MỞ ĐẦU 1. Ly do lựa chọn đề tài Với sự phát triển của y học cùng với truyền thông đại chúng, các bệnh tâm thần nói chung và tâm thần phân liệt nói riêng dần trở nên không còn quá xa lạ với chúng ta. Tuy nhiên, căn nguyên hình thành nên rối loạn này cũng như cách chữa trị nó vẫn còn là một thách thức rất lớn đối với cả các bác sĩ tâm thần lẫn nhà tâm lý bởi sự phức tạp và đa dạng của nó. Tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng ảnh hưởng đến hơn 20 triệu người trên thé giới với tỷ lệ mắc mới mỗi năm là 1,5/10.000 người (McGrath J.
và cộng sự, 2008). Rối loạn này được cho là có liên quan đến việc Suy giảm tudi tho trung bình ở người mắc bệnh, cu thé: một người bị tâm thần phân liệt có tudi thọ trung bình sau khi mắc bệnh khoảng 15 năm - ngắn hon so với dân số nói chung, trong đó, nguy cơ tử vong do tự tử chiếm từ 5% đến 10% (Hjorthøj C. va cộng sự, 2017). Thế giới đã có nhiều có gắng trong việc phát triển các phương pháp điều trị tâm thần phân liệt, trong đó có phương pháp hóa - dược thông qua các loại thuốc chống loạn thần.
Vào khoảng những năm thập niên 1950, phương án sử dụng thuốc chlorpromazine (hay còn được biết đến với tên thương mại là Thorazine va Largactil) dần trở nên phổ biến trong việc chữa trị. Tuy nhiên, xu hướng “y khoa hóa” các chứng bệnh tâm thần hay sự “quẫn trí” vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi trong thời điểm bấy giờ. Nhiều câu hỏi được dấy lên về tính hiệu quả của các loại thuốc bởi nó gây ra nhiều tác dụng phụ cho người sử dụng. Ngay cả với sự sẵn có của thuốc chống loạn thần thế hệ thứ hai bắt đầu từ những năm 1990, các triệu chứng còn sót lại đáng ké ở nhiều bệnh nhân tâm than phân liệt.
Ké cả khi việc kiểm soát được các triệu chứng bệnh ngày càng được công nhận là mục tiêu điều trị, nhưng việc phục hồi hoàn toàn khỏi bệnh là không phổ biến. Mặc dù đã có những nghiên cứu về khả năng cải thiện của bệnh nhân, song quá trình điều trị các triệu chứng hoang tưởng, ảo giác kéo dài vẫn để lại cho người bệnh nhiều khó khăn trên hành trình tái hòa nhập với cuộc sống thường nhật. Trải nghiệm về bệnh tâm thần phân liệt thường gây trở ngại và sợ hãi đối với người bị ảnh hưởng. Người bị tâm thần phân liệt có thể cảm thấy bị người khác xa lánh và xa lánh.
Họ mắt đi những mối quan hệ và khả năng lao động cần thiết để có thé tự lập. Ngoài ra, việc tự hạ thấp giá trị bản thân và tuyệt vọng không phải là hiếm khi khoảng 10% số người mắc bệnh tâm thần phân liệt cuối cùng đã tự sát (Siris S. Càng ngày càng có nhiều người bệnh hướng tới mục tiêu phục hồi cá nhân và tìm kiếm một cuộc sống có ý nghĩa, có mục đích ngay cả khi vẫn đang đối mặt với các triệu chứng bệnh đang diễn ra (Davidson L. và cộng sự, 2008).
Chính vì vậy, công tác trị liệu, hỗ trợ tâm lý cho người bệnh tâm thần phân liệt được xem như có một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc giúp họ thoát khỏi những hệ quả nặng nè khi phải đối mặt với căn bệnh này. về phía cá nhân học viên, quá trình đi thực tập tại hai cơ sở điều trị bệnh tâm thần uy tín tại Hà Nội là Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 và Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương đã tạo cơ hội để học viên được tiếp xúc, làm quen với loại bệnh này. Việc được trò chuyện, làm việc với nhiều người bệnh và tìm hiểu các tài liệu về tâm thần phân liệt tại đây đã truyền cảm hứng lớn dé học viên lựa chọn đề tài. Chính vì vậy, dé tài “Ap dụng liệu pháp tâm lý cho một trường hợp tâm than phân liệt” được học viên triển khai nhằm tìm hiểu, khám phá thêm những điều mà các nhà tâm lý học có thể thực hiện dé trợ giúp cho nhóm chủ thể trên.
Qua đó, những minh chứng về tính hiệu quả của trị liệu tâm lý trên một trường hợp can thiệp cụ thể được kỳ vọng sẽ góp phần mở rộng nguồn dữ liệu về thực hành trị liệu tâm lý cho người bệnh tâm thần phân liệt. Nhiệm vụ nghiên cứu e = Nghiên cứu lí luận: Diém luận một số nghiên cứu về tâm thần phân liệt và phương pháp can thiệp cho bệnh nhân tâm thần phân liệt bằng liệu pháp tâm lý e — Nghiên cứu thực tiễn: - Thực hiện đánh giá, định hình trường hợp cho một ca tâm than phân liệt - Lên kế hoạch can thiệp bang liệu pháp tâm lý và thực hiện can thiệp - Đánh giá hiệu quả can thiệp bằng liệu pháp tâm ly - Dua ra các kết luận, khuyến nghị cho ca lâm sang. Tổng quan một số nghiên cứu dịch tễ về tâm than phân liệt Theo Báo cáo gánh nặng bệnh tật toàn cầu (The global burden of disease) năm 2016 của Tổ chức Y tế Thế giới, bệnh tâm thần phân liệt tuy chiếm tỷ lệ thấp so với nhiều mặt bệnh khác nhưng đứng thứ 12 về gánh nặng bệnh tật toàn cầu (James S. và cộng sự, 2018).
Cũng theo WHO, số lượng người mắc tâm thần phân liệt đã tăng từ 13,1 triệu lên 20,9 triệu trường hợp từ năm 1990 đến năm 2016 (Charlson. J và cộng sự, 2016). Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt là từ 0,6% đến 1,9% trong dân số (Van Os. J và cộng sự, 2009a).
Hơn nữa, một phân tích tuyên bố đã ước tính rằng tỷ lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt được chân đoán hàng năm ở Hoa Kỳ là 5,1/1.000 người (Wu E. và cộng sự, 2006). Nguy cơ gia tăng ở nam giới đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Một số người cho rằng điều này có thê là do nam giới sử dụng ma túy nhiều hơn hoặc do việc sử dụng biện pháp tránh thai ở phụ nữ (Aleman A.
và cộng sự, 2003). Tỷ lệ mắc bệnh này tương đương nhau ở nam và nữ, mặc dù sự khởi phát các triệu chứng xảy ra ở độ tuổi sớm hơn ở nam so với nữ. Nam giới có xu hướng trải qua giai đoạn tâm thần phân liệt đầu tiên vào đầu những năm 20 tuổi, trong khi phụ nữ thường trải qua giai đoạn đầu tiên vào cuối những năm 20 hoặc đầu 30 tuổi (APA, 2013). Tại Việt Nam, tỷ lệ người bệnh mắc tâm thần phân liệt là từ 0,52 - 0,61%, bệnh thường khởi phat ở lứa tuổi 18 - 40 tuổi (Nguyễn Văn Siêm, 2010).
Theo thống kê có khoảng 40-80% người bệnh tâm thần phân liệt sống hiện đang sống cùng gia đình của họ (Federation for Mental Health World, 2014). Những người bệnh này phải thường xuyên dựa vào gia đình của họ dé được chăm sóc hỗ trợ về thé chất và tinh thần trong suốt cuộc đời. Vi vậy vai trò của người chăm sóc đối với người bệnh là rất quan trọng và cần thiết. Nếu người chăm sóc không có kiến thức và hỗ trợ đầy đủ, họ có thé không thể đảm nhận được trách nhiệm chăm sóc người bệnh, vì thế dẫn đến tình trạng tái phát nhiều hơn (Levey S.
và cộng sự, 1995). Về những anh hưởng do tâm than phân liệt mang lại Theo APA (2013), có khoảng 20% bệnh nhân tâm thần phân liệt có ý định tự tử. Tỷ lệ tự tử hoàn thành trong đời là 5%—6%, khiến đây trở thành một chứng rỗi loạn de doa tính mạng. Những người bị tâm thần phân liệt dé trở thành người vô gia cư hơn nhiều so với những người không mắc bệnh tâm thần (Foster A.
và cộng sự, 2012). Một số tỷ lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt cao nhất được tìm thấy ở những người vô gia cư kinh niên. Một nghiên cứu lớn về hệ thống sức khỏe tâm thần công cộng cho thấy 15% là người vô gia cư tại thời điểm thực hiện ít nhất một dịch vụ trong khoảng thời gian một năm. Cũng theo các tác giả này, giới tính nam, dân tộc Mỹ gốc Phi, rối loạn sử dụng chất gây nghiện và thiếu bảo hiểm có liên quan đến tình trạng vô gia cư của bệnh nhân được chân đoán mắc bệnh tâm thần phân liệt.
Bệnh nhân thường phát triển một loạt các vấn đề xã hội, y tế, tâm than và tai chính phức tạp (Folsom D. và cộng sự, 2005). Những người bệnh tâm thần phân liệt thường được phát hiện có mức độ bệnh cao đi kèm với các vấn đề y tế khác, điều này tạo thêm gánh nặng to lớn cho nhu cầu và chi phí chăm sóc sức khỏe của nhóm đối tượng này. Việc phải nhập viện điều trị trong thời gian dài cũng được cho là nguyên nhân chính gây ra gánh nặng tài chính cho người bệnh và gia đình của họ.
Suy giảm nhận thức do tâm thần phân liệt có liên quan đến việc giảm mức độ tuân thủ điều trị, khả năng nhập viện cao hơn và thời gian năm viện đải hơn (Kadakia A. và cộng sự, 2022). Cũng theo nhóm tac giả Kadakia A. và cộng sự (2022), bên cạnh chi phí y tế, bệnh tâm thần phân liệt còn liên quan đến chi phí xã hội và nó thậm chí còn lớn hơn, vi 80-90% bệnh nhân rơi vao tình trạng thất nghiệp và tình trạng này vẫn như vậy trong phần lớn cuộc đời trưởng thành của họ.
Suy giảm nhận thức, cũng như ảnh hưởng từ các triệu chứng âm tinh là yêu tô chính dẫn đến tình trạng mat năng suất này. Trong số những người bệnh được phân tích, mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng nhận thức có liên quan đến mức lương thấp hơn, số giờ làm việc trong các chương trình việc làm được hỗ trợ ít hơn (McGurk S. và cộng sự, 2003). Lý luận về tâm thần phân liệt 1.
Khái niệm tâm thần phân liệt Tâm than phân liệt (iếng Anh: “Schizophrenia”) là một thuật ngữ được đề xuất bởi nhà tâm thần học người Thụy Si Paul Eugen Bleuler (1857-1939). Đó là sự kết hợp bởi “skhizein” nghĩa là "chia rẽ, phân tách" và “phreno” tức là "tâm trí" trong tiếng Hy Lạp. Thuật ngữ này được đặt ra vào ngày 24 tháng 4 năm 1908, khi Giáo sư Bleuler P. thuyết trình tại một cuộc họp của Hiệp hội Tâm thần Đức (The German Psychiatric Association) ở Berlin (Kyziridis T.
Tại cuộc hop đó, Bleuler lập luận rằng mất trí trước tuổi không liên quan đến chứng mất trí (dementia) hay có khả năng phát triển sớm (precociousness) như các tác giả thời kì trước đã lập luận. Ông nhấn mạnh rằng sự chia cắt, phân liệt, không thống nhất về các hoạt động tâm thần là đặc điểm cơ bản của bệnh.