CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm về stress Có nhiều quan niệm khác nhau về stress. Người có công lớn trong việc nghiên cứu stress liên quan đến y học là Hans Selye người Canada. Hens Selye là người nghiên cứu có hệ thống về stress. Ông cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về stress.
Tuy nhiên, sau nhiều năm nghiên cứu, cuối cùng ông đưa ra một định nghĩa về stress như sau “Stress luôn có mặt ở bất kỳ thời điểm nào của sự tồn tại của chúng ta. Một tác động bất kỳ tới một cơ quan nào đó đều gây ra stress. Stress không phải lúc nào cũng là kết quả của sự tổn thương, ngược lại có hai loại stress khác nhau, đối lập nhau: stress bình thường khoẻ mạnh là Eustress, stress độc hại hay stress tiêu cực là Dystress” [7]. Như vậy, theo quan điểm của Hans Selye, stress luôn có sẵn trong đời sống con người, là tương tác giữa tác nhân kích thích và phản ứng của cơ thể, giúp cơ thể thích nghi với môi trường.
Một số nhà khoa học cho rằng quan điểm của H. Selye nghiêng về mặt sinh học của stress, coi stress như một phản ứng sinh học. Theo Lazarus Richard “Stress như một quá trình tương tác đặc biệt giữa con người và môi trường. Trong đó, chủ thể nhận thức sự kiện từ môi trường như sự thử thách, sự hụt hẫng hoặc như một đòi hỏi mà chủ thể không thể ứng phó được – chủ thể đối mặt với nguy hiểm” [8].
Theo Lazarus stress là kết quả của sự mất cân đối giữa nhận thức về tình huống và khả năng ứng phó của cá nhân đối với tình huống đó [9]. Các nhà tâm lý học Việt Nam khi nghiên cứu về stress cũng đưa ra nhiều khái niệm khác nhau. Theo Tô Như Khuê “Stress là những phản ứng không đặc hiệu xảy ra một cách chung khắp, do các yếu tố tâm lý có hại về tâm lý xuất hiện trong các tình thế mà con người chủ quan thất là bất lợi hoặc rủi ro, ở đây vai trò quyết định không chủ yếu do tác nhân kích thích, mà do sự đánh giá chủ quan về tác nhân đó”. Khái niệm này đề cập đến vai trò của yếu tố nhận thức và thái độ của con người trong stress [10].
Nhóm các tác giả Nguyễn Văn Nhận, Nguyễn Bá Dương, Nguyễn Sinh Phúc cho rằng “Stress vừa chỉ tác nhân kích thích vừa để chỉ phản ứng của cơ thể trước 3 các tác nhân đó”. Các tác giả mới đưa ra stress là phản ứng sinh lý của cơ thể, biểu hiện tâm lý của stress và tác nhân gây stress chưa được đề cập đến [10]. Theo Vũ Dũng, “Stress là căng thẳng sinh lý và tâm lý phát sinh do những tình huống, sự kiện, trải nghiệm khó có thể chịu đựng hoặc vượt qua như những biến cố nghề nghiệp, kinh tế, xã hội [1]. Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi hiểu “Stress là một trạng thái không thoải mái về sinh lý, nhận thức, cảm xúc và hành vi mà mỗi chủ thể gặp phải khi phản ứng lại các kích thích hoặc tình huống do tác động từ môi trường bên ngoài, có thể ảnh hưởng tới thể chất và tinh thần của cá nhân đó” 1.2 Khái niệm về SARS-CoV-2 1.1 Lịch sử, dịch tễ học SARS-CoV-2 Coronavirus được phát hiện lần đầu tiên ở gia cầm năm 1930, gây ra các bệnh về đường hô hấp, tiêu hoá và thần kinh ở động vật.
Trong đó chỉ có bảy loại được biết đến gây bệnh cho người. Bốn trong số bảy coronavirus thường xuyên gây các triệu chứng cảm lạnh thông thường: Coronavirus 229E, OC43, NL63 và HKU1 gây khoảng 15 – 30% các trường hợp cảm lạnh thông thường. Hiếm khi nhiễm trùng đường hô hấp dưới nặng, bao gồm viêm phổi, có thể xảy ra nhưng chủ yếu là trên trẻ sơ sinh, người cao tuổi và người suy giảm hệ miễn dịch. Ba loại còn lại gây ra các bệnh nhiễm trùng hô hấp ở người nặng hơn nhiều và đã gây ra những đợt bùng phát dịch viêm phổi gây tỷ lệ tử vong cao trong thế kỷ 21: SARS-CoV (2002), MER-CoV (2012), SARS-CoV (2019) [11].
SAR-CoV: lần đầu tiên được phát hiện ở Phật Sơn, Sơn Đông, Trung Quốc vào tháng 11 năm 2002 và sau đó lan rộng đến hơn 30 quốc gia. Trong đợt bùng phát dịch này trên 8000 trường hợp được ghi nhận trên toàn thế giới và có 774 trường hợp tử vong (tỷ lệ tử vong thay đổi đáng kể theo độ tuổi từ <1% số trường hợp ở người dưới 24 tuổi đến >50% ở người trên 65 tuổi). Đợt bùng phát dịch này đã lắng xuống và không có trường hợp nào được xác định kể từ năm 2004. Nguồn lây trực tiếp được cho là cầy hương, được bán ở một chợ động vật sống và đã bị nhiễm bệnh do tiếp xúc với dơi trước khi được bắt từ tự nhiên để bán.
Dơi thường là vật chủ của nhóm coronavirus. SARS-CoV lây truyền từ người này sang người khác bằng cách tiếp xúc gần gũi và được lây truyền dễ dàng nhất 4 bởi các giọt bắn khi người bệnh ho hay hắt hơi. Mặc dù không có trường hợp mới nào được báo cáo kể từ năm 2004, không nên xem xét loại bỏ SARS vì virus gây bệnh có một ổ nguồn gốc từ động vật trong tự nhiên do vậy sự xuất hiện loại virus này là hoàn toàn có thể [11,12]. MER-CoV: Hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS) là một bệnh hô hấp cấp tính nặng do coronavirus MERS gây ra.
Những trường hợp nhiễm MERS-CoV được báo cáo lần đầu vàng tháng 9 năm 2012 tại Ả Rập Xê út. Cho đến cuối tháng 10 năm 2021, có 2578 trường hợp nhiễm MERS-CoV được ghi nhận với 888 trường hợp tử vong được báo cáo trên toàn thế giới với tỷ lệ tử vong (CFR) là 34,4%. Phần lớn trường hợp mắc bệnh từ Ả Rập Xê Út với 2178 trường hợp mắc bệnh bao gồm 810 trường hợp tử vong (CFR 37,2%). Đặc điểm nhân khẩu học và dịch tễ học của các trường hợp được báo cáo trong 6 tháng giữa năm 2021 khi so sánh với giai đoạn 2016 đến 2021 không có sự khác biệt đáng kể.
Nguồn lây MERS-CoV được cho là lạc đà một bướu, nhưng vẫn chưa rõ cơ chế lan truyền từ lạc đà sang người. Lây truyền từ người sang người qua tiếp xúc trực tiếp, các giọt nước bọt (trên 5µm), hoặc các hạt khí dung rất nhỏ (dưới 5µm) [13]. Vào cuối tháng 12 năm 2019, một số cơ sở y tế ở Vũ Hán, Trung Quốc đã báo cáo về nhiều nhóm bệnh nhân nhiễm viêm phổi không rõ nguyên nhân. Tương tự với các bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2, những bệnh nhân này có các triệu chứng của viêm phổi do virus, bao gồm ho, sốt, đau tức ngực và trong các trường hợp nặng là khó thở và thâm nhiễm phổi hai bên.
Trong số 27 bệnh nhân nhập viện đầu tiên được ghi nhận, hầu hết các trường hợp đều có liên quan về dịch tễ với chợ hải sản Huanan, khu chợ này không chỉ bán hải sản mà còn bán cả động vật sống, bao gồm cả gia cầm và động vật hoang dã. Theo một nghiên cứu hồi cứu, trường hợp đầu tiên được biết đến bắt đầu từ ngày 8 tháng 12 năm 2019. Vào ngày 31 tháng 12 năm 2019, Uỷ ban Y tế Thành phố Vũ Hán đã thông báo đến người dân về một đợt bùng phát viêm phổi không xác định được nguyên nhân và thông báo cho Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) [14]. Bằng cách giải trình tự RNA siêu phân lập và phân lập virus từ mẫu bệnh phẩm dịch rửa phế quản, phế nang, các nhà khoa học Trung Quốc đã xác định tác nhân gây ra căn bệnh này là một loại betacoronavirus chưa từng được tìm thấy trước đây, kết quả này được công bố vào ngày 9 tháng 1 năm 2020.
Sau đó, nhiều 5 bệnh nhân không có tiền sử tiếp xúc với chợ hải sản Huanan được ghi nhận. Một số nhóm nhiễm bệnh trong cùng gia đình được báo cáo. Tất cả các trường hợp này đều cung cấp bằng chứng về sự lây truyền giữa người với người của virus mới. Do đợt bùng phát trùng với dịp Tết Nguyên đán nên việc đi lại giữa các thành phố tạo điều kiện cho virus lây lan ở Trung Quốc.
Trong vòng 1 tháng, nó đã lâu lan đến kháp 34 tỉnh thành của Trung Quốc. Số lượng các trường hợp nhiễm bệnh tăng đột biến, với hàng nghìn trường hợp mới được chẩn đoán hàng ngày trong cuối tháng 1. Ngày 30 tháng 1, WHO tuyên bố đợt bùng phát virus coronavirus mới là tình trạng khẩn cấp về sức khoẻ cộng đồng. Ngày 11 tháng 2, Uỷ ban Quốc tế và phân loại virus (ICTV) đã đặt tên cho loại coronavirus mới là ‘SARS-CoV-2’, và WHO đã đặt tên cho căn bệnh này là ‘COVID-19’.
Ngày 11 tháng 3, WHO tuyên bố gọi ‘COVID-19’ là ‘Đại dịch toàn cầu’ [15]. Đến ngày 21 tháng 1 năm 2022 tổng số case mắc đã lên tới hơn 332 triệu người và đã làm hơn 5,5 triệu người tử vong. Trong hai năm, chủng virus gốc gây bệnh COVID-19 đã biến đổi thành 5 “biến thể đáng lo ngại”, căn cứ vào mức độ nghiêm trọng của bệnh, hiệu quả của các biện pháp ứng phó y tế và khả năng lây lan từ người sang người. Trong đó, các biến thể alpha, beta và gamma đã được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) hạ xuống thành “các biến thể cần theo dõi” vào tháng 9 năm 2021, trong khi biến thể delta và omicron hiện vẫn bị xem là “các biến thể lo ngại” [4].
Biểu đồ số trường hợp nhiễm SARS-CoV-2 theo tuần từ tháng 12/2019 đến 21/01/2022 6 Biểu đồ 1. Biểu đồ số trường hợp nhiễm SARS-CoV-2 theo khu vực từ tháng 12/2019 đến 21/01/2022 Đại dịch COVID-19 xuất hiện trường hợp nhiễm bệnh đầu tiên tại Việt Nam vào ngày 23/1/2020. Trong năm 2020, cả nước kiểm soát tốt dịch bệnh với số trường hợp nhiễm bệnh gần 1500 người và tổng số trường hợp tử vong cả năm là 35 trường hợp. Tuy nhiên đến năm 2021, số trường hợp nhiễm bệnh và tử vong tăng cao đột biến với làn sóng dịch thứ 3 và thứ 4, đặc biệt là đợt bùng phát dịch thứ 4 đã lan rộng 64 tỉnh, thành phố và đến hiện nay vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.
Thời điểm đầu của đợt bùng phát thứ 4, dịch đánh vào các nhà máy, khu công nghiệp lớn tại Bắc Giang với mật độ người đông, môi trường khép kín, dùng chung đồ ăn uống. Bắc Giang thời điểm đó ghi nhận số trường hợp nhiễm bệnh kỷ lục 1881 case trong vòng 22 ngày. Trong đợt bùng phát dịch thứ 4 COVID- 19 gây hậu quả nghiêm trọng nhất tại TP. Hồ Chí Minh, các tỉnh Nam Bộ và TP Hà Nội.
Kể từ ngày bùng phát dịch có những ngày cả nước ghi nhận hơn 29 nghìn case mắc mới.