Chương 1: Cơ sở lý luận về rối loạn lo âu 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.1 Nghiên cứu về dịch tễ học Tỷ lệ mắc rối loạn lo âu đang có xu hướng tăng cao và khởi phát sớm. Ước tính có khoảng 4,05% dân số toàn cầu mắc chứng rối loạn lo âu, tương ứng với 301 triệu người. Bên cạnh đó, sé lượng người bi ảnh hưởng bởi rỗi loạn lo âu đã tăng hơn 55% từ năm 1990 đến năm 2019. Các số liệu về rối loạn lo âu cho thấy tỷ lệ mắc và tỷ lệ số năm sống được điều chỉnh theo mức độ bệnh tật ngày càng tăng.
Nghiên cứu phân tích tổng hợp của Syed và cộng sự kết luận rằng Bồ Đào Nha là nước có tỷ lệ mắc rối loạn cao nhất (8.671 trường hợp trên 100.000), tiếp theo là Brazil, Iran và New Zealand. Ty lệ mac bệnh cao hơn ở các khu vực có thu nhập cao. Phụ nữ có nguy cơ bị rối loạn lo âu cao gấp 1,66 lần so với nam giới (Syed Fahad Javaid và cộng sự, 2023). Có nhiều nguyên nhân cho sự khác biệt về tỷ lệ mắc chứng rỗi loạn lo âu giữa các quốc gia.
Đầu tiên, nhiều quốc gia có thái độ miễn cưỡng khi thừa nhận các triệu chứng của rỗi loan tâm thần. Thứ hai, rối loạn lo âu có thé được thé hiện theo những cách khác nhau trong các bối cảnh và bảng câu hỏi khảo sát có thể không giải quyết đầy đủ sự khác biệt này. Ranh giới giữa đau khổ (bình thường) và rỗi loạn (bệnh lý) có thé không rõ ràng khi các phản ứng cảm xúc, chang hạn như lo lắng, có khả năng thích ứng trong một số bối cảnh bối cảnh cụ thé. Thứ ba, các cuộc phỏng vấn được sử dụng trong khảo sát dịch tễ học có thể có sai sót trong cách đặt câu hỏi dẫn đến những thành kiến khác nhau giữa các quốc gia.
Thứ tư, các điều kiện thực địa trong các cuộc khảo sát này (ví dụ: mức độ nghiêm ngặt trong đào tạo người phỏng van, quy trình giám sát dé kiểm soát chất lượng và lay mau) có thé khác nhau giữa các quốc gia theo. Thứ năm, có thể có sự khác biệt thực sự về mức độ phổ biến của rối loạn tâm thần giữa các quốc gia, phan ánh sự khác biệt quan trọng về các yêu tô nguy cơ và kha năng phục hồi theo vùng địa lý (Dan J.Stein và cộng sự, 2022). Đối với nhóm đối tượng thanh thiếu niên, một nghiên cứu phân tích tổng hợp dịch tễ học cho thấy trong số các rối loạn tâm than, rối loạn liên quan đến lo âu/sợ hãi là nhóm rối loạn có tỷ lệ khởi phát cao thứ hai, với tỷ lệ khới phát năm 14, 18, 25 tudi là 38,1%, 51,8%, 73,3% (Solmi và cộng sự, 2022). Nghiên cứu Lester cùng các đồng nghiệp cũng đã kiểm tra tỷ lệ nhập viện của nhóm đối tượng thanh thiếu niên với một chân đoán mới liên quan đến rối loạn lo âu.
Mẫu được đo lường từ năm 2015 đến 2019 thông qua số liệu của mạng lưới PCHA bao gồm 59.484 trẻ em và thanh thiếu niên từ 6 đến 18 tuổi. Kết quả cho thấy tuổi trung bình của thanh thiếu niên mắc rối loạn lo âu là 13 tuổi, 58,8% là nữ và nhóm người chủng da trang có tỉ lệ mắc cao nhất là 40,6%. Ti lệ ca chỉ có chan đoán rối loạn lo âu mà không kèm theo các triệu chứng rối loạn khác là 53%, tỉ lệ ca chan đoán rối loan lo âu có kèm theo tram cảm là 16,1% (Talia R. Lester và cộng sự, 2022).
Tại Việt Nam, tỷ lệ hiện mac các vấn dé sức khỏe tâm thần chung ở Việt Nam từ 8% đến 29% đối với trẻ em và vị thành niên (Unicef, 2018). Cụ thể hơn, điều tra dịch tễ học đại điện toàn quốc của Bệnh viện Tâm thần Trung ương Ì về những rối loạn tâm thần phổ biến giai đoạn 2001-2003 cho thấy 10 rối loạn tâm thần phố biến nhất cộng lại có tỷ lệ mắc khoảng 14,9% dân số. Phổ biến nhất trong số này là lạm dụng rượu (5,3%), tram cảm (2,8%) và lo âu (2,6%) (Vuong và cộng sự, 2011). Báo cáo tổng kết nội bộ của Bệnh viện Nhi Trung Ương cho biết từ năm 2019 đến năm 2023, tỷ lệ bệnh nhân lo âu khám ngoại trú trên tong số bệnh nhân luôn tăng (từ 2,3% đến 9,2%).
Trung bình năm năm tỷ lệ số người khám ngoại trú mắc lo âu là 5,9%. Ngoài ra, báo cáo cũng cho biết tỷ lệ bệnh nhân lo âu điều trị nội trú trung bình trong 5 năm là 12,7%, trong đó phần trăm cao nhất là năm 2022 là 17,7%. Trong số những bệnh nhân nhập viện điều trị, ty lệ rối loạn lo âu tram cảm chiếm tỷ lệ cao thứ hai sau các rối loạn liên quan đến stress (39,6%) (Khoa sức khỏe vị thành niên Bệnh viện Nhi Trung Ương, 2023). Như vậy, rỗi loạn lo âu là một tình trạng rỗi loạn tâm thần phổ biến ở nhiều quốc gia và nhiều độ tuổi.
Đối với độ tudi thanh thiếu niên, số lượng ca mắc rối loạn lo âu chiếm một tỉ lệ đáng lưu ý.2 Nghiên cứu về trị liệu tâm lý ở người rỗi loạn lo âu Trị liệu tâm lý ở người rỗi loạn lo âu là một lĩnh vực có lịch sử phát triển nhiều năm, với đa dạng các liệu pháp khác nhau. Một nghiên cứu về áp dụng liệu pháp phân tâm trẻ em trong trị liệu rối loạn lo âu được thực hiện trên 30 khách thé trẻ từ 4 đến 10 tuổi cùng với bố mẹ của các em. Đề tham gia vào nghiên cứu, trẻ em phải đáp ứng các tiêu chí về chứng rối loạn lo âu , đồng thời đáp ứng các tiêu chí loại trừ là (1) không có rối loạn tâm thần, tự sát cấp tính hoặc rối loạn lạm dụng chất gây nghiện từ cha mẹ; (2) không khiếm khuyết về nhận thức (IQ 70); hoặc (3) chưa từng điều trị tâm thần hoặc tâm lý trị liệu. Trong khi 18 gia đình được điều trị ngay lập tức, 12 gia đình còn lại sẽ được đưa vào danh sách chờ (6 tháng).
Các phân tích về sự cải thiện các triệu chứng dựa trên sự so sánh giữa các nhóm (điều trị so với danh sách chờ) cũng như đữ liệu theo dõi trước và sau 6 tháng ở tất cả các gia đình (bao gồm cả các gia đình trong danh sách chờ). Trong số 27 khách thể hoàn thành toàn bộ thời gian nghiên cứu, 18 trẻ (66,78%) được cho không còn bat kỳ triệu chứng nào của rối loạn lo âu (trong đó không có trẻ nào từ danh sách chờ được chuyền qua điều trị). Thông qua 2 bảng hỏi tự báo cáo là SDQ và CBCL trước và sau 6 tháng điều trị, các triệu chứng rỗi loan của những trẻ trong nhóm được áp dụng liệu pháp phân tâm cho thấy sự suy giảm đáng ké : SDQ Vấn dé cảm xúc giảm từ 5.31, CBCL Lo 4u/Tram cảm giảm từ 9. Trong khi đó con số này ở nhóm trẻ trong danh sách chờ lại không có sự thay đổi rõ ràng, với SDQ Van đề cảm xúc giảm từ 5.75 và CBCL Lo âu/Trầm cảm từ 11.
Như vậy có thé thấy việc áp dụng liệu pháp phân tâm trẻ em trong điều trị rối loạn lo âu đem lại những hiệu quả vô cùng tích cực. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng thừa nhận một số những hạn chế như sự đa dang trong lựa chọn khách thé thấp (Hau hết trẻ đều là người châu Âu da trang), hay thời gian được tiếp nhận điều trị của nhóm bệnh nhân trong danh sách chờ kéo dài hơn bình thường, có thé gây ra một số sai lệch nhỏ trong số liệu cũng như có nguy cơ về đạo đức nghề (Tanja Göttken và cộng sự, 2014). Nghiên cứu về ứng dụng Liệu pháp nhân văn và Liệu pháp tích hợp trong điều trị trầm cảm, rối loạn lo âu vào năm 2013 cũng chỉ ra những hiệu quả đáng ghi nhận. Nghiên cứu thực hiện tại một trung tâm dịch vụ trị liệu tâm lý ở Anh, với sự tham gia của 67 nhà trị liệu (có giám sát lâm sàng) thực hành theo các hướng tiếp cận khác nhau : Liệu pháp Phân tích tương thích (10.
Tiếp cận Gestalt (12.8%), Tiếp cận thân chủ trọng tâm (34.6%) và Tiếp cận tích hợp (41.7%), cùng với 321 khách thé là khách hàng, trong đó 74.9% khách hàng có rối loạn lo âu. Những khách hàng này sau khi trải qua những phiên đánh giá ban đầu sẽ được chia thành 2 nhóm dé theo dõi: nhóm 1 bao gồm những người sẽ tiếp nhận trị liệu từ 5 phiên đến nhiều hơn , và nhóm2 là những người không tiếp tục tri liệu sau 4 phiên hoặc ít hơn (chỉ mới hoàn thành các phiên đánh giá ban đầu). Đối với bệnh nhân có rối loạn lo âu, kết quả được đo lường bằng thang đo GAD-7 cho thấy rằng những bệnh nhân ở nhóm 1, tỉ lệ cải thiện triệu chứng là rất cao chiếm khoảng 77.1% không có sự thay đổi và 17.4% có triệu chứng tăng nặng. Còn đối với nhóm 2, tỉ lệ cải thiện triệu chứng chỉ khoảng 28.4%, trong khi tỷ lệ triệu chứng tăng nặng lên đến 38.
Về phía các nhà trị liệu, họ cùng với giám sát lâm sàng đã đánh giá mức độ tuân thủ của bệnh nhân khi áp dụng theo những hướng tiếp cận khác nhau. Kết quả cho thấy những bệnh nhân được tri liệu theo tiếp cận Gestalt và tiếp cận tích hợp có mức độ tuân thủ cao nhất, lần lượt là 86.1%, và thấp nhất là tiếp cận thân chủ trọng tâm với 54. Một nghiên cứu khác về hiệu quả của Liệu pháp Gestalt trong điều trị các rồi nhiễu tâm lý với 22% khách thé có rối loạn lo âu đã chỉ ra rang các khách hang trong nhóm Gestalt khi bắt đầu trị liệu sẽ có phản ứng đau khổ hơn một chút so với những nhóm khác như CBT, Thân chủ trọng tâm, Tâm động học. Tuy nhiên nghiên cứu cũng khẳng định rằng về mặt hiệu quả trị liệu, liệu pháp Gestalt được coi là có hiệu quả tương đương với các phương pháp trị liệu trên với kết quả 56.3% bệnh nhân tham gia nghiên cứu có sự cải thiện tích cực (Stevens và cộng sự, 2011).
Chánh niệm cũng là một phương pháp đang được ứng dụng trong trị liệu rối loạn lo âu. Chánh niệm chủ yếu dựa trên những cân nhắc về thân và tâm của Phật giáo. Điều này bao gồm việc xem đau khổ của con người như một phần trong cách con người đối phó với một số quá trình tiêu cực của tâm trí: con người gia tăng đau khổ và buồn phiền khi họ tập trung vào những cảm xúc tiêu cực.