Tổng quan nghiên cứu

Ngày 24 tháng 11 năm 2011, tại Hội nghị lần thứ 6 của Ủy ban liên chính phủ về Bảo tồn Di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO diễn ra ở Bali, Indonesia, hồ sơ Hát Xoan Phú Thọ chính thức được vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại. Dấu mốc lịch sử này phản ánh kết quả của 11 năm nỗ lực từ năm 2000 đến năm 2011 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ. Trên phạm vi không gian 3.533,4 km2 bao gồm 13 đơn vị hành chính cấp huyện và 277 xã, phường, nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề cấp bách: làm thế nào để cứu vãn một loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo đang đứng trước nguy cơ mai một nghiêm trọng khi thế hệ nghệ nhân cao tuổi dần qua đời và không gian diễn xướng cổ truyền bị thu hẹp.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương, nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ từ năm 2000 đến năm 2011, đồng thời phân tích quá trình tổ chức triển khai trên thực tế nhằm bảo tồn các làn điệu Xoan cổ tại 4 phường Xoan gốc gồm Kim Đức, Phù Đức, Kim Đới, Thét thuộc thành phố Việt Trì và làng An Thái thuộc xã Phượng Lâu. Luận văn đánh giá toàn diện những thành tựu đạt được, chỉ rõ những mặt hạn chế trong công tác quản lý văn hóa địa phương, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm quý báu. Về mặt ý nghĩa khoa học và thực tiễn, công trình đóng góp bộ dữ liệu xác thực về quá trình hồi sinh di sản, cung cấp căn cứ để nâng cao năng lực lãnh đạo văn hóa của Đảng bộ tỉnh, bảo tồn thành công 21 làng có tục hát Xoan và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế du lịch bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hóa, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, kết hợp với các quan điểm chỉ đạo cốt lõi từ Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII năm 1998 về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nghiên cứu chuẩn hóa hệ thống 5 khái niệm chuyên ngành căn bản dựa trên Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009:

  • Di sản văn hóa phi vật thể: Sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền qua nhiều thế hệ bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác.
  • Không gian văn hóa và không gian diễn xướng: Môi trường vật chất và xã hội bao gồm đình, đền, miếu và hội làng, nơi di sản văn hóa phi vật thể được thực hành và duy trì sức sống nguyên bản.
  • Bảo vệ di sản văn hóa: Hệ thống các biện pháp pháp lý, hành chính, tu bổ và bảo quản nhằm duy trì tính nguyên gốc, ngăn chặn sự biến dạng và suy giảm của di sản.
  • Phát huy giá trị di sản văn hóa: Việc sử dụng giá trị tinh thần của di sản vào công tác giáo dục truyền thống, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội lành mạnh.
  • Di sản cần bảo vệ khẩn cấp: Khái niệm theo công ước UNESCO năm 2003 chỉ những di sản đang đối mặt với các nguy cơ đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại, thiếu vắng nghệ nhân kế cận và cần hành động can thiệp cứu vãn lập tức.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp nghiên cứu logic được sử dụng chủ đạo xuyên suốt luận văn để phân tích tiến trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ qua hai giai đoạn chiến lược 2000 - 2005 và 2006 - 2011. Nghiên cứu khảo sát trên cỡ mẫu toàn diện gồm 4 phường Xoan cổ gốc và 30 di tích cửa đình có lịch sử thực hành hát Xoan. Phương pháp chọn mẫu chủ đích được áp dụng để tập trung phỏng vấn sâu hơn 100 nghệ nhân, kép hát, đào hát cao tuổi và các hạt nhân văn nghệ tại 3 địa bàn trọng điểm là thành phố Việt Trì, huyện Phù Ninh và huyện Lâm Thao.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích văn kiện lịch sử kết hợp khảo sát điền dã dân tộc học xuất phát từ đặc thù của hát Xoan vốn chủ yếu lưu truyền bằng phương thức truyền khẩu, tư liệu thành văn khan hiếm. Nguồn dữ liệu sơ cấp được khai thác từ hệ thống nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, XV, XVI, các chỉ thị của Ủy ban nhân dân tỉnh cùng 7 nghị quyết chuyên đề về văn hóa - xã hội của Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ. Việc kết hợp đối chiếu văn kiện lưu trữ với dữ liệu thực địa giúp bảo đảm tính khách quan, tái hiện chân thực bức tranh bảo tồn di sản trong suốt 11 năm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu làm sáng tỏ 3 phát hiện mang tính then chốt về thực trạng và sự chuyển biến của di sản Hát Xoan Phú Thọ trong giai đoạn 2000 - 2011:

  • Khủng hoảng lực lượng nghệ nhân truyền dạy: Trước năm 2005, trong tổng số hơn 100 người tham gia các câu lạc bộ Xoan, có tới 26 nghệ nhân trên 80 tuổi và 38 nghệ nhân trên 60 tuổi, chiếm tỷ lệ trên 64%. Tuy nhiên, số lượng nghệ nhân nắm giữ đầy đủ các làn điệu Xoan cổ và có năng lực truyền dạy chỉ còn khoảng 10 người, tương đương chưa đầy 10% tổng số hội viên. Thế hệ trẻ gần như vắng bóng trong các canh hát cửa đình truyền thống.
  • Thu hẹp nghiêm trọng không gian diễn xướng: Trong số 30 cửa đình vốn là nơi thực hành hát Xoan cổ truyền, chỉ có 13 di tích giữ được môi trường diễn xướng đạt chuẩn, chiếm khoảng 43,3%. Có 2 di tích bị xuống cấp trầm trọng và 15 di tích, tương đương 50%, đã mất hoàn toàn không gian trình diễn do tác động của thời gian và quá trình đô thị hóa.
  • Bước ngoặt thể chế và vinh danh quốc tế: Giai đoạn 2006 - 2011 ghi nhận sự bứt phá vượt bậc về mặt chính sách với việc ban hành Quyết định số 349/QĐ-VHTT ngày 15 tháng 2 năm 2006 công nhận phường Xoan An Thái là phường Xoan cấp tỉnh. Toàn tỉnh tổ chức tập huấn thành công cho hơn 100 hạt nhân văn nghệ cơ sở, thành lập Ban xây dựng hồ sơ theo Quyết định số 141/QĐ-SVHTTDL năm 2009, tạo tiền đề để UNESCO chính thức công nhận di sản vào năm 2011.

Thảo luận kết quả

Thực trạng suy giảm Hát Xoan đầu những năm 2000 bắt nguồn từ tác động phức tạp của nền kinh tế thị trường và sự xâm nhập của các dòng âm nhạc đại chúng ngoại lai, khiến thị hiếu giới trẻ thay đổi. So sánh với các công trình của những nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian công bố từ năm 1958 đến năm 1997, hát Xoan từng có sức sống mạnh mẽ tại 21 làng cổ nhưng dần bị biến dạng khi thiếu cơ chế bảo trợ công quyền. Việc Đảng bộ tỉnh kịp thời ban hành Chỉ thị số 17/2005/CT-UBND và Nghị quyết số 56/2003/NQ-HĐND đã tái lập sự tương thích giữa bảo tồn văn hóa và phát triển kinh tế địa phương.

Dữ liệu khảo sát thực tế có thể được mô tả trực quan thông qua biểu đồ tròn phản ánh cơ cấu độ tuổi nghệ nhân, làm nổi bật khoảng trống chuyển giao thế hệ khi nhóm trên 60 tuổi chiếm ưu thế tuyệt đối. Bên cạnh đó, một bảng ma trận phân loại hiện trạng 30 di tích cửa đình (43,3% còn nguyên vẹn, 6,7% xuống cấp, 50% mất không gian) là luận cứ trực quan chứng minh tính đúng đắn khi tỉnh quyết định xây dựng hồ sơ theo diện cần bảo vệ khẩn cấp thay vì hồ sơ đại diện nhân loại. So với nguồn vốn ngân sách nhà nước chi 865,42 tỷ đồng để chống xuống cấp 506 lượt di tích toàn quốc giai đoạn 2006 - 2008, chính sách huy động nguồn lực xã hội hóa khoảng 145 tỷ đồng mỗi năm tại Phú Thọ đã chứng minh hiệu quả lãnh đạo linh hoạt của Đảng bộ cơ sở.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Hoàn thiện chế độ đãi ngộ nghệ nhân: Ban hành chính sách trợ cấp sinh hoạt cố định hằng tháng và hỗ trợ bảo hiểm y tế cho các nghệ nhân dân gian nắm giữ làn điệu Xoan cổ. Đặt mục tiêu nâng số lượng nghệ nhân có khả năng truyền dạy độc lập từ 10 người lên tối thiểu 40 người trong giai đoạn 5 năm tiếp theo. Cơ quan thực hiện: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Sở Tài chính tỉnh Phú Thọ.
  • Khôi phục không gian diễn xướng và tu bổ di tích: Tiến hành quy hoạch phục dựng 15 cửa đình đã mất không gian văn hóa và hoàn thành việc tu bổ 2 di tích bị xuống cấp nghiêm trọng với mục tiêu 100% các cửa đình gốc đạt chuẩn diễn xướng trong lộ trình 3 năm. Cơ quan thực hiện: Ủy ban nhân dân thành phố Việt Trì và Ủy ban nhân dân các huyện Phù Ninh, Lâm Thao.
  • Đưa Hát Xoan vào hệ thống giáo dục học đường: Biên soạn giáo trình chuẩn và triển khai giảng dạy hát Xoan trong chương trình giáo dục địa phương tại 100% trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông trên toàn tỉnh, tiếp cận hơn 200.000 học sinh mỗi năm học. Cơ quan thực hiện: Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Phú Thọ.
  • Phát triển sản phẩm du lịch di sản bền vững: Xây dựng tour du lịch trải nghiệm Hát Xoan làng cổ gắn với Lễ hội Đền Hùng, hướng tới mục tiêu tăng trưởng 15% đến 20% lượng du khách quốc tế tham quan và thưởng thức diễn xướng truyền thống tại 4 phường Xoan gốc mỗi năm. Cơ quan thực hiện: Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hiệp hội Du lịch địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp bài học thực tiễn về quy trình xây dựng hồ sơ đệ trình UNESCO và kinh nghiệm thể chế hóa các nghị quyết của Đảng thành chính sách bảo tồn di sản cấp tỉnh cho 63 tỉnh, thành phố.
  • Giảng viên, học viên và nghiên cứu sinh ngành Lịch sử Đảng: Tài liệu tham khảo chuẩn xác về phương pháp nghiên cứu lịch sử lãnh đạo của Đảng bộ địa phương trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng, vận dụng thực tế cho các luận văn, luận án chuyên ngành.
  • Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian và âm nhạc học: Khai thác tư liệu điền dã chi tiết về nguồn gốc, lề lối diễn xướng, cấu trúc 3 chặng hát Xoan cùng văn bản pháp lý liên quan đến 4 phường Xoan cổ vùng đất Tổ.
  • Doanh nghiệp lữ hành và nhà phát triển du lịch: Ứng dụng mô hình kết nối di sản văn hóa phi vật thể với du lịch cộng đồng, xây dựng các tour văn hóa tâm linh đặc sắc phục vụ du khách trong và ngoài nước.

Câu hỏi thường gặp

  • Vì sao Hát Xoan Phú Thọ được UNESCO đưa vào danh mục cần bảo vệ khẩn cấp năm 2011? Hát Xoan được xếp vào diện bảo vệ khẩn cấp vì tại thời điểm khảo sát năm 2010, toàn tỉnh chỉ còn khoảng 10 nghệ nhân có khả năng truyền dạy bài bản, trong khi 15 trên tổng số 30 cửa đình lịch sử đã mất hoàn toàn không gian diễn xướng, đe dọa sự sống còn của di sản.

  • Bốn phường Xoan gốc của Phú Thọ gồm những làng nào? Bốn phường Xoan gốc cổ xưa được xác định gồm phường An Thái thuộc xã Phượng Lâu cùng ba phường Phù Đức, Kim Đới và Thét thuộc xã Kim Đức, đều nằm trên địa bàn thành phố Việt Trì, mỗi phường xưa có quy mô từ 12 đến 18 nghệ nhân và kép, đào.

  • Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đã ban hành các chủ trương lớn nào trong giai đoạn 2000 - 2011? Đảng bộ tỉnh đã thông qua các định hướng chiến lược tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV năm 2000, Đại hội XVI năm 2005, cụ thể hóa qua Nghị quyết số 56/2003/NQ-HĐND, Chỉ thị số 17/2005/CT-UBND và Nghị quyết số 179/2009/NQ-HĐND về quy hoạch phát triển văn hóa.

  • Tục giữ cửa đình và tục kết nghĩa trong Hát Xoan có ý nghĩa gì? Tục giữ cửa đình phân định không gian diễn xướng cố định của mỗi họ Xoan tại các làng trong suốt 3 tháng mùa xuân, còn tục kết nghĩa anh em giữa phường Xoan với dân làng sở tại tạo mối gắn kết cộng đồng bền chặt và cấm ngặt việc kết hôn nội tộc giữa hai bên.

  • Nguồn lực xã hội hóa đóng vai trò như thế nào trong việc bảo tồn Hát Xoan? Nguồn lực xã hội hóa từ nhân dân đóng góp từ 20% đến 50% kinh phí trùng tu di tích, bổ sung hàng trăm tỷ đồng bên cạnh ngân sách nhà nước, giúp phục hồi các thiết chế văn hóa đình làng và duy trì sinh hoạt thường xuyên cho các câu lạc bộ Xoan cơ sở.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ trong 11 năm (2000 - 2011), làm sáng tỏ các giai đoạn phát triển từ khôi phục câu lạc bộ cơ sở đến chuẩn hóa hồ sơ quốc tế.
  • Khẳng định vai trò quyết định của đường lối văn hóa đúng đắn trong việc hồi sinh 4 phường Xoan gốc và cứu vãn không gian diễn xướng tại 30 di tích lịch sử cửa đình vùng đất Tổ.
  • Cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học tin cậy và bức tranh toàn cảnh về sự kiện UNESCO vinh danh Hát Xoan ngày 24 tháng 11 năm 2011 tại Indonesia.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm sâu sắc về kết hợp quản lý nhà nước với xã hội hóa nguồn lực, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn nguyên gốc và phát triển du lịch.
  • Kêu gọi các cấp chính quyền, nhà khoa học và cộng đồng tiếp tục triển khai các giải pháp cấp bách trong giai đoạn tiếp theo nhằm sớm đưa Hát Xoan ra khỏi tình trạng cần bảo vệ khẩn cấp, khẳng định sức sống trường tồn của di sản văn hóa dân tộc.