CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE PHAT TRIEN NHÀ Ở XÃ HỘI 1. Khái niệm về nhà ở xã hội Theo Khoản 7 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2020: “Nhà ở xã hội là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho các doi tượng được hưởng chính sách hồ trợ về nhà ở theo quy định ”. Theo Khoản 7 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014: “Whà ở xã hội là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở theo quy định ”.
Theo Khoản 3 Điều 3 của Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 09/06/2006 của Chính phủ về nhà ở xã hội, giải thích rằng: “Nhà ở xã hội là nhà ở do nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân thuộc các thành phan kinh tế dau tư xây dựng cho các doi tượng quy định ở thuê hoặc thuê mua theo cơ chế do Nhà nước quy định ”. Như vậy, nhà ở xã hội được xây dựng dé hướng đến những đối tượng nhất định như người có thu nhập thấp, sinh viên, người lao động làm việc tại các đơn vi sự nghiệp công lập, ngoài công lập. nhằm đảm bao dé họ có nha dé ôn định sinh sống và làm việc. Vì vậy, chủ đầu tư nếu thực hiện các dự án liên quan đến nhà ở xã hội nhằm hướng đến mục tiêu xã hội mà không phải mục đích thương mại như nha ở thương mai thi được nhà nước tạo điều kiện hỗ trợ như có cơ chế riêng, chính sách miễn thuế, giảm thuế, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, các ưu đãi và nguồn hỗ trợ từ nguồn vốn nhà nước.
Về sở hữu, nhà ở xã hội có thể thuộc sở hữu nhà nước, sở hữu của các tổ chức phi lợi nhuận hoặc của các doanh nghiệp nhưng không nhằm mục đích lợi nhuận. Đối tượng quản lý nhà ở xã hội Theo quy định tại khoản 1 Điều 57 Luật Nhà ở 2020 và khoản 1 Điều 8 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội thì “Bộ Xây dựng báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định lựa chọn chủ đầu tư đối với dự án nhà ở xã hội được đầu tư bằng nguồn vốn của Trung ương, cơ quan quản lý nhà ở câp tỉnh báo cáo: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền quyết định chủ đầu tư nhà ở xã hội, có trách nhiệm xác định mức thu nhập bình quân và thu nhập thấp tại địa phương, điều kiện được mua, được thuê, thuê mua nhà ở xã hội trên phạm vi địa ban trong từng thời 12 kì và công bố công khai trên phương tiện thông tin đại chúng của địa phương, trên website của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và của Sở xây dựng”. Đối tượng cung cấp nhà ở xã hội Theo Điều 8, Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về thủ tục lựa chọn chủ đâu tư dự án xây dựng nhà ở xã hội: “1, Đối với dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội được đầu tư bằng nguồn vốn hoặc hình thức quy định tại Khoản 1 Điều 53 của Luật Nhà ở thuộc nguồn vốn trung ương thì Bộ Xây dựng báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định lựa chọn chủ đầu tư. Trong thời hạn tối đa là 30 ngày, kế từ ngày nhận được Tờ trình của Bộ Xây dựng, Thủ tướng Chính phủ có văn bản lựa chọn chủ đầu tư hoặc ủy quyền cho Bộ Xây dựng lựa chọn chủ đầu tư dự án.
Đối với dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội được đầu tư băng nguồn vốn hoặc hình thức quy định tại Khoản 1 Điều 53 Luật Nhà ở thuộc nguồn vốn địa phương thì Sở Xây dựng báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lựa chọn chủ đầu tư hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện) lựa chọn chủ đầu tư dự án. Trong thời hạn tối đa là 30 ngày, kể từ ngày nhận được Tờ trình của Sở Xây dựng, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải có văn bản lựa chọn chủ đầu tư hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện lựa chọn chủ đầu tư. Trường hợp được ủy quyền thì trong thời hạn tối đa là 30 ngày, ké từ ngày nhận được văn bản ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện phải có văn bản lựa chọn chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở xã hội. Đối với nhà ở xã hội được đầu tư không phải băng nguồn vốn hoặc hình thức quy định tại Khoản 1 Điều 53 Luật Nhà ở thì Sở Xây dựng báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lựa chọn chủ đầu tư theo quy định tại Khoản 2 Điều 57 của Luật Nhà ở và văn bản hướng dân của cơ quan có thâm quyên ban hành.
Trong thời hạn tối đa là 30 ngày, kể từ ngày nhận được Tờ trình của Sở Xây dựng, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải có văn bản lựa chọn chủ đầu tư hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện lựa chọn chủ đầu tư. Trường hợp được ủy quyền thì trong thời hạn tối đa là 30 ngày, ké từ ngày nhận được văn bản ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện phải có văn bản lựa chọn chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở xã hội. Chủ đầu tư dự án thực hiện thủ tục xin chấp thuận, quyết định chủ trương đầu tư; tổ chức lập, thâm định, phê duyệt và triển khai dự án xây dựng nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở và pháp luật có liên quan. Bộ Quốc phòng và Bộ Công an được phép triển khai các dự án nhà ở xã hội theo quy định tại Nghị định này dé giải quyết nhà ở cho các đối tượng quy định tại Khoản 6 Điều 49 của Luật Nhà ở phù hợp với tình hình và điều kiện đặc thù riêng, nhưng phải bảo đảm nguyên tắc mỗi đối tượng chỉ được hỗ trợ một lần.
Đối tượng thụ hướng nhà ở xã hội Theo Điều 49 Luật nhà ở năm 2020, những doi tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội bao gồm: “1. Người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; 2. Hộ gia đình nghéo và cận nghèo tại khu vực nông thôn; 3. Hộ gia đình tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu; 4.
Người thu nhập thấp, hộ nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị; 5. Người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong va ngoai khu công nghiệp; 6. Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân trong cơ quan, đơn vi thuộc công an nhân dân va quân đội nhân dân; 7. Can bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức; §.
Các đối tượng đã trả lại nhà ở công vụ theo quy định tại khoản 5 Điều 81 của Luật này; 9. Học sinh, sinh viên các học viện, trường đại học, cao đăng, dạy nghề; học sinh trường dân tộc nội trú công lập được sử dụng nhà ở trong thời gian học tập; 10. Hộ gia đình, cá nhân thuộc diện bị thu hồi đất và phải giải tỏa, phá dỡ nhà ở theo quy định của pháp luật mà chưa được Nhà nước bồi thường bằng nhà ở, đất Ở. Vai trò của nhà ở xã hội 1.
Nhà ở xã hội góp phan đảm bảo chính sách an sinh xã hội của Nhà Hước Qua khảo sát của Bộ xây dựng năm 2020, dé phục vụ dé án phát triển nhà ở xã hội đa số các hộ có khó khăn về nhà ở có diện tích nhà ở chật chội, nhiều thế hệ cùng sinh sống, bình quân diện tích rất thấp. Thiếu nước sạch, thiếu điện chiếu sang công cộng, đặc biệt là môi trường sống bị ô nhiễm do khói bụi, nước thải. Cùng với tốc độ đô thị hóa và phát triển nền kinh tế thị trường, một bộ phận dân cư thu nhập thấp sẽ bị nghèo đi tương đối so với tốc độ phát triển kinh tế, do vậy tỷ lệ này trong tương lai vẫn rất khó khăn đề cải thiện được nhà ở cho mình, thậm chí còn nghèo đi đo tốc độ lạm phát cao. Thực trạng trên gây nhiều sức ép cho các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực nhà ở, phát triển xã hội.
Việc thiếu điều kiện sinh hoạt tối thiểu là có một nơi ở có thể làm gia tăng tệ nạn xã hội, làm cho những nỗ lực của Chính phủ trong việc lành mạnh hóa xã hội thông qua các chính sách xã hội không đạt hiệu quả cao. Việc phát triển nhà ở xã hội sẽ giải quyết được phần nào nhu cầu nhà ở cho các đối tượng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm chỗ ở. Mặt khác, những quy định về tiêu chuẩn thiết kế, xây dựng nhà ở xã hội sẽ góp phan cải thiện điều kiện sống của các đối tượng thu nhập thấp, giúp họ có được một điều kiện sinh hoạt tốt hơn trước. Điều nay có một ý nghĩa tích cực trong việc nâng cao điều kiện sống dân cư, ôn định nơi ăn, chốn ở cho các đối tượng khó khăn trong xã hội.
Từng bước thực hiện tôt những mục tiêu trong chính sách an sinh xã hội của Nhà nước. Huỳnh Thị Dạ Quyên (2011) đã đưa yếu tố Nhà ở xã hội góp phần đảm bảo chính sách an sinh xã hội của Nhà nước vào nghiên cứu vai trò của nhà ở xã hội. Phát triển nhà ở xã hội góp phân kích cầu đầu tư thông qua việc triển khai các dự án đầu tư xây dựng nhà ở Theo quy định của Luật nhà ở năm 2020, những dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội sẽ được hưởng những ưu đãi về thuế, miễn tiền sử dụng đất, được hưởng chính sách ưu đãi tín dụng đầu tư phát triển theo quy định như: được vay vốn từ Quỹ phát triển nhà ở của địa phương (nếu có), được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ lãi vay tùy theo khả năng ngân sách của từng địa phương. Ngoài ra, Nhà nước còn hỗ trợ về các thiết kế mẫu, thiết kế điển hình về nhà ở xã hội cũng như các tiến bộ khoa học kỹ thuật về thi công xây lắp nhằm đảm bảo giảm giá thành xây dựng công trình.