Đặt vấn đề về “Sự phát triển không gay hủy diệt”. Đến thập niên 80, tỉ giới đã nhận thức: Sự can thiệp và khai thác thiên nhiên chỉ có trong một giới hạn nhất định, thiên nhiên không phải là vô hạn. Vì tương lai của thế giới, phát triển phải gắn với môi trường, các quan hệ xã hội giữa con người với con người. Nhiều Hội nghị quốc tế được tổ chức để bàn luận È tương lai chung của nhân loại, trong đó các hội nghị đã đạt được bước tiến rất quan trọng về nhận thức là phải làm gì để nền kinh tế thế giới phát triển vươn tới sự hoàn thiện hơn? Đó chính là sự phát triển bền vững.
Thuật ngữ “Phát triển bền vững” lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1980, do Hiệp hội bảo tổn thiên nhiên và tài nguyên quốc tế (IUCN) công bó. Năm 1984, Bà Gro Harlem Brundtland khi đó làm thủ tướng Na Uy đã được Đại \g Liên hợp quốc ủy nhiệm làm Chủ tịch ủy ban môi trường và phát triển thế ¡ (WCED) nay còn gọi là ủy ban Brundtland. Năm 1987, trong bản báo cáo "Tương lai của chúng ta” do ủy ban Brundtland đã công bố PTBV (Sustainable Development): “PTBV là sự phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không tôn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai" và được thế giới công nhận là khái niệm chính thức. Sau đó, còn có các định nghĩa khác: PTBV là sự phát triển không làm tổn hại đến môi trường, không gây ra những thảm họa về sinh thái, thế hệ hôm nay phải khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình sao cho không ảnh hưởng đến việc thỏa mãn nhu cầu của thế hệ mai sau.
Năm 1992, nội hàm khái niệm PTBV được tái khẳng định tại Hội nghị thượng đỉnh trái it hop tai Rio de Janeiro (Braxin) hop bàn về phát triển bền vững toàn cầu, thông qua chương trình nghị sự 21. Hội nghị đã đưa ra 2500 khuyến nghị hành động của cộng đồng quốc tế về phát triển bền vững. Ví dụ các đề xuất giảm các mô hình sản xuất tiêu dùng gây lãng. phí; xóa đói giảm nghèo; bảo vệ nguồn nước, không khí; thúc đẩy nông nghiệp phát triển.
Tiếp tục được bổ sung, hoàn chỉnh năm 2002, tại Hội nghị Thượng đỉnh về phát triển bền vững toàn cầu họp tại Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) đánh giá 10 năm việc thực hiện chương trình nghị sự 21. Các hội nghị đều khẳng định: “PTBV là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển. Đó là: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” và một trong những nội dung cơ bản nhất là con người, trung tâm của sự phát triển. PTBV về kinh tế: được hiểu là sự tiến bộ mọi mặt của nền kinh tế thể hiện ở quá trình tăng trưởng kinh tế cao, ôn định và sự thay đổi về chất của nền kinh tế, gắn với quá trình tăng năng suất lao động.
Mục tiêu của PTBV kinh tế là đạt được sự tăng trưởng ôn định, với cơ cấu hợp lý, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của người dân, tránh được sự suy thoái trong tương lai, tránh gây nợ nắn cho thế hệ mai sau. PTBV về xã hội: Là quá trình phát triển đạt được kết quả ngày càng cao trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Đảm bảo chế độ dinh dưỡng và chăm sóc sức khoẻ cho người dân, mọi người đều có cơ hội trong giáo dục, có việc làm, giảm tình trạng đói nghèo, nâng cao trình độ văn minh về đời sống vật chất và tinh thần cho mọi thành viên của xã hội. PTBV về môi trường: Là khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường.
Như vậy, điều kiện để PTBV là: Tăng trưởng kinh tế trong thời gian dài; Tăng trưởng kinh tế đi đôi giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ cải thiện môi trường và tăng trưởng kinh tế vì con người. Phat triển bên vững làng nghề Các nhà kinh tế phát triển khi tham gia giải quyết lề PTBV tập trung vào 3 vấn đề chính, đó là: (1) Liệu có sự tương thích giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường và bảo đảm xã hội hay không? Nói cách khác, liệu việc bảo vệ môi trường và bảo đảm xã hội có cản trở quá trình tăng trưởng kinh tế? áp dụng cho sự PTBV làng nghề ta thấy: Đặc thù làng nghề là sản xuất kinh doanh ra đời và phát triển trong làng, trong cộng đồng dân cư. Môi trường sản xuất cũng là môi trường sinh hoạt. Vậy có sự mâu thuẫn giữa đời sống kinh tế xã hội và môi trường sinh thái của làng nghề hay không? 10 (2) Su mat cân bằng về Kinh tế - Xã hội - Môi trường trong PTBV.
được giải thích như thế nào? Thực tế hiện nay các làng nghề càng phát triển thì mức độ ô nhiễm càng nặng? Sự phát triển làng nghề một mặt giảm bớt tỷ lệ trẻ em bỏ học mặt khác lại là hạn chế về xã hội khi mọi lứa tuổi đều có thê kiếm tiền bằng nghề truyền thống, bằng con đường tự học? (3) Dé đảm bảo PTBV nói chung và làng nghề n iêng, Chính phủ và làng nghề cần phải làm gì? Tiêu chí đánh giá phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ồn định, tiến bộ công bằng xã hội, khai thác tối đa các nguồn lực, sử dụng hợp lý tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ nâng cao chất lượng môi trường sống. Khái niệm về phát triển bền vững làng nghề không thể tách rời khái niệm về phát triển bền vững. Theo đó ta có thể hiểu: Phát triển bền vững làng nghề chính là quá trình phát triển sản xuất, kinh doanh của các làng nghề. Nhằm thoả mãn như cầu đa dạng và ngày càng phát triển của thể hệ hiện tại.
Mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai. Thực chất sự phát triển bền vững làng nghề về kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế, tăng năng suất lao động trong thời gian dài. Vẻ xã hội là nâng cao chất lượng cuộc sống, mức sống, trình độ dân trí và các giá trị đạo đức của làng nghề. Về môi trường là hạn chế ô nhiễm, bảo vệ môi trường.
Như vậy, phát triển bền vững làng nghề là một nội dung trong chiến lược phát triển bền vững mà Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra. Hoạt động làng nghề chính là một thực thể gắn liền với phát triển bền vững. Làng nghề là một hoạt động kinh tế tổng hợp có định hướng về tài nguyên rõ rệt và có nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng. và xã hội hoá cao.
Chính vì vậy, sự phát triển làng nghề bền vững đòi hỏi có sự nỗ lực chung và đồng bộ của toàn xã hội. Đặc điểm chung của làng nghề và yêu cầu của quá trình phát triển bền vững làng nghề a. Dac điểm chung của làng nghè - Gắn liền với làng quê và sản xuất nông nghiệp Xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng của xã hội, các nghề thủ công truyền thống dần xuất hiện với tư cách là nghề phụ, việc phụ trong các gia đình nông. dân và nhanh chóng phát triển ở nhiều làng quê.
Thời gian dành cho hoạt động sản xuất nông nghiệp là không nhiều, năng suất lao động thấp đã không đảm bảo thu nhập đủ sống cho người nông dân. Vì vậy, nhu cầu tạo việc làm để có thêm thu nhập ngoài sản xuất nông nghiệp trở thành cấp thiết. Đồng thời do tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp, đã tạo ra một sự dư thừa lao. động trong một thời gian nhất định; nhu cầu về sản phẩm TTCN đề phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đời sống dân cư; nguồn nguyên liệu phục vụ cho.
các nghề thủ công tương đối dồi dào. Tất cả những điều đó đã thúc đầy các làng nghề hình thành và phát triển. - Có truyền thống lâu đời Đặc trưng của làng nghề Việt Nam là có truyền thống lâu đời, làng nghề được hình thành từ thời Đông Sơn xa xưa, lúc bấy giờ, số lượng ngành nghề cũng như lao động còn rất ít. Sản phẩm của làng nghề chỉ phục vụ cho.
mục đích hiện tại, đầu tiên là nghề luyện kim, tác động vào nông nghiệp bằng. các công cụ sản xuất có hiệu quả hơn các công cụ cũ (bằng đá, tre, gỗ thô sơ), tiếp theo là để phục vụ cho chiến tranh nên những vũ khí bằng đồng và sắt không thể thiếu. - Có bản sắc văn hóa riêng của Việt Nam Một đặc thù khác của hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống là tính khác biệt, tính riêng, mang phong cách của mỗi nghệ nhân và nét văn hoá đặc trưng địa phương, tồn tại trong sự giao lưu với cộng đồng. Hàng chạm trỏ trên từng.
12 iệu khác nhau (gỗ, đá, đồng, sừng, xương. hàng sơn (sơn quang, sơn then, sơn mài), hàng thêu, dệt (tơ lụa, chiếu, thảm.) hàng mây tre đan, kim hoàn, đồ chơi. ở mỗi làng nghề đều có màu sắc riêng, từng nghệ nhân cũng. có những nét riêng.
Những nét riêng đó được thử thách qua thời gian, qua giao lưu, được chọn lọc, thừa nhận để tồn tại và phát triển, cùng với sự bỗ sung lẫn nhau, trở thành những kiểu mẫu hoàn thiện, đặc sắc cho những sản phẩm cùng loại được sản xuắt, chế tác tiếp sau thẻ hiện bản sắc độc đáo Việt Nam. - Lao động chủ yếu bằng thú công Lao động trong các LN chủ yếu là những người nông dân, địa điểm sản xuất của NTCTT là tại gia đình họ. Họ tự quản lý, phân công lao động, thời gian cho phù hợp với cả việc sản xuất nông nghiệp những lúc mùa vụ và với nghề thủ công những lúc nông nhàn. Về mi quan hệ giữa người nông dân và người thợ thủ công thì Lênin đã nói rất rõ “so với những người tiểu sản xuất hàng hoá, thì người làm nghề thủ công gắn bó với ruộng đất mạnh hơn” [L,tr414].
~ Làng nghè gắn với tên tuổi và tôn tại lâu dài Mỗi làng nghề, thường gắn liền với địa danh của làng đó để đặt tên cho. làng nghề của mình như: làng tranh Đông Hồ, làng gốm Bát Tràng, làng điêu khắc đá Ngũ Hành Sơn, làng mộc Kim Bồng, làng đúc đồng Phước Kiều, làng, đan mây Chương Mỹ, làng dệt lụa Tân Châu. Đây chính là đặc điểm tiêu biểu để phân biệt được sản phẩm riêng có của mỗi làng nghề.