MỞ ĐẦU 1. Lý đo chọn vấn đề nghiên cứu: OCD (rối loạn ám anh cưỡng chế hay cưỡng bức) được đặc trưng bởi sự hiện diện của những ám ảnh và/hoặc cưỡng chế. Ám ảnh là những suy nghĩ, sự thúc giục hoặc xung động lặp đi lặp lại không theo mong muốn và thường dẫn đến một sự gia tăng rõ rệt về lo âu hoặc đau khô. Cưỡng chế là những hành vi hoặc hoạt động tinh thần lặp đi lặp lại được thực hiện để đáp ứng với những ám ảnh hoặc theo một cách ràng buộc cứng nhắc.
OCD là một chủ đề được nghiên cứu ở nhiều nơi nhưng hầu như chưa noi nao giải quyết tận gốc tình trạng của thân chủ, nguyên nhân của nó đến nay vẫn là một bí ân. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới năm 2001, số năm sống mat đi vì OCD chiếm 2,5% tổng số năm sống mắt đi vì bệnh tật hoặc thương tích trên toàn cầu. [22] Một nghiên cứu tiến hành trên 570 cư dân Vũ Hán bởi Yale Zheng và các cộng sự ở khoa tâm thần, bệnh viện Vũ Hán vào năm 2020 về tỷ lệ mắc và đặc điểm của chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế ở người dân thành thị Vũ Hán trong giai đoạn kiểm soát thường quy địch bệnh do Coronavirus-19 cho kết quả: Ba tháng sau khi dỡ bỏ cách ly ở Vũ Hán, tỷ lệ OCD là 17,93%. Những người chưa kết hôn dễ bị OCD hơn những người đã kết hôn.
Sinh viên có nguy cơ mắc OCD cao gấp 2,103 lần so với nhân viên y té. [38] Theo Braga va các cộng sự (2010), với phương pháp điều trị thích hợp, chỉ hon 20% số người bi OCD biểu hiện khỏi bệnh hoàn toàn; tuy nhiên, hon 50% biểu hiện cải thiện các triệu chứng OCD. Theo quan điểm này, các biện pháp can thiệp nhận thức - hành vi đã được áp dụng. Liệu pháp nhận thức đã được chứng minh là một hỗ trợ cho việc phơi nhiễm trong điều trị những suy nghĩ xâm nhập và nghiên ngẫm.
Trong quá trình học tập và nghiên cứu, tác giả nhận thấy, ở Việt Nam, chưa có một con số chính thức được đưa ra về tỷ lệ mặc OCD. Điều này cũng có thể do các nghiên cứu về OCD tại Việt Nam hiện nay vẫn còn rất ít. Hắn OCD vẫn là một chủ đề khá mới lạ ở đất nước ta. Tuy nhiên, trong thời đại bùng nỗ thông tin mà trong đó có cả các thông tin không chính thống, có tác động tiêu cực đến tâm lý con người, cùng sự bùng phát dịch covid trên diện rộng, dẫn đến giãn cách, cách ly xã hội, con người bị hạn chế giao tiếp trực tiếp, lo âu căng thắng gia tăng khi bị cô lập, tác giả đã bắt gặp ngày càng nhiều thân chủ đến phòng khám tâm thần và trung tâm trị liệu tâm lý được chan đoán OCD.
Trong đại dịch Covid-19, đặc biệt là ở làn sóng thứ tư, bệnh viện sức khỏe tâm thần trung ương | đã nhận tư vấn từ xa, điều trị nhiều ca bệnh liên quan đến sức khỏe tâm thần trong dịch và hậu COVID-19; cụ thể là các trường hợp rỗi loạn tram cảm, lo âu, mat ngủ sau khi được xác định dương tính, rối loạn giấc ngủ, căng thăng khi phải đi cách ly tập trung. Sau này, do các trường hợp không được can thiệp ngay, bệnh diễn biến thành các chứng sợ tiếp xúc, rôi loan ám ảnh ., ảnh hưởng đến chức năng sinh hoạt và cuộc sống hăng ngày. [2] Bên cạnh đó, tác giả nhận thấy, ở thân chủ OCD, bởi các bác sỹ tâm thần vẫn chủ yếu chữa trị băng các thuốc hướng thần mà ít đề cập đến căn nguyên, cơ chế tâm lý gây ra các triệu chứng của rối loạn, nên người bệnh phải điều trị kéo dài, tốn kém, có nguy cơ phụ thuộc thuốc, tác dụng phụ, và nguy cơ tái phát cao, trong khi đó trị liệu tâm lý nếu được thực hiện dựa trên việc tìm hiểu quá trình hình thành, yếu tố củng cô và các yếu tố duy trì OCD, sẽ có tiềm năng lớn giải quyết được gốc rễ các van dé về nhận thức sai lệch, hành vi cưỡng chế lặp đi lặp lại, cảm xúc lo âu, góp phần trị liệu khỏi hoặc đỡ rối loạn, cho hiệu quả bên vững hơn. Ví như March và các cộng sự tiễn hành nghiên cứu trên 112 bệnh nhi tuổi từ 7 đến 17 vào năm 2003 về liệu pháp nhận thức-hành vi, sertraline, sự kết hợp của chúng cho trẻ em và thanh thiếu niên mắc chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế đã chỉ ra rằng tỷ lệ thuyên giảm về lâm sàng khi điều trị phối hợp là 53,6%; đối với đơn thuần CBT (liệu pháp nhận thức hành vi) là 39,3%; đối với đơn thuần sertraline là 21,4%; và đối với giả dược là 3,6%.
[26] Như vậy các tiếp cận can thiệp mà trong đó có sử dụng liệu pháp tâm lý (ở đây là CBT) cho kết quả điều trị cao nhất trong các tiếp cận can thiệp được đưa ra nghiên cứu. Từ các vấn đề trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Can thiệp tâm lý cho một trường hợp rối loạn ám ảnh cưỡng chế ” làm luận văn tốt nghiệp. Nhiệm vụ nghiên cứu: - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về đánh giá và chân đoán vẫn đề OCD - Thực hành ca lâm sảng về rối loạn OCD, đánh giá hiệu quả can thiệp, đưa ra kết luận và khuyến nghị cho ca lâm sàng 3. Phương pháp đánh giá và can thiệp: a.
Đánh gia: - Trac nghiém - Quan sat - Hoi chuyén b. Can thiệp: Các kỹ thuật dùng dé can thiệp cho thân chủ gồm : - Kỹ thuật điều chỉnh quan niệm sai lệch - Kỹ thuật khám phá có hướng dẫn - Kỹ thuật làm mẫu - Kỹ thuật kích hoạt hành vi - Kỹ thuật diễn tập hành vi - Kỹ thuật thư giãn CHUONG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE ROI LOAN AM ANH CƯỠNG CHE 1. Tông quan về van dé nghiên cứu: - Nghiên cứu, báo cáo dịch tê: Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới năm 2001, số năm sống mat đi vì OCD chiếm 2,5% tong số năm sống mất đi vì bệnh tật hoặc thương tích trên toàn cầu, 20% các trường hợp OCD xuất hiện đồng thời với trầm cảm.
[22] Theo Kessler, Alegria và các cộng sự [19]; [9], khoảng 2,3% dân số Hoa Kỳ mắc chứng OCD cả đời và 1,2% mắc OCD trong 12 tháng; tỷ lệ mac OCD trong 12 tháng ở nữ (1,8%) cao hơn nam so với nam (0,5%); Theo Ruscio và các cộng sự (2008), tuổi khởi phát OCD trung bình là 19,5 tuổi; nam giới chiếm phan lớn các trường hợp khởi phát rat sớm. Gần một phan tư nam giới khởi phát bệnh trước 10 tuổi. Hau hết phụ nữ được chân đoán mắc chứng OCDở tuổi vị thành niên (sau 10 tuổi). [28] - Có thê kê đên một sô nghiên cứu và báo cáo vê đánh giá, can thiệp OCD: e Anholt và các cộng sự (2011) nghiên cứu trên 121 bệnh nhân OCD về tác động của tram cảm đối với việc điều trị OCD sau 5 năm theo dõi cho kết quả: Trầm cảm không dự đoán được đáp ứng điều trị ở bất kỳ phương thức điều trị nào trong 5 năm theo dõi.
Những thay đổi trong các triệu chứng OCD dự đoán phần lớn những thay đổi trong các triệu chứng trầm cảm nhưng không phải ngược lại. Họ kết luận: Điều trị OCD có bệnh tram cảm đi kèm nên tập trung vào việc cải thiện các triệu chứng OCD. Khi điều trị OCD thành công, các triệu chứng tram cảm cũng có thê cải thiện theo. [14] e Abrantes và các cộng sự (2018) nghiên cứu trên 55 bệnh nhân về ảnh hưởng tức thời của tập thé dục nhịp điệu đối với cảm xúc tiêu cực, ám ảnh và cưỡng chế ở những người bị OCD cho kết quả: Tập thể dục nhịp điệu dẫn đến sự gia tăng hơn một cách đáng kể về khí sắc tích cực, và giảm lo âu cũng như các hành vi cưỡng chế, so với tiếp xúc giáo dục sức khỏe.
Thời gian cũng có tác động lớn trong việc dự đoán mức độ giảm lo âu tức thời, sự giảm tuyến tính như vậy về lo âu đã được quan sát trong quá trình điều trị. Không có tác động đáng ké nào được quan sát thay đối với những thay đôi tức thời trong ám anh. [ 8] Conelea và cộng sự (2014) nghiên cứu OCD trong mối liên quan đến tic trên 124 bệnh nhi tuôi từ 7 đến 17. Những bệnh nhi này được phân bố ngẫu nhiên vào các nhóm: nhóm điều trị bằng thuốc, nhóm điều trị bằng thuốc cộng có hướng dẫn thêm CBT và nhóm điều trị bằng thuốc cộng CBT đầy đủ.
Các nhà nghiên cứu thấy rang: OCD liên quan đến tic rất phô biến khi sử dụng một định nghĩa rộng về tình trang tic. Các kết quả cũng gợi ý rằng thanh thiếu niên bi OCD liên quan đến tic không có mức độ gia tăng OCD nghiêm trọng, tỷ lệ mắc bệnh đi kèm hoặc suy giảm chức năng ; nghiên cứu ủng hộ việc sử dung CBT ở quần thé nay. [16] Abramowitz, Franklin, Zoellner, Dibernardo (2002) xem xét sự tuân thủ diéu trị và kết quả ở OCD: Trong nghiên cứu nay, các nhà tri liệu được yêu cầu đánh giá sự tuân thủ điều trị của 28 bệnh nhân nhận được liệu pháp phơi nhiễm/ phòng ngừa nghỉ thức ( điều này liên quan đến việc cho người đó tiếp xúc với nỗi sợ hãi ám ảnh của họ và ngăn cản họ thực hiện nghi thức cưỡng chế nhằm duy trì sự ám ảnh [20]) theo hình thức thu phí dịch vụ. Kết quả chỉ ra rằng việc hiểu cơ sở hợp lý của điều trị và tuân thủ các chỉ dẫn phơi nhiễm trong buổi trị liệu và bài tập ở nhà, mà không có phòng ngừa nghi thức và tự theo dõi về các nghi thức, có liên quan đáng kế đến mức độ nghiêm trọng của triệu chứng OCD sau điều trị.
Ý nghĩa lâm sàng của những phát hiện này và các chỉ dẫn trong tương lai về nghiên cứu tuân thủ điều trị ở bệnh nhân OCD được bàn đến. Kết quả cho thấy 97 trong số 112 bệnh nhân (87%) đã hoàn thành đủ 12 tuần điều trị. Phân tích hồi quy ngẫu nhiên chỉ ra lợi thế có ý nghĩa thống kê đối với CBT đơn thuần, sertraline đơn thuần và điều trị kết hợp so với giả dược. Điều trị kết hợp cũng tỏ ra ưu việt hơn so với CBT đơn thuần và sertraline đơn thuần (CBT đơn thuần và sertraline đơn thuần không khác biệt 10 nhau).
Sự khác biệt về cơ địa đã xuất hiện đối với CBT và sertraline nhưng không phải đối với điều trị kết hợp, cho thấy rằng điều trị kết hợp ít nhạy cảm hơn với các thay đôi bối cảnh cụ thé.