Chương 1 TỎNG QUAN 1. Cơ sở lý luận về chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 1. Quyền sử dụng đất Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai được khang định tại Hiến pháp năm 1992 (Điều 17) và Hiến pháp năm 2013 (Điều 53). Trên tinh thần đó, Luật Dat dai năm 1987, Luật Dat đai năm 1993 (sửa đổi, bố sung năm 2001), Luật Dat đai năm 2003 và Luật Dat dai năm 2013 đã cụ thé hóa chế độ sở hữu toàn dân đối với dat dai, trong đó đặc biệt là quy định về quyền của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu về đất đai, ví dụ như: theo Điều 1, LĐĐ năm 2003 thì “Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai” (Quốc hội, 2003) hoặc theo Điều 4, LDD năm 2013 thì “Dat đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
Nhà nước trao quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này”. Các quy định của pháp luật đất đai cho thấy, chỉ khi được Nhà nước giao đất, cho thuê dat, công nhận quyền sử dụng đất thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mới được thực hiện quyền của người sử dụng đất. Mặc dù là chủ thé trực tiếp khai thác, sử dung đất đai, nhưng người sử dụng đất không phải là chủ sở hữu đất đai và khi thực hiện các quyền của mình (ví dụ: Chuyên nhượng, tặng cho, cho thuê. quyền sử dụng đất) thì phải được sự đồng ý (chấp thuận) của cơ quan Nhà nước có thầm quyên với các điều kiện đã được pháp luật đất đai quy định.
Nếu nhìn ở góc độ quyền sử dụng đất của Nhà nước và quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân cũng cho thay sự khác biệt rất rõ, đó là: - Quyền sử dụng đất đai của Nhà nước phát sinh dựa trên cơ sở Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đất đai nên quyền sử dụng đất này là vĩnh viễn, trọn vẹn và không bị ai hạn chế, còn quyền sử dụng đất của người sử dụng xuất hiện khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận chuyền quyền sử dụng đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất. và phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước. Vì vậy, quyên sử dụng đất của họ bị Nhà nước hạn chế bởi điện tích, thời hạn và mục dich sử dung. - Nếu như quyền sử dụng đất của Nha nước mang tính gián tiếp và trừu tượng thì ngược lại, quyền sử dụng đất của người sử dụng lại mang tính chất trực tiếp và cụ thé.
Tuy không đồng nhất nội hàm của khái niệm quyền sở hữu đất và quyền sử dụng đất, nhưng trong số 05 quyền của người sử dụng đất tại LĐĐ năm 1993, sau đó mở rộng đến 10 quyền tại LDD năm 2003 va 08 quyền tại LDD năm 2013 có nhiều quyền mang tính chất định đoạt tài sản (giống như chủ sở hữu), nghĩa là việc thực hiện quyền dẫn đến thay đồi người sử dụng đất với tư cách là chủ thể trực tiếp quản lý, khai thác thửa đất, đó là quyền trao đổi, tặng cho, chuyển nhượng, góp vốn, thừa kế bằng quyền sử dụng đất. Thông qua mối quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất, đặc biệt là từ cách thức xử lý của pháp luật khi quy định về các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản, trong đó có quyền sử dụng đất và phương thức bảo vệ các quyền đối với tài sản của người không phải là chủ sở hữu đó cũng được thực hiện như bảo vệ đối với chủ sở hữu tài sản thì quyền sử dụng đất cần được định nghĩa như sau: Quyền sử dụng đất là quyền tài sản thuộc sở hữu của tô chức, hộ gia đình, cá nhân phát sinh trên cơ sở quyết định giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thâm quyền hoặc từ các giao dịch nhận chuyên quyền sử dụng đất. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt quyền sử dụng đất phải tuân thủ các điều kiện, thủ tục do pháp luật quy định. Một số khái niệm cơ bản Thu hồi đất: Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về dat đai.
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: BT về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất. Việc BT được thực hiện bằng VIỆC giao đất mới có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất dé BT thi được BT bang tiền theo giá đất cụ thé của loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất (Luật đất đai, 2013). Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: là việc Nhà nước HT giúp cho người có đất thu hồi để ôn định đời sống, sản xuất và phát triển. Các khoản HT khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm: HT ổn định đời sống và sản xuất; HT đào tạo, chuyên đổi nghề va 6 tìm kiếm việc làm; HT TDC đối với trường hợp thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở; HT khác.
Các khoản HT nêu trên được hiểu là phần cho thêm của Nhà nước sau khi đã BT và là khoản điều tiết từ phần giá trị gia tăng từ đất đai mà không phải là do đầu tư của người sử dụng đất mang lại. Tái định cư: là việc Nhà nước bố trí đất ở, nhà ở tại nơi mới cho những người bị Nhà nước thu hồi đất mà họ không còn chỗ ở nào khác. Việc thu hồi đất ở thông qua một quyết định hành chính là một quá trình không tự nguyện, có tính cưỡng chế và đòi hỏi có sự “hy sinh” của người sử dụng đất. Do đó, không chỉ đơn thuần là sự đền bù về mặt vật chất mà còn phải đảm bảo lợi ích của người bị thu hồi đất, họ phải có được chỗ ở 6n định, điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.
Giá đất và giá trị quyền sử dụng đất: Giá đất là giá trị của quyền sử dụng đất tính trên một đơn vị điện tích đất. Giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định (Luật đất đai, 2013). Vị trí và vai trò của công tác thu hồi dat, bồi thường và hỗ trợ khi thu hồi đất trong hệ thống quản lý nhà nước về đất đai Bản chất của bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất không phải là quan hệ mua bán đất đai (hay quyền sử dụng đất) dù nhìn nhận dưới bất kỳ góc độ nào. Thực chất nhà nước có trách nhiệm xác định những thiệt hai dé bồi thường nhằm 6n định và nâng cao đời sông người dân khi bị thu hồi đất.
Thu hồi và bồi thường thiệt hại về đất mang ý nghĩa của việc thực hiện quyền của nhà nước chứ không phải đơn thuần là một quan hệ giao dịch có tính chất ngang giá. Trong tổ chức thực hiện, Nhà nước có thê trực tiếp đứng ra thu hồi và bồi thường thiệt hại, nhưng cũng có thé giao cho các tô chức khác thực hiện quyền này, theo những quy định mà nhà nước đã ban hành. Việc triển khai các dự án chủ yếu thu hồi vào đất nông nghiệp, đối tượng bị thu hồi đất làm sản xuất nông nghiệp cũng chiếm đến 69%, tiếp đó là thu hồi vào đất ở tại khu dân cư nông thôn. Việc thu hồi đất thực hiện các dự án nêu trên không chỉ ảnh hưởng đến địa bàn sinh sống mà còn ảnh hưởng đến phương kế sinh nhai của các hộ, đặc biệt là các hộ sản xuất nông nghiệp.
Ở mỗi địa phương đều có những cách làm, cách vận dụng khác nhau, vì thê mức độ hai lòng của người dân đôi với chính sách bôi thường, hỗ trợ, tái định cư cũng rất khác nhau, thể hiện qua việc đánh giá về mức độ én định đời sống, mức độ đảm bảo đời sống của nguồn thu nhập sau thu hồi dat. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nhằm bù đắp những tôn thất mà người sử dụng đất phải gánh chịu, đồng thời giải quyết các van dé kinh tế-xã hội là hậu qua của việc nhà nước thu hồi đất gây ra. Mặt khác, nhằm 6n định tình hình chính trị và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, đảm bảo cho người dân nhanh chóng có chỗ ở mới dé đảm bảo cuộc sống, giải quyết hài hòa giữa việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đất. Luật đã đặc biệt quan tâm tới sinh kế của người có đất thu hồi thông qua cơ chế bồi thường bằng đất, bằng nhà, bằng tiền; quy định hỗ trợ 6n định cuộc sống tai noi tái định cư; nang mức bồi thường đất nông nghiệp, chú trong đào tao nghề dé chuyền đổi nghề nghiệp cho người nông dân.
Ngoài ra, việc quy định nguyên tắc bảo đảm, dân chủ, khách quan, công bằng, kịp thời, công khai, đúng pháp luật trong quá trình thực hiện có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Công khai, minh bạch và dân chủ trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư sẽ giúp cho người dân được tham gia trực tiếp bàn bạc những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của mình khi nhà nước thu hồi đất. Bởi mặc dù ở nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn dân, tuy nhiên nhà nước đã giao quyền chiếm hữu, sử dụng đất cho người dân. Việc nhà nước thu hồi đất sẽ ảnh hưởng rất lớn đến những lợi ích hợp pháp mà người sử dụng đất tạo ra trong quá trình sử dụng đất, vì vậy họ cần phải được tham gia bàn bạc, đưa ra ý kiến, nguyện vọng thông qua đó bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình (Đào Trung Chính, 2013).
Thông qua việc công khai, minh bạch, dan chủ người dân không chỉ nắm được các quyền và nghĩa vụ của mình khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế ma còn có điều kiện dé bày tỏ những mong muốn, nguyện vọng của mình tới các cơ quan nhà nước có thâm quyền.