Chương 1. Qui định kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú, chỉ số sử dụng thuốc, hoạt động sử dụng thuốc trong bệnh viện 1. Qui định kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú * Theo điều 6 thông tư số 05/2016/TT-BYT của Bộ Y tế (BYT), yêu cầu chung với nội dung kê đơn thuốc: + Ghi đủ, rõ ràng và chính xác các mục in trong Đơn thuốc hoặc trong Sổ khám bệnh hoặc Sổ điều trị bệnh cần chữa trị dài ngày của người bệnh. + Ghi chính xác địa chỉ nơi người bệnh đang thường trú hoặc tạm trú: số nhà, đường phố, tổ dân phố hoặc thôn, ấp, bản, xã, phường, thị trấn.
+ Đối với trẻ dưới 72 tháng tuổi thì phải ghi số tháng tuổi và ghi tên bố hoặc mẹ của trẻ. + Viết tên thuốc theo tên chung quốc tế (INN, generic) trừ trường hợp thuốc có nhiều hoạt chất. Trường hợp ghi thêm tên thuốc theo tên thương mại phải ghi tên thương mại trong ngoặc đơn sau tên chung quốc tế. + Ghi tên thuốc, nồng độ/hàm lượng, số lượng, liều dùng, đường dùng, thời điểm dùng của mỗi loại thuốc.
+ Số lượng thuốc gây nghiện phải viết bằng chữ, chữ đầu viết hoa. + Số lượng thuốc: viết thêm số 0 phía trước nếu số lượng chỉ có một chữ số (nhỏ hơn 10). + Trường hợp sửa chữa đơn thì người kê đơn phải ký tên ngay bên cạnh nội dung sửa. + Gạch chéo phần giấy còn trống từ phía dưới nội dung kê đơn đến phía trên chữ ký của người kê đơn; ký, ghi (đóng dấu) họ tên [6].
luan an 4 * Trong khoảng thời gian nghiên cứu, thông tư số 52/2017/TT-BYT của BYT qui định về việc kê đơn thuốc hóa dược, sinh phẩm trong điều trị ngoại trú được ban hành, thông tư này có hiệu lực từ 1-3-2018 [7]. Thời gian kết thúc lấy mẫu của nghiên cứu vào tháng 4-2019, tuy nhiên theo điều 6, thông tư này, yêu cầu chung với nội dung kê đơn thuốc, khi so sánh với điều 6, thông tư số 05/2016/TT-BYT có cùng nội dung mà luận án thực hiện đánh giá, có 8/9 nội dung khảo sát trong qui chế thực hiện không thay đổi giữa thông tư số 05/2016/TT-BYT và thông tư 2017, nội dung 3 chỉ khác là trẻ được đi khám cùng người giám hộ và ghi thêm số chứng minh nhân dân hoặc sổ căn cước công dân của bố hoặc mẹ hoặc người giám hộ của trẻ. Bên cạnh, trong thời gian thực hiện luận án, thông tư số 18/2018/TT-BYT sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư số 52/2017/TT-BYT, hiệu lực từ 15-10-2018, trong đó có sửa đổi khoản 3 điều 6 của thông tư này thành “Đối với trẻ dưới 72 tháng tuổi ghi số tháng tuổi, cân nặng, tên bố hoặc mẹ của trẻ hoặc người đưa trẻ đến khám bệnh, chữa bệnh. So với thông tư số 05/2016/TT-BYT, chỉ bổ sung thêm cân nặng của trẻ và tên của người đưa trẻ đi khám bệnh.
* Như vậy, nội dung khảo sát theo thông tư số 05/2016/TT-BYT không thay đổi nhiều về điều 6 – yêu cầu chung của nội dung đơn thuốc so với thông tư 52/2017/TT-BYT và thông tư 18/2018/TT-BYT nên nghiên cứu của chúng tôi vẫn đảm bảo tính mới và cập nhật so với các văn bản hiện hành của BYT. Chỉ số sử dụng thuốc 1. Mục tiêu Các nghiên cứu để đánh giá việc sử dụng thuốc sẽ rất khác nhau ở các nơi. Bản chất và thiết kế của các nghiên cứu như vậy sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: nhu cầu thông tin đặc thù của các nhà quản lý y tế, loại hình hệ thống lưu trữ hồ sơ đang có tại cơ sở, người cung cấp dịch vụ với những thói quen được mô tả, các nguồn lực để thực hiện nghiên cứu.
Nói chung, các luan an 5 nghiên cứu về sử dụng thuốc căn cứ vào các chỉ số thuộc vào bốn nhóm lớn dưới đây: * Mô tả thực hành kê đơn: nghiên cứu mô tả cắt ngang, được thực hiện đánh giá riêng biệt về thực hành điều trị của các nhóm cơ sở y tế (CSYT) và người bệnh. * So sánh việc thực hiện các chỉ số sử dụng thuốc giữa các CSYT hoặc người kê đơn hoặc giữa các nhóm CSYT với nhau. * Giám sát và theo dõi theo từng khoảng thời gian cụ thể trong năm về thói quen sử dụng thuốc. * Đánh giá hiệu quả can thiệp: các chỉ số cụ thể được sử dụng để đánh giá hiệu quả của mỗi can thiệp nhằm thay đổi việc thực hành kê đơn [1].
Phân loại Dựa trên các chỉ số sử dụng thuốc Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) đã xây dựng, BYT đã ban hành các chỉ số sử dụng thuốc cho các CSYT, gồm 5 chỉ số: chỉ số kê đơn, chỉ số chăm sóc người bệnh, chỉ số cơ sở, chỉ số sử dụng thuốc toàn diện và chỉ số lựa chọn sử dụng trong bệnh viện. Trong nội dung của luận án, do đối tượng nghiên cứu là người bệnh khám ngoại trú có bảo hiểm y tế (BHYT) nên phạm vi luận án chỉ khảo sát 3 chỉ số là chỉ số kê đơn, chỉ số chăm sóc người bệnh và chỉ số sử dụng thuốc toàn diện [9]. Nội dung các chỉ số sử dụng thuốc * Các chỉ số về kê đơn và các chỉ số sử dụng thuốc toàn diện: + Số thuốc kê trung bình (TB) trong một đơn: Mục đích: đo lường số lượng thuốc trong một đơn thuốc (các thuốc đa thành phần được tính là một, không liên quan đến thực tế người bệnh có dùng thuốc hay không). Cách tính: được tính bằng cách chia tổng số lượng thuốc trong số các đơn thuốc cho số đơn thuốc được khảo sát.
luan an 6 + Chi phí TB của mỗi đơn: Mục đích: để đo lường chi phí cho việc điều trị bằng thuốc. Cách tính: được tính bằng cách chia toàn bộ chi phí tiền của tất cả các thuốc đã kê đơn cho số đơn đã khảo sát. + Tỷ lệ các thuốc được kê theo tên generic hoặc tên chung quốc tế (ngoại trừ các thuốc nhiều thành phần có thể kê theo tên thương mại theo qui định của BYT): Mục đích: tìm xu thế kê đơn thuốc theo tên generic hoặc tên chung quốc tế (INN). Cách tính: tỷ lệ % này được tính bằng cách chia số các thuốc được kê theo tên generic cho tổng số các thuốc được kê, nhân với 100.
+ Tỷ lệ đơn kê có kháng sinh (KS) và tỷ lệ chi phí thuốc dành cho KS: Mục đích: đo lường mức độ sử dụng loại thuốc quan trọng nhưng đắt tiền và thường bị lạm dụng trong điều trị. Cách tính: tỷ lệ đơn kê có KS được tính bằng cách chia số các lần khám bệnh có kê KS cho số lần khám bệnh được khảo sát, nhân với 100 và tỷ lệ chi phí thuốc dành cho KS được tính bằng cách chia toàn bộ tiền của toàn bộ KS cho toàn bộ giá trị tiền của các đơn thuốc. + Tỷ lệ đơn kê có thuốc tiêm và tỷ lệ chi phí thuốc dành cho thuốc tiêm: Mục đích: đo lường mức độ sử dụng thuốc tiêm. Cách tính: tỷ lệ các đơn kê có thuốc tiêm được tính bằng cách chia số các đơn có kê thuốc tiêm cho số đơn được khảo sát, nhân với 100 và tỷ lệ chi phí thuốc dành cho thuốc tiêm được tính bằng cách chia giá trị tiền của toàn bộ thuốc tiêm cho toàn bộ giá trị tiền của các đơn thuốc.
+ Tỷ lệ các đơn kê có vitamin và tỷ lệ chi phí thuốc dành cho vitamin: Mục đích: đo lường mức độ sử dụng thuốc thường bị lạm dụng để luan an 7 làm vừa lòng người bệnh hoặc do tác động của nhà sản xuất, phân phối, thường dùng hỗ trợ điều trị, tác dụng không rõ ràng. Cách tính: tỷ lệ các đơn kê có vitamin được tính bằng cách chia số các đơn có kê vitamin cho số đơn được khảo sát, nhân với 100 và tỷ lệ chi phí thuốc dành cho vitamin được tính bằng cách chia giá trị tiền của toàn bộ vitamin cho toàn bộ giá trị tiền của các đơn thuốc. + Tỷ lệ các đơn kê có corticoid và tỷ lệ chi phí thuốc dành cho corticoid: Mục đích: đo lường mức độ sử dụng loại thuốc thường bị lạm dụng trong điều trị bằng thuốc. Cách tính: tỷ lệ các đơn kê có corticoid được tính bằng cách chia số đơn có kê corticoid cho số đơn được khảo sát, nhân với 100 và tỷ lệ chi phí thuốc dành cho corticoid được tính bằng cách chia giá trị tiền của toàn bộ corticoid cho toàn bộ giá trị tiền của các đơn thuốc.
+ Tỷ lệ các thuốc được kê đơn có trong danh mục thuốc thiết yếu (DMTTY) và danh mục thuốc chủ yếu (DMTCY) do BYT ban hành và tỷ lệ chi phí dành cho thuốc thiết yếu (TTY) và thuốc chủ yếu (TCY): dựa vào DMTTY tân dược, DMTTY đông dược lần VI năm 2013 và DMTCY do BYT ban hành năm 2005 [10], [11], [12]. Mục đích: đo lường mức độ kê đơn phù hợp với chính sách quốc gia về thuốc, được đánh giá từ DMTTY do BYT ban hành. Cách tính: được tính bằng cách tỷ lệ mỗi đơn thuốc có kê TTY/TCY chia tổng số đơn đã khảo sát, nhân với 100 và tỷ lệ chi phí tiền TTY/TCY được tính bằng cách chia giá trị tiền của toàn bộ TTY/TCY cho toàn bộ giá trị tiền của các đơn thuốc. + Tỷ lệ người bệnh hài lòng với dịch vụ chăm sóc sức khỏe: luan an 8 Sử dụng “Phiếu khảo sát ý kiến người bệnh ngoại trú” do BYT ban hành [13].
Trong phiếu khảo sát, có 5 thang đo gồm nhiều chỉ báo giúp phản ánh đúng độ tin cậy với đối tượng cần đo và dựa trên thang điểm Likert 5 là thang đo được sử dụng phổ biến nhất trong nghiên cứu định lượng. Bộ câu hỏi được trình bày tại phụ lục 2. Thang đo sự hài lòng của người bệnh gồm 5 yếu tố: Khả năng tiếp cận: khoảng cách từ nhà đến cơ sở cung cấp dịch vụ: địa điểm, vị trí, biển báo, chỉ dẫn giữa các khu vực; áp dụng công nghệ thông tin trong quảng bá dịch vụ; thời gian, thời điểm cung cấp dịch vụ; gồm 5 tiểu mục. Sự minh bạch thông tin và thủ tục khám bệnh, điều trị: niêm yết công khai hoặc có bộ phận hướng dẫn/chỉ dẫn các thông tin (sơ đồ các khoa phòng, các loại hình dịch vụ được cung cấp, các thủ tục giấy tờ có liên quan, quy trình khám chữa bệnh, thời gian thực hiện, giá dịch vụ.); áp dụng công nghệ thông tin trong giải quyết các thủ tục hành chính: công bố cơ chế tiếp nhận và xử lý thông tin phản hồi như đường dây nóng, hộp thư góp ý.