CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA DE TÀI 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu hứng thú. Trong thực tiễn cuộc sống cũng như trong khoa học giáo dục, hứng thú là một van đề phong phú, hap dẫn và cũng khá phức tạp như L.Vưgôtxki nhà tâm ly học Liên Xô cũ đã khang định: “Đối với việc nghiên cứu hầu như không có vấn đề nào rắc rối hơn vấn đề tìm hiểu hứng thú thực sự của một con người” [31, tr. Chính vi thé lâu nay lĩnh vực hứng thú đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu và cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về hứng thú đã được công bồ.
Lịch sw nghiên cứu hứng thú ở nước ngoài - Từ những năm 1931, L.Strong đã nghiên cứu “Sự thay đôi hứng thú theo lứa tuổi”. Ông đã đưa ra quan niệm về hứng thú và đưa ra phương pháp nghiên cứu về hứng thú, với 400 câu và đã thử nghiệm trên nhiều đối tượng khác nhau.Ông cho rằng hứng thú có thê thay đổi cùng với sự lớn lên của cá nhân, hứng thú được biêu hiện trong xu thê của con người .Buhler, trong công trình “Phát triển hứng thú ở trẻ em” đã tìm hiểu khái niệm về hứng thú, ông cho rằng hứng thú là hiện tượng tâm lý phức tạp, đến nay vẫn chưa thể xác định, trong cấu trúc của hứng thú có sự tham gia của nhu cầu.Buhler thừa nhận tính tích cực của hứng thú song ông chưa thấy vai trò của giáo dục đối với việc phát triển hứng thú.Bêliep, đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về vấn đề: “Tâm lý học hứng thú”. - Năm 1946, khi nghiên cứu vấn đề “Tâm lý học trẻ em và thực nghiệm sư phạm”, E.Claparade đã đưa ra khái niệm về hứng thú (dựa trên bản chất sinh học). - Năm 1955, có công trình nghiên cứu của A.Packhudôp về van đề “Sự phụ thuộc giữa tri thức của học sinh và hứng thú học tập”.
Tác giả đã đề cập tới khái niệm hứng thú và mỗi quan hệ giữa hứng thú học tập với sự tiếp thu tri thức. Ivanôp đã nghiên cứu về van dé “Sự phát triển và giáo dục hứng thú của học sinh các lớp trong trường trung học”.Ông cho rằng nhà trường có vai trò quan trọng đối với sự phát triển hứng thú học tập của học sinh.đặc biệt là phương pháp giảng của thầy cô giáo. - Năm 1961, trong cuốn “Tâm lý học hứng thú”, D.Super đã xây dựng phương pháp nghiên cứu về hứng thú nghề nghiệp ở các nhóm dân cư khác nhau. - Năm 1964, Guilford đã nghiên cứu về hứng thú và coi nó là một thành tố trong câu trúc nhân cách.LGanbirô đã nghiên cứu đề tài: “Vận dụng hứng thú như là một phương tiện để nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn tiếng Nga”.
Cũng trong năm này, I.Lépkôp đã có công trình nghiên cứu về vấn đề: “Sự hình thành hứng thú nhận thức cho học sinh trong quá trình công tác nghiên cứu địa phương”.Marôzôva đã tìm hiểu: “Sự hình thành hứng thú ở trẻ em trong điều kiện phát triển bình thường và không bình thường”.Marôzôva xem xét hứng thú nhận thức với tư cách là động cơ có vai trò thúc đây tính tích cực hoạt động của học sinh.LSukina đã có công trình nghiên cứu về: “Van đề hứng thú nhận thức trong khoa hoc giáo dục”. Ngoài việc coi hứng thú là một trong những động cơ có ý nghĩa nhất, tác giả còn cho rằng hứng thú là một thuộc tính của nhân cách.Marôrôva đã nghiên cứu vấn đề: “Tác dụng của việc giảng dạy nêu van đề đối với hứng thú nhận thức của học sinh”. Trong tác phẩm này tác gia đã làm rõ khái nệm hứng thú nhận thức và các biểu hiện đặc trưng của nó, đồng thời tác giả đã đề cập tới các giai đoạn phát triển hứng thú cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển hứng thú. - Trong những năm gần đây còn có công trình nghiên cứu của A.Anherxki: “Bàn về van dé giáo dục hứng thú cho học sinh cấp I và trung học”.
Savina với đề tài nghiên cứu về: “Sự hình thành hứng thú và khuynh hướng trong việc giáo dục đoàn viên”. Vina với đề tài: “Sự hình thành hứng thú trong quá trình học tập các môn”. Công trình nghiên cứu của L.Xalơnhisưva về: “Sự phát triển hứng thú nhận thức ở các em mẫu giáo”.Pagiơnhicôp đã nghiên cứu vấn đề: “Sự hình thành khuynh hướng xã hội của hứng thú ở học sinh trong quá trình tham gia công tác ngoài nhà trường”.Tratac đã nghiên cứu: “Những cơ sở của việc hình thành hứng thú môn thực vật”. Phincôp với đề tài: “Giáo dục hứng thú nhận thức cho học sinh lớp 6,7 trong công tác ngoài nha trường”.
Các tác giả đã khái quát lý luận hứng thú, lý luận động cơ trong phạm vi hứng thú nhận thức, nhấn mạnh vai trò của giáo dục trong nha trường, cũng như việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa ngoài nhà trường đối với việc hình thành và phát triển hứng thú. Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Liên Xô cũ khác như: A.đã có nhiều công trình nghiên cứu về hứng thú các tác giả đã làm rõ khái niệm hứng thú, sự phát triển hứng thú nhận thức trong hoạt động nhận thức, tìm hiểu mối quan hệ của chủ thé và khách thé, mối quan hệ của hứng thú học tập với hứng thú chọn nghề, mối quan hệ của của hứng thú với kết quả học tập. Các nha tâm ly học cộng hòa dân chủ Đức trước đây như: W. Một số nhà tâm lý học tư sản khác cũng nghiên cứu vấn đề này như: Jam, Claparet, Janet.
Với những công trình nghiên cứu trên, các nhà tâm lý học ở các nước đã làm sáng tỏ những cơ sở lý luận của hứng thú và thu được nhiều kết quả trong việc áp dụng chúng vào thực tiễn hoạt động giảng dạy và học tập trong nhà trường. Lịch sw nghiên cứu hứng thú ở Việt Nam Ở Việt Nam, trong nhiều năm qua cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hứng thú có giá trị như: - Năm 1969, Lê Ngọc Lan đã nghiên cứu dé tài: “Tìm hiểu hứng thú học môn Toán của học sinh cấp II”. Mục đích của dé tai là tìm hiểu hứng thú học tập của học sinh đối với môn Toán và kiểm nghiệm biện pháp giáo dục của Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh đối với học sinh thông qua hoạt động ngoại khóa của Đội dưới hình thức kế chuyện do giáo viên chỉ đạo nhằm nâng cao hứng thú học môn Toán của học sinh cấp II. - Năm 1970, Phạm Huy Thụ đã nghiên cứu về vấn đề: “Hiện trạng hứng thú học tập các môn học của học sinh cấp II”.
Ông đã tìm hiểu sự phân hóa hứng thú học tập đối với các môn học của học sinh cấp II và trên cơ sở đó phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú học tập ở các em. - Năm 1973, Phạm Tắt Dong đã bảo vệ thành công luận án PTS ở Liên Xô cũ: “Một số đặc điểm hứng thú nghề nghiệp của hoc sinh phổ thông và công tác hướng nghiệp”. Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là hứng thú nghề nghiệp của học sinh nữ ở ba thành phố Mátxcơva, Mytsưsin, Hà Nội. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã khăng định hứng thú nghề nghiệp giữa nam và nữ có sự khác biệt, hứng thú nghề nghiệp không thống nhất với xu hướng phát triển nghề nghiệp của xã hội và công tác hướng nghiệp ở các trường phổ thông chưa 10 được thực hiện nên các em học sinh phải chịu nhiều thiệt thòi, đồng thời luận án cũng chỉ ra mối quan hệ giữa hứng thú học bộ môn với hứng thú nghề nghiệp.
- Năm 1974, Tổ Tâm lý học thuộc Khoa Tâm lý — giáo dục trường Đại học sư phạm Hà Nội I đã nghiên cứu: “Hung thú học tập của học sinh cấp II đôi với các môn học cụ thê”. - Năm 1977, Phạm Ngọc Quỳnh đã bảo vệ thành công luận án PTS với đề tài: “Hứng thú đối với môn Văn của học sinh cấp II”. Đề tài đã nghiên cứu hứng thú đối với các môn học và đối với đời sống văn hóa xã hội của học sinh một số trường ở thành phố Ulianov, thuộc Liên Xô trước đây. - Năm 1980, Nguyễn Thanh Bình đã nghiên cứu đề tài: “Bước đầu tìm hiểu nguyên nhân gây hứng thú học môn Tâm lý học của sinh viên Khoa tự nhiên, trường Đại hoc sư phạm Hà Noi’.
- Năm 1981, dé tài: “Bước đầu tìm hiểu hứng thú học Văn của học sinh lớp 10 và lớp 11 ở một số trường phổ thông cấp III thành phố Hồ Chí Minh” đã được Nguyễn Thị Tuyết đi sâu nghiên cứu. - Năm 1984: Trần Thị Thanh Hương đã tiến hành thực nghiệm: “Nâng cao hứng thú học Toán của học sinh qua việc điều khiển hoạt động tự học ở nhà của học sinh”. - Năm 1988, với đề tài nghiên cứu: “Tìm hiểu hứng thú, năng lực học Văn của học sinh lớp 6”, Vũ Thị Nho đã bước đầu tiến hành thực nghiệm hình thành hứng thú và năng lực học Văn ở các khách thê được nghiên cứu. - Năm 1990: Nghiên cứu sinh Im Koch đã bảo vệ thành công luận án PTS với đề tài: “Tìm hiểu hứng thú đối với môn Toán của học sinh lớp 8 Phnông Pénh”.
- Năm 1991, trong luận án tốt nghiệp của mình, Nguyễn Thị Tình đã “Tìm hiểu hứng thú đối với môn Toán của học sinh lớp 8 Hải Hưng”. 11 - Năm 1993, Nguyễn Công Vinh đã bảo vệ thành công luận văn tốt nghiệp với dé tài: “Tìm hiểu hứng thú học tập và nguyên nhân hứng thú đối với môn Tâm lý của sinh viên 3 trường Đại học Sư phạm, Trung học Sư phạm, Trung học Sư phạm mam non thành phố Hỗ Chi Minh”. Nhìn chung các tác giả đã khái quát lý luận hứng thú, đặc biệt làm rõ hứng thú học tập, ho đã chỉ ra những yếu tố khách quan,chủ quan anh hưởng tới hứng thú học tập của học sinh, các biện pháp phát triển và củng cố hứng thú học tập. - Năm 1996, Đào Thị Oanh đã nghiên cứu về: “Hứng thú học tập và sự thích nghi với cuộc sống nhà trường của học sinh tiêu học”.
Kết quả nghiên cứu cho thấy hứng thú học tập của các em học sinh tiêu học trong diện nghiên cứu còn ở mức thấp và chưa ôn định. Điều đó có liên quan đến việc thích nghi của trẻ đôi với cuộc sông nhà trường và hoạt động học tập nói chung.