Nghiên cứu về vấn đề mất ngủ ở bệnh nhân vảy nến thể thông thường

Luận án tiến sĩ khảo sát mối liên hệ giữa mất ngủ và bệnh vảy nến thể thông thường, cung cấp cái nhìn sâu sắc về sức khỏe tâm thần.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Y đa khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2020

71
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Vảy nến thể thông thường

1.2. Đại cương bệnh vảy nến

1.3. Sinh bệnh học

1.4. Đặc điểm lâm sàng bệnh vảy nến

1.5. Đặc điểm cận lâm sàng bệnh vảy nến

1.6. Đánh giá mức độ nặng của bệnh vảy nến thể thông thường

1.7. Rối loạn tâm thần ở bệnh nhân vảy nến

1.7.1. Rối loạn lo âu

1.7.2. Trầm cảm

1.7.3. Rối loạn ăn uống

1.7.4. Rối loạn nhân cách

1.7.5. Rối loạn tình dục

1.7.6. Lạm dụng và phụ thuộc chất

1.7.7. Rối loạn giấc ngủ trong vảy nến

1.8. Nguyên nhân, yếu tố ảnh hưởng

1.9. Tiêu chuẩn chẩn đoán một số rối loạn giấc ngủ thường gặp

1.10. Công cụ đánh giá rối loạn giấc ngủ

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Tiêu chuẩn chẩn đoán

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.6. Thiết kế nghiên cứu

2.7. Chọn mẫu và cỡ mẫu

2.8. Sơ đồ quy trình nghiên cứu

2.9. Các biến số nghiên cứu

2.10. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.11. Phương pháp xử lý số liệu

2.12. Sai số và khống chế sai số

2.13. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. Mô tả đặc điểm lâm sàng bệnh nhân vảy nến thông thường

3.2. Rối loạn giấc ngủ trên bệnh nhân vảy nến

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm lâm sàng bệnh nhân vảy nến thể thông thường

4.2. Phân bố bệnh nhân theo giới

4.3. Phân bố bệnh nhân theo tuổi

4.4. Đặc điểm đối tượng

4.5. Mức độ nặng vảy nến của bệnh nhân theo điểm PASI

4.6. Phương pháp điều trị vảy nến mà bệnh nhân đang sử dụng

4.7. Rối loạn giấc ngủ trên bệnh nhân vảy nến

4.8. Đặc điểm giấc ngủ chung của các bệnh nhân vảy nến

4.9. Nguyên nhân gây mất ngủ

4.10. Mối liên quan của mức độ ặng vảy nến đến rối loạn giấc ngủ

4.11. Mối liên quan giữa mức độ nặng của rối loạn giấc ngủ

4.12. Mối liên quan giữa nhóm tuổi bệnh nhân và rối loạn giấc ngủ

4.13. Mối liên quan giữa triệu chứng ngứa và rối loạn giấc ngủ

4.14. Mối liên quan giữa triệu chứng đau khớp và rối loạn giấc ngủ

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN

6. CHƯƠNG 6: KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Khái quát về bệnh vảy nến thể thông thường

Bệnh vảy nến thể thông thường là một bệnh viêm da mãn tính, có thể gây ra nhiều triệu chứng khó chịu cho bệnh nhân. Theo thống kê, tỷ lệ mắc bệnh này dao động từ 2-3% tùy theo khu vực. Bệnh không chỉ ảnh hưởng đến da mà còn có thể gây ra các vấn đề tâm lý nghiêm trọng. Đặc biệt, bệnh nhân vảy nến có nguy cơ cao mắc các rối loạn tâm thần như trầm cảm và lo âu. Việc hiểu rõ về bệnh vảy nến thể thông thường là rất cần thiết để có thể đưa ra các phương pháp điều trị hiệu quả.

1.1. Đặc điểm lâm sàng

Bệnh vảy nến thể thông thường thường biểu hiện bằng các sẩn đỏ, có vảy trắng dày. Tổn thương có thể xuất hiện ở nhiều vị trí trên cơ thể như khuỷu tay, đầu gối và mặt. Bệnh nhân có thể cảm thấy ngứa và rát, điều này làm giảm chất lượng cuộc sống của họ. Việc đánh giá mức độ nặng của bệnh thường được thực hiện thông qua chỉ số PASI, giúp xác định mức độ ảnh hưởng của bệnh đến sức khỏe và tâm lý của bệnh nhân.

II. Rối loạn giấc ngủ ở bệnh nhân vảy nến

Rối loạn giấc ngủ là một trong những vấn đề phổ biến ở bệnh nhân vảy nến thể thông thường. Nghiên cứu cho thấy có tới 81,8% bệnh nhân vảy nến gặp phải các vấn đề về giấc ngủ. Nguyên nhân của tình trạng này có thể liên quan đến triệu chứng ngứa, đau khớp và các yếu tố tâm lý như lo âu và trầm cảm. Việc hiểu rõ mối liên hệ giữa vảy nến và rối loạn giấc ngủ là rất quan trọng để cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

2.1. Nguyên nhân gây mất ngủ

Mất ngủ ở bệnh nhân vảy nến có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau. Triệu chứng ngứa và đau khớp là hai yếu tố chính gây ra rối loạn giấc ngủ. Ngoài ra, các yếu tố tâm lý như lo âu và trầm cảm cũng góp phần làm tăng mức độ nghiêm trọng của tình trạng mất ngủ. Việc điều trị các triệu chứng này có thể giúp cải thiện giấc ngủ cho bệnh nhân.

III. Tác động của vảy nến đến sức khỏe tâm lý

Bệnh vảy nến không chỉ ảnh hưởng đến thể chất mà còn có tác động lớn đến sức khỏe tâm lý của bệnh nhân. Nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ chặt chẽ giữa mức độ nặng của bệnh và các rối loạn tâm thần như trầm cảm và lo âu. Bệnh nhân vảy nến thường phải đối mặt với sự kỳ thị xã hội, điều này làm tăng cảm giác cô đơn và trầm cảm. Việc nhận thức và điều trị các vấn đề tâm lý này là rất quan trọng trong quá trình điều trị tổng thể cho bệnh nhân.

3.1. Mối liên hệ giữa vảy nến và trầm cảm

Trầm cảm là một trong những rối loạn tâm thần phổ biến nhất ở bệnh nhân vảy nến. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trầm cảm ở bệnh nhân vảy nến cao hơn so với dân số chung. Các yếu tố như mức độ nặng của bệnh, triệu chứng ngứa và sự kỳ thị xã hội đều có thể góp phần làm tăng nguy cơ trầm cảm. Việc điều trị đồng thời cả bệnh vảy nến và các rối loạn tâm lý là cần thiết để cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vảy nến thể thông thường 1. Đại cương bệnh vảy nến Bệnh vảy nến đã được biết đến từ rất lâu. Hippocrate (năm 460 - 375 trước công nguyên) miêu tả bệnh vảy nến như là tình trạng da có vảy và đặt tên là "Lopoi".

Ở Việt Nam Giáo sư Đặng Vũ Hỷ là người đầu tiên gọi tên bệnh là vảy nến [1], [3]. Vảy nến là một trong số những bệnh da viêm thường gặp nhất, bệnh xảy ra trên toàn thế giới. Tỷ lệ mắc bệnh khác nhau tuỳ theo từng quốc gia nhưng gặp nhiều nhất ở vùng Cápca, tùy theo các báo cáo, thay đổi từ 0,1% - 11,8%. Ở Việt Nam, theo Nguyễn Xuân Hiền và cộng sự, vảy nến chiếm 6,44% bệnh nhân da liễu ở Viện Quân Y 108 [3].

Nghiên cứu của Trần Văn Tiến tại Viện Da liễu Trung ương có 134 bệnh nhân vảy nến đến điều trị nội trú trong thời gian từ tháng 3 - 1999 đến 8 - 2000, chiếm tỉ lệ 12,04% [4]. Tỉ lệ mắc bệnh ở nam thường lớn hơn nữ, có thể xuất hiện ở bất kỳ lứa tuổi nào, nhưng không thường gặp ở trẻ em dưới 10 tuổi. Sinh bệnh học Đến nay căn nguyên của bệnh vẫn chưa được biết rõ nhưng người ta thấy các yếu tố liên quan chính: Di truyền, rối loạn miễn dịch, môi trường. Di truyền Nhiều nghiên cứu cho thấy có sự chênh lệch khá rõ giữa các type HLA ở tế bào bệnh nhân vảy nến.

Các type HLA thường gặp là HLA - B13, - B17, - B27, - B39, - B57, - Cw6. Rối loạn miễn dịch luan an 4 Trước năm 1979 người ta cho rằng vảy nến là một rối loạn tiên phát của tế bào sừng, vai trò của các tế bào T và hệ thống miễn dịch. Gần đây người ta cho rằng Th17 đóng vai trò chủ đạo trong cơ chế bệnh sinh của vảy nến [5], [6]. Yếu tố môi trường Một số yếu tố môi trường như: Sang chấn cơ học, nhiễm trùng, stress, thuốc, giảm calci huyết, rượu, khí hậu.

cũng được báo cáo có liên quan trong cơ chế bệnh sinh của bệnh vảy nến [3]. Đặc điểm lâm sàng bệnh vảy nến a. Vảy nến thể thông thường Vảy nến thể thông thường là vảy nến không bao gồm các thể vảy nến đặc biệt. Tổn thương da đặc trưng: Sẩn, mảng đỏ sung huyết ranh giới rõ với da lành; bề mặt có nhiều vảy trắng dày dễ bong; khi cạo vảy theo phương pháp Brocq cho kết quả dương tính.

Bệnh nhân có thể có một hoặc nhiều tổn thương, hình tròn, bầu dục, hoặc đa cung. Vị trí thường gặp của tổn thương là khuỷu tay, đầu gối, mặt duỗi chi. Cơ năng thường ngứa, rát thay đổi theo từng bệnh nhân và mức độ bệnh. Dựa vào kích thước của tổn thương, có thể chia vảy nến thể thông thường thành các thể sau: - Thể giọt: Đường kính tổn thương < 1cm.

luan an 5 - Thể đồng tiền: Đường kính tổn thương < 2cm, trung tâm nhạt màu, bờ đỏ thẫm. - Thể mảng: Đường kính tổn thương ≥ 2 cm. Tổn thương móng: Rỗ móng, dày sừng dưới móng, xuất huyết móng. Tổn thương khớp: Sưng nóng đỏ đau khớp nhỡ nhỏ ngoại vi, cột sống.

Vảy nến có thể kèm theo đái đường, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu,. Bệnh tiến triển từng đợt tái phát xen lẫn những thời kỳ ổn định bệnh. Vảy nến thể đặc biệt khác - Thể mụn mủ lan toả: Mụn mủ, hồ mủ nông trên nền dát đỏ lan tỏa toàn thân từng đợt cộng với sốt cao [1]. Mụn mủ khu trú: Vảy nến thể mủ lòng bàn tay bàn chân Barber, viêm da đầu chi liên tục Hallopeau.

- Thể đỏ da toàn thân: Đỏ da ≥90% diện tích cơ thể. Đặc điểm cận lâm sàng bệnh vảy nến thể thông thường a. Công thức máu Nhìn chung là bình thường. Sinh hóa máu - Có thể tăng đường máu, mỡ máu… - Ở bệnh nhân vảy nến thể giọt có thể tăng kháng thể kháng độc tố tan máu liên cầu ASLO trong trường hợp nhiễm liên cầu trước đó.

- Các trường hợp vảy nến khởi phát nhanh, đáp ứng chậm với điều trị có thể liên quan đến HIV. Biến đổi mô bệnh học ở tổn thương vảy nến Hình ảnh mô bệnh học của thương tổn vảy nến có ba đặc điểm chủ yếu là biệt hoá bất thường của tế bào sừng, quá sản tế bào sừng và thâm nhiễm viêm:  Quá sản thượng bì, mất lớp tế bào hạt, tế bào sừng còn nhân hoặc dáng dấp của nhân (hiện tượng á sừng). Lớp đáy tăng phân bào.  Trung bì mỏng, nhú bì kéo dài lên trên, mao mạch ở nhú bì giãn rộng và xoắn vặn.

 Thâm nhiễm lympho bào, đại thực bào, bạch cầu đa nhân trung tính tập trung thành các vi áp xe. Mô bệnh học bệnh vảy nến (Nguồn: Fitzpatrick’s Dermatology in General Medicine [4]) luan an 7 1. Đánh giá mức độ nặng của bệnh vảy nến thể thông thường. Chỉ số diện tích và mức độ nặng của vảy nến (PASI) o Đánh giá dựa trên mức độ đỏ da, mức độ dày da, mức độ dày của vảy da, diện tích vùng bị tổn thương [7].

- Mức độ đỏ da (erythema - E) chia làm 5 mức độ điểm từ 0 – 4. - Mức độ dày da (thickness - T) chia làm 5 mức độ điểm từ 0 – 4. - Mức độ dày của vảy da (scaliness - S) chia 5 mức độ điềm từ 0 – 4. - Diện tích vùng tổn thương (area - A) chia 4 vùng: Đầu mặt cổ, thân mình (gồm cả nách, bẹn), chi trên và chi dưới; phần trăm diện tích tổn thương chia 6 mức độ: < 10%, 10-29%, 30-49%, 50 - 69%, 70 - 89%, 90 - 100%; điểm tương ứng 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6.

o Điểm PASI = 0,1Ah (E+ T+ S) + 0,2Aa (E+ T+ S) + 0,3At (E+ T+ S) + 0,4Al (E+ T+ S). - Trong đó Ah, Aa, At, Al tương ứng diện tích vùng đầu, chi trên, thân mình, chi dưới bị tổn thương. - Điểm PASI thay đổi từ 0 - 72, trên lâm sàng hiếm khi > 40. o Giá trị của PASI - Đánh giá mức độ nặng của vảy nến: <10 điểm là mức độ nhẹ, 10 - <20 là mức độ vừa, ≥20 là mức độ nặng.

Phần trăm diện tích cơ thể bị tổn thương (BSA) Tính tổng diện tích cơ thể bị tổn thương theo quy luật số 9: Đầu mặt cổ 9%, mỗi tay 9%, mỗi chân 18%, thân mình trước 18%, thân mình sau 18%, sinh dục 1%. Cộng tổng diện tích từng vùng tổn thương ra được BSA. Đánh giá: BSA <10, từ 10 - 30, >30; tương ứng vảy nến mức độ nhẹ, vừa, nặng. Điểm chất lượng cuộc sống dermatology life quality index (DLQI).

Có 10 câu hỏi bệnh nhân tự trả lời, số điểm mỗi câu từ 0 - 3 tính tổng điểm ra DLQI, điểm tối đa 30 điểm. Đánh giá: DLQI <10 vảy nến mức độ nhẹ, DLQI ≥10 vảy nến mức độ vừa, nặng. Nguyên tắc, chiến lược điều trị Nguyên tắc: Điều trị tấn công làm sạch tổn thương, sau đó điều trị duy trì ổn định bệnh. Chiến lược điều trị: Đơn độc, kết hợp, luân chuyển, kế tiếp.

Điều trị tại chỗ - Thuốc tiêu sừng, bong vảy: Mỡ salicylic 2-10%. - Thuốc khử oxy: Goudron (hắc ín), anthraline (dioxyanthranol),. - Thuốc ức chế miễn dịch: Corticoid có tác dụng chống viêm mạnh. - Vitamin D và dẫn xuất: Daivonex, Daivobet.

- Tazarotene: Một retinoid có tác dụng tốt trong điều trị vảy nến. Điều trị toàn thân Chỉ định: Vảy nến mức độ vừa, nặng, vảy nến thể mủ, thể đỏ da toàn thân, viêm khớp vảy nến hoặc vảy nến kháng với thuốc bôi. Bao gồm: Methotrexate, vitamin A acid (acitretin), cyclosporin, chế phẩm sinh học, thuốc khác. Điều trị bằng ánh sáng Gồm: Quang trị liệu, quang hóa trị liệu, laser excimer.

Các nghiên cứu: Theo Huỳnh Thị Xuân Tâm năm 2019 : Tuổi khởi phát bệnh trung bình là 36 tuổi. Trước 40 tuổi là 54,5%, sau 40 tuổi 45,5%. - Thời gian mắc bệnh < 15 năm chiếm tỉ lệ cao nhất với 45,4%. - Vị trí khởi phát vảy nến ở chi dưới 57,6%, nếp gấp và mặt với 56,1%.

- Vảy nến ở mức trung bình là 53% và ở mức nặng là 47%. Rối loạn tâm thần ở bệnh nhân vảy nến 1. Rối loạn lo âu Bệnh nhân vảy nến có nhiều stress trong cuộc sống hơn so với người bệnh thường. Lo âu làm nặng vảy nến và vảy nến dẫn tới lo âu Rối loạn lo âu là kết quả của vảy nến: Vảy nến có thể dẫn tới rối loạn lo âu vì ngứa mạn tính, ảnh hưởng tới thẩm mỹ và sự kỳ thị của những người xung quanh [7,8].

Khi bệnh nhân mất hòa nhập xã hội, điểm đánh giá lo âu cao hơn [9]. Bệnh nhân nữ thường có điểm rối loạn lo âu cao hơn [10]. Lo âu là yếu tố làm nặng vảy nến: Stress làm rối loạn hàng rào thượng bì. Ở bệnh nhân vảy nến có sự kích hoạt hệ giao cảm làm tăng nồng độ adrealin và noradrealin cũng như giảm nồng độ cortisol với sự điều hòa trung tâm và ngoại vi trục dưới đồi – yên – thượng thận.

Sự điều hòa trục này điều chỉnh các cytokin tiền viêm, giải thích sự nặng lên của vảy nến do stress. Stress làm tăng các kháng nguyên liên quan lympho T da (CLA +) và tế bào diệt tự nhiên (NK) có vai trò trong bệnh sinh vảy nến, thay đổi thượng bì. Trầm cảm Trầm cảm là hậu quả của vảy nến. Sự biến dạng và kì thị ở người mắc vảy nến có thể gây ra trầm cảm [10].

luan an 10 Rối loạn chức năng tình dục, rối loạn giấc ngủ và nghiện rượu hay gặp trong vảy nến và nó có liên quan tới trầm cảm. Nó cũng góp phần tăng tỷ lệ trầm cảm ở vảy nến [10]. Điểm PASI cao cũng có liên quan đến trầm cảm [11]. Giới nữ dường như có nguy cơ mắc trầm cảm cao hơn, có thể là do nồng độ serotonin thấp [12,13].

Theo Kotrulja và cộng sự, thời gian mắc vảy nến càng lâu, điểm trầm cảm càng thấp, nhưng theo Schmitt thì điểm trầm cảm sẽ cao hơn [14, 15]. Trầm cảm có thể làm nặng vảy nến: Poot và cộng sự chỉ ra rằng trầm cảm cùng với mâu thuẫn gia đình có liên quan đến độ nặng vảy nến [16]. Vảy nến và trầm cảm: Có cùng cơ chế bệnh sinh. Nồng độc cao của các cytokine tiền viêm như IL6 và TNF-α thấy cả ở vảy nến và trầm cảm.

Chúng điều chỉnh sự chuyển hóa của serotonin, noradrealin và dopamine ở hệ viền và hạch nền, dẫn tới các triệu chứng trầm cảm. IL6 thúc đẩy sự trưởng thành các tế bào T ngây thơ sản xuất ra Th17 – có vai trò trong bệnh vảy nến.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài khóa luận tốt nghiệp mang tiêu đề "Nghiên cứu về vấn đề mất ngủ ở bệnh nhân vảy nến thể thông thường" của tác giả Nguyễn Thị Thủy, dưới sự hướng dẫn của Bs Đinh Hữu Nghị và TS Vũ Ngọc Hà, được thực hiện tại Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2020. Nghiên cứu này tập trung vào việc khảo sát tình trạng mất ngủ ở những bệnh nhân mắc bệnh vảy nến thể thông thường, một vấn đề thường bị bỏ qua nhưng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa bệnh vảy nến và mất ngủ mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới cho các phương pháp điều trị hiệu quả hơn.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe và điều trị, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Khảo Sát Nhu Cầu Tư Vấn Sử Dụng Thuốc Của Bệnh Nhân Điều Trị Ngoại Trú Tại Bệnh Viện Đại Học Y Hà Nội Năm 2023, nơi nghiên cứu nhu cầu tư vấn thuốc cho bệnh nhân, và Nghiên cứu lâm sàng viêm thận lupus ở trẻ em và mô bệnh học, một nghiên cứu liên quan đến các bệnh lý tự miễn có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các vấn đề sức khỏe liên quan đến giấc ngủ và bệnh lý da liễu.