Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TRAM CẢM Ở VỊ THÀNH NIÊN 1. Điểm luận nghiên cứu về rối loạn trầm cảm ở vị thành niên Tính đến thời điểm chúng tôi tiến hành dé tài này có rất nhiều nhà khoa học khác nhau, tìm hiểu và nghiên cứu về trầm cảm. Trong phạm vi dé tài này, chúng tôi dựa trên những công trình nghiên cứu sau: Emil Kraepelin — nhà tâm than học người Đức — là người đầu tiên tách bệnh tram cảm thành một bệnh độc lập dựa trên sự thống nhất về các biéu hiện lâm sàng và tính chất tiến triển, ông đã hợp nhất các thể bệnh trước kia được coi như là những bệnh độc lập như “Bệnh thao cuồng”, “Bệnh sau uất”, “Bệnh loạn tâm than tuần hoàn”, với sự thay đổi lần lượt các giai đoạn trai ngược nhau hoặc sự kết hợp những giai đoạn tương phản nhau. Theo nghiên cứu của Merikangas và cộng sự cho thấy có khoảng 11% trẻ vị thành niên trải nghiệm rỗi loạn tram cảm ở tuổi 18 (Merikangas và cộng su,2010)[11].
Các nghiên cứu cho thấy trẻ vị thành niên bị tram cảm là đáng lo ngại vì nó có thé trở thành mãn tính, tái phát và bị suy yếu chức năng, ngoài ra tram cam ở tuổi vị thành niên còn liên quan đến nhiều van đề thích nghi về lâu dài (Hammen và cộng sự,2008)[12], gây tốn kém về tài chính và tinh thần cho gia đình và xã hội (Rao and Chen,2009)[13]. Trầm cảm gây ra các khó khăn trong mối quan hệ, nhận thức, chức năng học tập (Fletcher, 2010)[10], tram cảm cũng làm tăng rỗi loạn lo âu, rối loạn ăn uống, hút thuốc, nghiện rượu và tự vẫn (Sihvola và cộng sự, 2007) 14]. Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Bá Dat (2002) nghiên cứu về rối loạn tram cảm và một số yếu tố tâm lý xã hội liên quan ở học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Hà Nội{[3], kết quả chỉ ra rằng có 18,8% trẻ có các biểu hiện rối loạn trầm cảm và có tới 9,1% trẻ được khẳng định là mắc rối loạn trầm cảm. Nghiên cứu của tác giả Đỗ Ngọc Khanh (2018) với đề tài “Trầm Cảm ở học sinh trung học phô thông Việt Nam và một số yếu tố tác động”[2] bang thang sàng lọc mức độ tram cảm PHQ-9 cho thấy có 26,6% số học sinh trung học phô thông có mức độ tram cảm từ nhẹ đên nặng, trong đó có 4,3% sô học sinh bi tram cảm nặng, 4 8,1% số học sinh bị trầm cảm vừa và 14,2% số học sinh bị trầm cảm nhẹ.
Cũng theo nghiên cứu này có tới 100% học sinh trung học phô thông bị tram cảm vừa và nặng đã từng có suy nghĩ tiêu cực về bản thân, trong đó có đến 92,4% số học sinh suy nghĩ thường xuyên. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có 80,4% số học sinh tram cảm vừa và nặng có khó khăn trong việc tập trung học bài và làm việc nhà. Ngoài ra kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có 69,6% số học sinh bị trầm cảm vừa và nặng thường xuyên có rối loạn ăn uống đi kèm. Một con số đáng báo động mà nghiên cứu này chỉ ra có tới 43,5% tỷ lệ học sinh có suy nghĩ tự gây tổn thương cho bản thân hoặc hành vi toan tính tự sát.
Nghiên cứu của nhóm tác giả Cao Vũ Hùng, Hoàng Câm Tú và Nguyễn Viết Thiêm (2007) về “Đặc điểm lâm sàng và tìm hiểu các yếu tố liên quan trong bệnh rối loạn tram cảm tuổi vị thành niên”[1], nghiên cứu được tiễn hành trên 40 bệnh nhân từ 10-19 tuổi được khám và điều trị tại Khoa Tâm thần - Bệnh Viện Nhi Trung Ương từ tháng 9/2004 đến thang 8/2006, được chan đoán là rối loạn tram cảm. Kết quả cho thấy, tuổi trung bình của bệnh nhi là 14,08+1,39 tuổi, trong đó 10-15 tuổi chiếm 77,5% cho thấy tuổi xuất hiện trầm cảm ở trẻ em khá sớm; tỷ lệ nữ cao hơn nam (1,86/1). Đặc điểm lâm sàng là: mức độ tram cảm trung bình chiếm tỷ lệ cao (57,5%), thường khởi phát từ từ với các triệu chứng cơ thể; có đầy đủ các triệu chứng của tram cam, trong đó tỷ lệ cao là khí sắc giảm (100%), giảm năng lượng, mệt mỏi (92,5%), mat quan tâm thích thú (100%), giảm tập trung chú ý (95%), giảm lòng tự trọng, tự tin (82,5%), rỗi loạn ăn (85%), rỗi loạn ngủ (92,5%), ý tưởng và hành vi tự sát là triệu chứng mang tính chất cấp cứu cần được quan tâm (72,5%); thường kèm theo các rỗi loạn lo âu, rối loan dạng cơ thể, hành vi né tránh. Các yêu tô liên quan gồm: gia đình xung đột, bố me li dị hoặc ly thân; các biến cô xảy ra với trẻ có tỷ lệ cao 57,5%; yêu tố gia đình có tỷ lệ cao trong trầm cảm mức độ nặng.
Liệu pháp nhận thức hành vi đối với can thiệp trị liệu trầm cảm tập trung vào các vấn đề: giảm sự thích thú; kỹ năng giải quyết vấn đề nghèo nàn; và những niềm tin phi chức năng. Các buổi trị liệu thường tập trung xây dựng lại kỹ năng tong quát, giáo dục tâm lý và kỹ năng đối phó trầm cảm. Can thiệp gia đình trong điều trị trầm cảm trẻ em có thé hoặc không cần sử dụng, điều này phụ thuộc vào mối quan hệ giữa cha mẹ va tré[16]. Một trong những mục tiêu của liệu pháp nhận thức hành vi (CBT) là giúp bạn “khơi lai” ( hoặc tai cấu trúc lai) suy nghĩ của minh.
Nhiều trẻ vị thành niên có rối loạn trầm cảm thường có lối suy nghĩ bất hợp lý về bản thân mình hoặc về thế giới. Suy nghĩ của cá nhân đó có thê tự động đi đến những chỗ như “Tôi sẽ không bao giờ trở nên tốt hơn” hoặc “Tôi là một kẻ thất bại”, một nhà trị liệu tâm lý sử dụng CBT để tái cấu trúc lại nhận thức đó trở thành những niềm tin hợp lý hơn. Ngoài ra, CBT cũng có thể giúp các cá nhân có rối loạn trầm cảm khám phá mối quan hệ giữa cảm xúc — nhận thức — hành vi của bản thân có ảnh hưởng như thé nào đến chất lượng cuộc sống; hướng dẫn cá nhân các cách thức giải quyết vấn đề; cá nhân có rối loan tram cảm còn học các kỹ năng đối phó với các triệu chứng rối loạn của mình và các bài tập vận động thư gian[16]. Theo Aaron Beck (1997), suy nghĩ tiêu cực được tạo ra bởi niềm tin của sự rỗi loạn chức năng, nó thường là nguyên nhân chính của triệu chứng trầm cảm.
Khi cá nhân có những suy nghĩ tiêu cực hơn thực tế trải nghiệm sẽ khiến cá nhân trở nên chán nản. Một số vẫn đề lý luận của rối loạn trầm cảmở vị thành niên 1. Khái niệm rối loạn trầm cảm Theo bảng phân loại bệnh quốc tế ICD-10 (1992) khang định rang: “Tram cảm là trạng thái rồi loạn cảm xúc, biểu hiện bằng giảm khí sắc, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng dẫn đến tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động, phổ biến là tăng sự mệt moi sau mot số cố gang nho, ton tai trong mot khoang thoi gian kéo dai, it nhất là hai tuần| 15]. Theo bang phân loại tâm than lần thứ 5 của Hiệp hội Tâm than Mỹ DSM-5 (2013) cho rằng: “Rối loạn tram cảm bao gồm tram cảm chủ yếu, loạn khí sắc, trầm cảm do một chất và trầm cảm do một bệnh thực tồn.
Rồi loạn trầm cảm bao gồm được đặc trưng bởi khí sắc tram buôn, mat hau hết các hứng thú/sở thích, có suy nghĩ và hành vi tự tử[ 9]. Trong khuôn khô luận văn, tác giả dựa theo các tiêu chí chân đoán của DSM- 5 dé lây định nghĩa về rối loạn tram cảm. Các tiêu chuẩn chan đoán tram cảm Theo số tay chân đoán và phân loại bệnh tâm thần của Hội tâm thần học, tâm lý Hoa Kỳ DSM-5 (2013), tram cảm là dạng rỗi loan tâm thần biéu hiện đặc trưng bởi ít nhất 5 trong số 9 dấu hiệu cơ bản sau, xuất hiện cùng lúc, kéo dài ít nhất 2 tuần làm thay đổi các hoạt động chức năng(hoạt động xã hội, nghề nghiệp và các lĩnh vực quan trọng khác) của cá nhân: 1/ Khí sắc tram, 2/ Mat quan tam, thich thu, 3/ Có biểu hiện giảm cân (khi không ăn kiêng) hoặc tăng cân, 4/ Mat ngủ hoặc ngủ quá nhiều, 5/ Sự kích động tâm vận động hoặc chậm vận động, 6/ Mệt mỏi hoặc mất năng lượng, 7/ Cảm thấy không xứng đáng hoặc tội lỗi quá mức hoặc không thích hợp, 8/ Giảm khả năng suy nghĩ, tập trung hoặc khả năng ra quyết định và 9/ Suy nghĩ về cái chết hoặc có ý tưởng và kế hoạch tự sát. Các biểu hiện trên xuất hiện trong khoảng thời gian 2 tuần.
Xác định mức độ trầm cảm Mức độ nặng nhẹ của trầm cảm được xác định bang : số lượng các triệu chứng, mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng và mức độ ảnh hưởng đến các chức năng xã hội và nghề nghiệp (theo tiêu chuẩn chan đoán của DSM5) - Tram cảm nhẹ : nếu có rất ít triệu chứng của tram cam, các triệu chứng đảm bảo tiêu chuẩn chân đoán, đặc biệt nôi rõ lên là triệu chứng đau buồn nhưng dé quản lý, các triệu chứng trên dẫn đến sự suy giảm nhẹ trong hoạt động xã hội hoặc nghề nghiệp. - Trung bình : Số lượng triệu chứng, cường độ của các triệu chứng, sự suy giảm trong hoạt động xã hội hoặc nghề nghiệp đạt ở mức độ trung bình - Nang : số lượng triệu chứng khá đầy đủ, cường độ triệu chứng là đau buồn rất nhiêu và khó quản lý. - Thuyên giảm một phan : các triệu chứng của trầm cảm trước đây có mặt nhưng không đáp ứng đủ tiêu chuẩn chân đoán hoặc kéo dài chưa đến 02 tháng, và không có một triệu chứng nghiêm trọng nào của trầm cảm nặng mất đi trong giai đoạn này. - Thuyên giảm hoàn toàn: trong 02 tháng không có dấu hiệu/triệu chứng nào nghiêm trọng của rỗi loạn có mặt - Rồi loan tram cảm dai dang, mãn tính : kéo dài 02 năm.
- Rối loạn tram cảm tái phát : Theo ICD10 phiên bản 2010 là một triệu chứng rối loạn được đặc trưng bởi các giai đoạn tram cảm lặp đi lặp lại như được mô tả cho giai đoạn trầm cảm chủ yếu, không có tiền sử về các giai đoạn nâng cao tâm trạng và tăng năng lượng độc lập ( hưng cảm). Tuy nhiên có thé có những giai đoạn ngắn về tâm trạng nhẹ và hoạt động quá mức ngay sau một giai đoạn trầm cảm, đôi khi kết thúc bằng điều trị chống trầm cảm. Các dạng rối loạn trầm cảm tái phát nghiêm trọng hơn có nhiều điểm chung với các khái niệm trước đó như trầm cảm hưng cảm, u sau, tram cảm chủ yếu và tram cảm nội sinh.