Chương 1 TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm về thân nhiệt 1. Nhiệt độ trung tâm 1. Định nghĩa và giá trị nhiệt độ trung tâm Nhiệt độ trung tâm hay còn gọi là nhiệt độ lõi (core temperature) là nhiệt độ cơ thể đo ở những vùng sâu của cơ thể như gan, não, các tạng.
NĐTT có giá trị tương đối ổn định và dao động xung quanh giá trị 37 0C. NĐTT phản ánh và ảnh hưởng trực tiếp tới các quá trình chuyển hóa vật chất trong cơ thể. Điều hòa nhằm ổn định NĐTT là mục đích của các cơ chế điều hòa thân nhiệt Giá trị của nhiệt độ trung tâm thường là 37 0C và nó luôn được điều hòa để duy trì một giá trị tương đối ổn định. Tuy nhiên NĐTT có thể thay đổi trong một số trường hợp nhất định như tăng trong lao động, hoạt động thể thao, sốt… hoặc thay đổi theo chu kì ngày đêm, chu kì kinh nguyệt.
Các vị trí đo nhiệt độ trung tâm Nhiệt độ trung tâm thường được đo ở miệng, trực tràng, hố nách, thực quản, màng nhĩ…Trong các điểm đo nhiệt độ trung tâm trên thì không có vị trí nào là hoàn toàn lí tưởng, về nguyên tắc bất cứ một phương pháp nào cũng cần đảm bảo rằng nó không bị sai số bởi những ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường bên ngoài Đo nhiệt độ trung tâm ở miệng: Lưỡi là cơ quan được tưới máu rất nhiều do vậy đo NĐTT ở miệng tương đương với nhiệt độ dòng máu, nhiệt độ ở miệng thường thấp hơn nhiệt độ trực tràng khoảng 0,3 0C - 0,50C. Tuy nhiên khi làm lạnh vùng mặt, cổ hay miệng, nuốt nước bọt, tăng thở có thể làm thay đổi NĐTT nên thiếu chính xác. Nhiệt độ màng nhĩ: Năm 1959 Benzinger sử dụng phương pháp đo nhiệt độ màng nhĩ và coi đó là chỉ số có giá trị trong nghiên cứu sinh lí, theo tác giả 3 này thì nhiệt độ màng nhĩ đáp ứng sự thay đổi cường độ chuyển hóa nhanh hơn nhiệt độ trực tràng và do đó có lợi thế nhất định trong khi sử dụng vào nghiên cứu. Tuy nhiên các tác giả sau này cho rằng NĐTT đo ở màng nhĩ dễ bị thay đổi do nhiệt độ vùng da đầu và cổ, dễ bị ảnh hưởng từ môi trường bên ngoài.
Nhiệt độ trực tràng: Có giá trị cao hơn các vị trí khác trên cơ thể khoảng vài phần mười độ. Trực tràng được cách nhiệt tốt với môi trường bên ngoài, do đó nhiệt độ trực tràng là một chỉ số thân nhiệt tin cậy được sử dụng rộng rãi trong lâm sàng cũng như nghiên cứu sinh lí nhiệt. Nhiệt độ nách: Dễ đo nhưng khó đảm bảo độ chính xác. Khi đo nhiệt độ nách đối tượng nghiên cứu phải co tay lên ngực và ép cánh tay vào hố nách, nhiệt độ sẽ tăng dần đạt tới nhiệt độ ổn định so với nhiệt độ trung tâm ở các vị trí khác.
Tuy nhiên nhiệt độ nách chỉ đạt giá trị ổn định khi đối tượng nghiên cứu giữ nguyên tay như vậy trong 30 phút, và các giá trị đạt được cũng tương đối dao động, thấp hơn nhiệt độ trực tràng khoảng 0,50C - 0,80C, do vậy nó ít được sử dụng trong nghiên cứu để xác định giá trị nhiệt độ trung tâm. Định nghĩa và vai trò của nhiệt độ da Nhiệt độ da là nhiệt độ cơ thể đo ở da. Nhiệt độ da còn được gọi là nhiệt độ vỏ của cơ thể, dễ biến động theo nhiệt độ môi trường và thấp hơn nhiệt độ trung tâm. Nhiệt độ da có vai trò quan trọng trong truyền nhiệt và điều hòa nhiệt độ cơ thể, phần lớn nhiệt độ của cơ thể truyền ra ngoài môi trường là qua bề mặt da.
Nhiệt độ da biến động nhiều hơn nhiệt độ trung tâm và bị ảnh hưởng bởi các đáp ứng trong cơ chế điều nhiệt như lượng máu tới da, mồ hôi, nhiệt độ các mô dưới da và các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ ẩm không khí, tốc độ gió, bức xạ nhiệt. Khác với NĐTT nhiệt độ da là một chỉ số quan trọng đánh giá việc truyền nhiệt từ cơ thể vào môi trường. Nhiệt độ da cung cấp cho hệ thống điều 4 hòa thân nhiệt của cơ thể những thông tin quan trọng quyết định nhu cầu thải nhiệt hay giữ nhiệt của cơ thể thông qua các receptor nhiệt tại da [46] 1. Nhiệt độ da trung bình và nhiệt độ trung bình cơ thể Nhiệt độ da thường có giá trị khác nhau khi đo ở các vị trí khác nhau trên cơ thể.
Nhiệt độ da thường thấp ở chi (khoảng 30 0C), cao hơn và ổn định hơn là nhiệt độ da ở vùng đầu và ngực (320C và 340C). Do vậy, người ta thường tính nhiệt độ da trung bình (Tdat) bằng cách đo nhiệt độ da tại một số vị trí nhất định trên cơ thể rồi tính toán dựa và diện tích da tại vùng đó. T dat là trung bình nhiệt độ các phần da khác nhau trên cơ thể Công thức tính Tdat [20] Tdat = a1ta1 + a2ta2 + a3ta3 + …+antan Trong đó: a1, a2, a3,…, an là những hệ số biểu thị cho phần diện tích da của các phần cơ thể so với diện tích da của toàn bộ cơ thể. t1 ,t2 ,t3 …tn là nhiệt độ da các vùng tương ứng Người ta thấy rằng có thể xác định T dat nhờ vào đo tối thiểu là 3 điểm nhiệt độ da và tối đa là 18 điểm (về nguyên tắc thì càng lấy nhiều vị trí càng tốt).
Ngày nay, phần lớn các nghiên cứu trong môi trường lạnh đều thông qua đo nhiệt độ da tại 7 điểm trên cơ thể (trán, cẳng tay, mu bàn tay, ngực, đùi, cẳng chân, mu bàn chân) rồi từ đó tính ra Tdat dựa vào công thức của Hardy- Duboi cải tiến: Tdat = 0.07Tmuc Đối với môi trường nóng người ta thường đo nhiệt độ da tại 3 điểm, được tính theo công thức tính nhiệt độ da trung bình trong thường quy kĩ thuật [54].39 Tcangc Để xác định trạng thái nhiệt của cơ thể người ta thường tính nhiệt độ cơ thể trung bình ( Tcot ) thông qua nhiệt độ trung tâm và nhiệt độ da trung bình đã biết: Tcot = 0.35 Tdat Trong đó: 5 T ttuct là nhiệt độ trực tràng, trong nghiên cứu này chúng tôi dùng T ttuct là nhiệt độ trung tâm. Tdat là nhiệt độ da trung bình.2 Một số cấu trúc của cơ thể có vai trò quan trọng trong điều hòa nhiệt độ cơ thể Đặc điểm cấu trúc của cơ thể tạo ra sự thuận lợi trong việc thải nhiệt nhưng ngược lại cũng thuận lợi cho việc giữ nhiệt cho cơ thể tùy nhu cầu, đó là lớp cách nhiệt và hệ tỏa nhiệt. Lớp cách nhiệt gồm da, các mô mỡ dưới da, trong đó các mô mỡ dưới da có tác dụng cách nhiệt tốt nhất vì độ nhiệt của mỡ chỉ bằng 2/3 các mô khác. Lớp mỡ dưới da của nữ dày hơn nam do đó lớp cách nhiệt của nữ tốt hơn nam.
Người ta còn gọi lớp “vỏ”, lớp này dày hơn ở người xứ lạnh và mỏng hơn ở người xứ nóng. Một người ở xứ lạnh sang xứ nóng thì lớp “vỏ” có thể bị mỏng dần theo thời gian. Người Việt Nam có tỉ lệ diện tích da trên cân nặng lớn hơn người Châu Âu, lớp mỡ dưới da mỏng hơn người Châu Âu do vậy tác dụng thải nhiệt của da cũng tốt hơn [24, 20]. Hệ tỏa nhiệt là dòng máu mang nhiệt từ trung tâm cơ thể ra lớp da, khác với lớp cách nhiệt, hệ này có tính chất chủ động cao.
Cấu trúc dày đặc của hệ thống mạch máu dưới da và dòng máu mang nhiệt đi từ trung tâm cơ thể ra, lớp này tạo điều kiện cho việc chuyển nhiệt từ trung tâm ra ngoại vi cơ thể. Hệ mạch này có thể giãn hay co để làm tăng hay giảm lượng máu tới da, việc này không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu dinh dưỡng đơn thuần mà còn phụ thuộc vào nhu cầu thải nhiệt hay giữ nhiệt của cơ thể. Lưu lượng dòng máu tới da chịu sự điều khiển của hệ thần kinh giao cảm, kích thích giao cảm làm co mạch và ngược lại ức chế giao cảm gây giãn mạch Tuyến mồ hôi là một cấu trúc quan trọng trong quá trình thải nhiệt. Một số người ở xứ lạnh có dị tật bẩm sinh là không có tuyến mồ hôi có thể vẫn sống bình thường nhưng khi sang vùng nóng có thể bị chết vì không ra mồ 6 hôi để thải nhiệt, nhiệt độ cơ thể tăng dần tới khi say nóng và chết.
Tuyến mồ hôi không nhận các sợi thần kinh tiết noradrenalin nhưng lại chịu tác dụng kích thích của adrenalin và noradrenalin. Điều này rất quan trọng vì khi vận động tuyến tủy thượng thận tiết ra hai hormone adrenalin và noradrenalin kích thích tuyến mồ hôi tăng bài tiết đúng vào thời điểm cơ thể đang cần tăng quá trình thải nhiệt. Tuyến mồ hôi hoạt động rất mạnh khi nhiệt độ cơ thể tăng cao và đóng vai trò quan trọng trong quá trình thải nhiệt. Thành phần của mồ hôi chủ yếu là nước và NaCl.
Ở người dân xứ lạnh nồng độ NaCl trong mồ hôi cao hơn nhiều so với người dân xứ nóng nhưng do lượng mồ hôi ít (do nhu cầu thải nhiệt ít) nên lượng NaCl mất theo mồ hôi cũng là không đáng kể. Khi người dân xứ lạnh sống trong môi trường nóng, dần dần lượng mồ hôi sẽ tiết ra nhiều hơn và lượng NaCl sẽ được tái hấp thu mạnh hơn (dưới tác dụng của aldosterone) làm cơ thể đỡ mất muối trong khi vẫn có thể tăng bài tiết mồ hôi để thải nhiệt. Đó là một trong những cơ chế thich nghi với môi trường nóng. Người Việt Nam thích nghi lâu đời với môi trường nóng, nên lượng muối trong mồ hôi thấp hơn người xứ lạnh và trong cùng một hoàn cảnh nhiệt độ cao như nhau thường tiết ít mồ hôi hơn người xứ lạnh [42, 48] 1.
Đáp ứng của hệ thống tim mạch trong quá trình điều nhiệt Hoạt động thể lực và điều nhiệt tạo nên một cuộc cạnh tranh về nhu cầu máu làm tăng nhu cầu cấp máu - gây áp lực tới hệ thống tuần hoàn Hoạt động cơ cần nhiều hơn sự gia tăng lượng máu, trong khi đó cơ chế điều nhiệt cũng cần có lượng máu tới da, giúp cho quá trình thải nhiệt. Lượng máu đến cơ tăng gấp vài lần so với lượng máu đến da, lượng máu đến da thay đổi chủ yếu do phân bổ lại máu trong hệ thống tuần hoàn. Thêm nữa khi nước và điện giải bị mất do tăng tiết mồ hôi mà chưa được bồi phụ kịp thời sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới hệ tim mạch do giảm khối lượng máu trong khi nhu cầu cấp máu không giảm.