đặt các hình thé đó vào đúng vị trí của nó trên mặt tranh theo quan hệ không gian. Công việc tạo hình này đồi hỏi cố sự sắp xếp, cân nhắc những tương quan vẻ tỉ lệ, đậm nhạt, sắc độ v. Tất cả các thành phần riêng rẽ nầy phải được sắp đặt vào một khuôn khổ nhất định để tạo thành một tổng thể thống nhất và hài hoà.
Thời kì Ai Cập cổ đại, khi vẽ người ta chưa đề cập tới không gian ba chiêu trong tranh. Tất cả các hình tượng được diễn bằng các mảng màu phẳng. và sắp xếp dàn đều trên bể mặt tranh. Đến thời Phục hưng, các nhà nghệ thuật đã tìm tòi, nghiên cứu và đưa ra những quy luật diễn tả gần, xa.
Không gian trong tranh Phục hưng cớ chiều sâu, xa thẳm giống như mắt con người nhìn thấy. Hình tượng nhân vật trong tranh như có một không gian thực sống động đây không khí, tươi mát để sống. Trải qua thời gian, các quan niệm vẽ không gian đôi với các hoa sĩ phương Tây cũng có nhiều thay đối. Đối với phương Đông, không gian trong tranh có những điểm khác với quan niệm của phương Tây.
Các hoạ sĩ phương Đông thích lối tạo hình với không gian ước lệ. Bố cục, tỉ lệ các nhân vật được diễn tả không giống như luật xa gần của phương Tây mà theo quan niệm riêng như viễn cận tẩu mã, viễn cận phi điểu. Như vậy, khi nói đến hội hoạ ta phải nói đến tính không gian. Mặt khác, mỗi vật thể tôn tại trong không gian đều có một hình dạng, màu sắc nhất định.
Ánh sáng giúp ta nhận ra hình dáng, kích thước và màu sắc của chúng và biểu hiện chúng trong hội hoạ. Như vậy, Co hội hoạ cồn có một đặc trưng nữa, đó là tính tạo hình trực tiếp bằng các yếu tố ngôn ngữ tạo hình như hình khối, màu sắc, đường nét. Hình và màu là hai yếu tố cơ bản của hội hoạ. Hình là yếu tố quan trọng, luôn đóng vai trò chủ yếu.
Màu sắc giúp biểu hiện tình cảm và làm cho hội hoạ phong phú, hấp đẫn. Trong lịch sử mĩ thuật đã có những trào lưu nghệ thuật coi trọng hình hoạ hơn màu sắc. Đó là xu hướng nghệ thuật Tân cổ điển Pháp thế kỉ XVII. Những hoạ sĩ thuộc trường phái này cho rằng trong hội hoạ, hình là xương sống, là biểu hiện tri thức, trí tuệ, lí trí, còn màu sắc chỉ là yếu tố phụ, làm tranh thêm vui mắt mà thôi.
Ngược lại, các hoạ sĩ Lãng mạn Pháp thế kí XIX lại cho rằng, cảm xúc của hoạ sĩ phải được bộc lộ bằng nhiều yếu íố tạo hình. Họ cho rằng màu sắc quan trọng hơn bình hoạ. Vì vậy có nhiều hoạ sĩ đi sâu vào nghiên cứu sự biểu hiện của màu sắc: ồn ào và mãnh liệt, lung lĩnh và huyền ảo, đàm thám và lộng lẫy. 'Tuy vậy, ở đây không bàn về tầm quan trọng của các yếu tố tạo hình mà đi vào những vấn đề cơ bản của ngôn ngữ tạo hình trong, một tác phẩm hội hoạ với các yếu tố đường nét, hình khối, màu sắc, bố cục.
Ngôn ngữ hội hoạ 1. Đường nét Theo định nghĩa khoa học thì “đường là tập hợp của nhiều điểm trong chuyển động”. Trong tạo hình, đường nét là yếu tố ổn định nhất, nó là yếu tố cơ bản để tạo ra hình thể. Có nhiêu loại đường và nét, ví dụ như: đường thẳng, đường cong, đường gấp khúc, đường tròn, đường xoáy ốc.; nét đanh, nét thô, nét vung vay, nét chân thực, nét bay bướm, nét đóng, nét mở, nét trơn, nét gai.
Đường và nét được người nghệ sĩ sử dung trong mét tổ hợp. Sự sắp đặt đó nhằm mnục đích tác động vào cảm giác của người xem và gây một hiệu quả nào đó về thẩm mĩ. Người ta có thể dùng đường nét để mô tả hình đạng cấu trúc, trạng, thái của con người, sự vật và thiên nhiên, từ đó truyền cảm trực tiếp đến tình cảm của con người quả thị giác. "Tóm lại, trong hội hoạ, đường và nét luôn đi đôi với nhau, khi vẽ một vật thể, một con người, người ta sử dụng đường và nét để diễn tả.
Chúng ta hãy đi sâu nghiên cứu một số đặc. điểm cơ bản của đường nét. Đường thẳng đứng và đường nằm ngang Phương thẳng đứng là phương hướng vào tâm trái đất, phương của trọng lực, nó là đường cia day doi. Phương nằm ngang là phương thẳng góc với phương thẳng đứng.
Bởi vậy loại đường này thường cho ta cái cẩm giác ngay ngắn, uy nghiêm và vững chãi. Trong, hội hoạ, để tạo ra thế vững chãi, người ta dàng những cặp đường thẳng góc với nhau, đặt song song với hai cạnh của bức tranh để (ạo ra thế vững vàng và ồn định. Đường xiên “Trong thực tế, nhờ có thối quen thị giác, con người để đàng phát hiện ra một bức tường, một cột điện bị nghiêng, một bức tranh treo lệch. Cái cảm giác sấp đổ mà nghiêng ngả đó đều dễ nhận biết vì nó tác động đến cảm giác con người.
Trong hội hoạ cũng vậy, bên cạnh những đường thẳng đứng hoặc nằm ngang, các hoạ sĩ còn phối hợp với những đường xiên, nghiêng. Tất cả những đường nết đó đều đem lại cho người xem những cảm xúc nhất định. Khi xem những bức (ranh “phố” của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái, bên cạnh cái rêu phong gợi cổ ta dễ dàng có cái cảm giác xôn xao gợi nhớ hoài niệm khi nhìn những mái ngối xô nghiêng, những bức Lường xô lệch, những cột điện như không thể giữ nổi cái thế cân bằng già nua do năm tháng. Ở tác phẩm “rao chìa khóa thành Brê-đa” (La Rédesion de Breda) của Vê-lát-skê (Vé lasquez), ta thấy những ngọn giáo của bên thua thì nghiêng ngả, đối lập với những ngọn giáo ngay ngắn thẳng tấp của bên thắng đã cho chúng ta thấy rõ sự đối lập về thế trận.
Như vậy cũng giống như trong thực tế, trong tác phẩm hội hoạ, những đường xiên luôn gây cho ta cắm giác động và không ổn định. (Chúng ta hiểu đường ở đây có thể là một đường cụ thể, cũng có thể là một trục của. một vật thể hay một sự vận động hình thế nào đó. Ví dụ: trục đối xứng của con người, một vật thể, hay hướng vận động của một tổng thể hình nào đó).
Trao chìa khóa thành Brêđa.